TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 4 (37) 2014 99
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
PHÁI SINH Ở NƯỚC TA
Thái Đắc Liệt
1
TÓM TẮT
Thị trường chứng khoán phái sinh là một sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển của
thị trường chứng khoán. Qua hơn 13 năm phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt
được một trình độ cao hơn nhiều so với trước đây, đến nay có thể nói thị trường chứng khoán
Việt Nam đã có đủ điều kiện để hình thành thị trường chứng khoán phái sinh. Thị trường chứng
khoán phái sinh ra đời, chắc chắn sẽ làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển ngày
càng tốt hơn, giúp cho các chủ đầu tư và công chúng đầu tư khắc phục được nhiều rủi ro khi
tham gia thị trường chứng khoán, nhờ đó ngày càng có nhiều công ty tham gia niêm yết trên thị
trường chứng khoán, số lượng các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng sẽ liên tục tăng lên qua
từng năm, thanh khoản trên thị trường sẽ phát triển ổn định và ngày càng cao hơn.
Mục tiêu của bài viết này nhằm đưa ra những kinh nghiệm thành công và không thành
công của một số nước trên thế giới khi tổ chức thực hiện thị trường chứng khoán phái sinh; Mặt
khác bài viết cũng đưa ra các điều kiện cần thiết và bắt buộc phải có khi thị trường chứng khoán
phái sinh ra đời; Bài viết cũng đã phân kỳ các bước thực hiện và lựa chọn sản phẩm phù hợp
cho từng giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh, một số giải pháp cụ thể
nhằm thực hiện có hiệu quả đối với thị trường chứng khoán phái sinh, giúp cho các chủ đầu tư
và công chúng đầu tư hiểu biết sâu hơn về thị trường chứng khoán phái sinh để từng bước chủ
động tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam.
Từ khóa: Chứng khoán phái sinh, Chủ đầu tư, Công chúng đầu tư.
ABSTRACT
Derivative market is an essential product for development of the stock market. After more
than 13 years of development, Viet Nam stock market has achieved a higher level than before,
and it now has enough conditions to form derivative market. The introduction of derivative
market surely will make Viet Nam’s stock market develop better, helping investors and public
đáng kể; Hai sở giao dịch chứng khoán đã
được thành lập, đó là Sở Giao dịch Chứng
khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSX) và Sở
Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), một
Trung tâm lưu ký chứng khoán đã ra đời, gần
89 công ty chứng khoán đang hoạt động và
hơn 700 công ty đã được niêm yết cổ phiếu và
chứng chỉ quỹ trên hai sàn giao dịch chứng
khoán Việt Nam. Đến năm 2013 chỉ tính riêng
tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh, giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu
đã đạt trên 32 tỷ đô la Mỹ, tương đương 25
phần trăm GDP của năm 2013, số lượng tài
khoản của các nhà đầu tư đạt trên 1,3 triệu tài
khoản giao dịch, trong đó nhà đầu tư nước
ngoài có khoảng 16.000 tài khoản, so với cuối
năm 2007 tổng số tài khoản giao dịch chứng
khoán đã tăng hơn 3,5 lần và số lượng tài
khoản của nhà đầu tư nước ngoài đã tăng gần
hai lần, chứng tỏ nhu cầu của các nhà đầu tư
chứng khoán đã có sự gia tăng đáng kể, giá trị
giao dịch hàng ngày của hai sàn trên thị trường
có lúc đạt trên 5000 tỷ đồng.
Trên thế giới thị trường chứng khoán
phái sinh đã có từ lâu, ở nước ta thị trường
chứng khoán phái sinh tuy chưa chính thức
được nhà nước công nhận về mặt pháp lý,
nhưng trên thực tế nó đã được hình thành và
phát triển ở trình độ ban đầu trên thị trường
chứng khoán phi tập trung. Hiện nay ở nước ta
cao thêm trình độ và kiến thức để phát triển thị
trường chứng khoán phái sinh sau này.
Quá trình nghiên cứu thị trường chứng
khoán phái sinh, tác giả đã tập trung nghiên
cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,…Mặt
khác, tác giả cũng đã tìm hiểu và phân tích
tương đối rõ nét về các loại hình chứng khoán
phái sinh đã tồn tại trên thị trường chứng
khoán Việt nam từ năm 2007 đến năm 2010.
Qua đó, phân tích, đánh giá đúng mức về ưu
nhược điểm của quá trình hình thành và phát
triển thị trường chứng khoán phái sinh, từ đó
khẳng định rằng đã đến lúc thị trường chứng
khoán Việt Nam phải thừa nhận thị trường
chứng khoán phái sinh và xem nó như một
công cụ cần thiết nhằm đa dạng hóa các sản
phẩm cho thị trường, nâng cao thêm về chất
cho thị trường chứng khoán Việt Nam, tạo
điều kiện thuận lợi cho thị trường chứng khoán
Việt Nam phát triển mạnh hơn trong những
năm sắp tới.
2. Lịch sử hình thành và phát triển
của thị trường chứng khoán phái sinh
Thị trường chứng khoán phái sinh là một
định chế tài chính bậc cao, nó được bắt đầu từ
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 4 (37) 2014 101
thị trường nông sản phẩm. Những năm mưa
thuận, gió hòa nông sản phẩm trúng mùa, giá
mua bán nông sản phẩm kỳ hạn và hàng nông
sản phẩm được giao dịch theo phương thức
đấu giá tập trung, các hợp đồng mua bán kỳ
hạn được cam kết thực hiện, người nắm hợp
đồng mua có quyền và nghĩa vụ phải mua,
người nắm hợp đồng bán có quyền và nghĩa vụ
phải bán. Nhưng với cơ chế hợp đồng kỳ hạn,
khi đến thời điểm giao nhận hàng nếu giá cả
sản phẩm tăng cao hơn so với giá đã ghi trong
hợp đồng thì người mua sản phẩm có lời và
người bán sản phẩm bị thiệt; Ngược lại, nếu
đến thời điểm giao nhận hàng hóa, giá cả sản
phẩm thấp hơn so với giá cả đã ghi trong hợp
đồng thì người mua sản phẩm bị thiệt và người
bán sản phẩm có lời.
Để khắc phục nhược điểm này, năm
1864 Hoa Kỳ đã có một bước phát triển đáng
kể trong việc chuyển hợp đồng kỳ hạn thành
hợp đồng tương lai. Hợp đồng tương lai đã
làm thay đổi căn bản hợp đồng kỳ hạn, khắc
phục được những nhược điểm cơ bản của hợp
đồng kỳ hạn, người sở hữu hợp đồng tương lai
có thể kết thúc vị thế của hợp đồng trước thời
hạn và giá trị bắt buộc phải thực hiện của hợp
đồng ở thời điểm đã quy định trong hợp đồng
không còn giá trị. Hợp đồng tương lai được
giao dịch mua đi bán lại trên thị trường thứ cấp
như là chứng khoán phái sinh.
Sự ra đời của hợp đồng tương lai đã làm
thay đổi cơ bản về bản chất của hợp đồng kỳ
Ở Nhật Bản, thị trường chứng khoán
phái sinh phát triển đạt ở trình độ rất cao, sở
giao dịch chứng khoán Tokyo (TSE) có hai
sản phẩm chứng khoán phái sinh, đó là chỉ số
chứng khoán TOPIX và quyền chọn hợp đồng
tương lai trái phiếu chính phủ, hai sản phẩm
chứng khoán phái sinh này đạt mức tăng
102 TRAO ĐỔI HỌC THUẬT
trưởng rất cao, chiếm tỷ trọng trên 90 phần
trăm khối lượng giao dịch trên toàn thị trường.
Hàn Quốc là một trong những nước có
thị trường chứng khoán phái sinh phát triển
nhất trên thế giới, ba sản phẩm giao dịch thành
công nhất của thị trường chứng khoán phái
sinh Hàn Quốc là chỉ số KOSPI 200 (1996),
hợp đồng quyền chọn chỉ số KOSPI 200
(1997) và hợp đồng giao sau trái phiếu KTB 3
năm (1999). Tính đến năm 2011 hợp đồng
giao dịch quyền chọn KOSPI 200 đạt trên 3,6
tỉ hợp đồng, giá trị giao dịch đạt trên 436 tỉ đô
la Mỹ. Nếu tính về số lượng hợp đồng chứng
khoán phái sinh, Hàn Quốc đứng thứ
nhất trong 10 sở giao dịch chứng khoán trên
thế giới.
Ở Ấn Độ, thị trường chứng khoán phái
sinh đã được nghiên cứu từ năm 1996, nhưng
đến năm 1998 Hội đồng nghiên cứu thị trường
chứng khoán phái sinh mới đưa ra được một
bản báo cáo bao gồm những đề xuất và khuyến
trường chứng khoán phái sinh chủ yếu, đó là
hợp đồng phái sinh cổ phiếu, hợp đồng phái
sinh hàng hóa, hợp đồng phái sinh lãi suất và
hợp đồng phái sinh ngoại hối. Các sản phẩm
phái sinh tài chính tại thị trường chứng khoán
Singapore là hợp đồng tương lai chỉ số
NIKKE, hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu
MSCI Đài Loan, hợp đồng tương lai chỉ số cổ
phiếu MSCI Singapore và quyền chọn cổ
phiếu (structured Warrant). Singapore hiện
đứng trong nhóm 10 thị trường giao dịch hợp
đồng tương lai chỉ số cổ phiếu lớn nhất trên
thế giới.
Lịch sử hình thành và phát triển thị
trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam:
Tại Việt Nam, các công cụ phái sinh có
nguồn gốc từ hàng hóa, tiền tệ và chứng khoán
đã được sử dụng từ nhiều năm nay.
Phái sinh hàng hóa được quản lý và điều
hành bởi Bộ công thương, đối với các sản
phẩm cơ bản như gạo, cà phê, cao su, thép đã
được các doanh nghiệp trong nước sử dụng
nhiều trên các sở giao dịch phái sinh nước
ngoài dưới dạng giao dịch theo hợp đồng kỳ
hạn và hợp đồng tương lai. Ở trong nước thì có
ba sàn giao dịch hàng hóa là trung tâm giao
dịch cà phê Buôn Mê Thuộc, sở giao dịch
hàng hóa Việt Nam và Sàn Giao dịch Sài Gòn
Thương Tín. Đến năm 2006 thì trung tâm giao
dịch cà phê Buôn Mê Thuộc được thành lập,
và cung cấp các sản phẩm phái sinh về tiền tệ
cho giới đầu tư. Năm 1999 Ngân hàng Nhà
nước có quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN 7
quy định giao dịch kỳ hạn với tư cách là công
cụ tài chính phái sinh đầu tiên của Việt Nam,
tuy nhiên mức độ giao dịch của công cụ này
chỉ chiếm từ 5 – 7 phần trăm khối lượng giao
dịch của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Sau này các công cụ phái sinh về lãi suất và tỷ
giá tiếp tục xuất hiện và được các Ngân hàng
Thương Mại sử dụng nhiều hơn nhằm đáp ứng
yêu cầu biến động của tỷ giá và lãi suất trên thị
trường tiền tệ.
Thị trường chứng khoán chịu sự quản lý
của Bộ tài chính mà trực tiếp là Ủy ban Chứng
Khoán Nhà Nước. Mặc dù thị trường chứng
khoán đã ra đời cách đây hơn 13 năm, nhưng
các chủ trương của nhà nước về quản lý thị
trường chứng khoán phái sinh chỉ dừng lại ở
mức độ chung nhất. Ngày 01/03/2012, Thủ
tướng chính phủ có quyết định số 252/QĐ-
TTg phê duyệt đề án phát triển thị trường
chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020,
trong đó có đoạn viết như sau: “Xây dựng và
phát triển thị trường chứng khoán phái sinh
được chuẩn hóa theo hướng phát triển các
công cụ từ giản đơn đến phức tạp; Về dài hạn
cần thống nhất hoạt động thị trường chứng
khoán phái sinh có công cụ gốc là chứng
khoán, hàng hóa và tiền tệ,”. Từ đó đến nay
đồng hợp tác đầu tư trên 20 triệu cổ phiếu có
tính thanh khoản cao trên Sở Giao dịch Chứng
khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao
dịch Chứng khoán Hà Nội. Tham gia hợp đồng
hợp tác đầu tư này nhà đầu tư có thể giao dịch
quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán cổ
phiếu tùy theo sự biến động của giá cổ phiếu
trên thị trường.
Đầu năm 2010 công ty vàng Thế Giới đã
giới thiệu cho các nhà đầu tư kinh doanh sản
phẩm chỉ số VTG – VN INDEX dưới dạng
hợp đồng tương lai chỉ số. Ví dụ: chỉ số VN
INDEX ngày 01/04/2010 là 510 (hệ số
10.000), đến ngày 01/05/2010 chỉ số VN
INDEX là 540. Như vậy, nếu một nhà đầu tư
sở hữu một đơn vị VTG – INDEX vào ngày
01/04/2010 sẽ có 5,1 triệu đồng, đến ngày
01/05/2010 giá trị của nhà đầu tư đó có được
là 5,4 triệu đồng, nhà đầu tư lãi được 300.000
đồng.
Tuy nhiên, sau khi triển khai mô hình
này được một thời gian, các giao dịch chứng
khoán phái sinh này gặp phải một số vướng
mắc như các văn bản pháp lý, trung tâm thanh
toán bù trừ chưa được triển khai thực
104 TRAO ĐỔI HỌC THUẬT
hiện,…Do đó, Ủy Ban chứng khoán Nhà nước
đã có văn bản yêu cầu công ty chứng khoán
VN-DIRECT và công ty vàng Thế Giới ngừng
khoán phái sinh nói trên cần phải đảm bảo các
yêu cầu và điều kiện như sau:
Yêu cầu:
- Thị trường chứng khoán phái sinh phải
được xây dựng trên cơ sở thống nhất chặt chẽ
với sự phát triển của thị trường chứng khoán
cơ sở. Do đó khi triển khai xây dựng thị
trường chứng khoán phái sinh phải gắn chặt
với việc tái cấu trúc thị trường theo mô hình
hợp nhất hai sở giao dịch hiện có thành một sở
giao dịch chứng khoán Việt Nam, sàn giao
dịch chứng khoán phái sinh sẽ là một trong ba
sàn của sở giao dịch chứng khoán Việt Nam,
sàn giao dịch chứng khoán phái sinh sẽ được
tổ chức vận hành cùng lúc với hai sàn cổ phiếu
và trái phiếu. Hệ thống giao dịch đối với
chứng khoán phái sinh sẽ được tổ chức gần
giống với hệ thống giao dịch trên thị trường cổ
phiếu. Hai hệ thống giao dịch này sẽ được kết
nối với nhau nhằm đảm bảo thị trường vận
hành trôi chảy, có đủ sức phòng ngừa các giao
dịch thâu tóm và làm giá giữa hai thị trường.
- Thị trường chứng khoán phái sinh phải
đảm bảo tính công khai minh bạch và công
bằng cho tất cả các nhà đầu tư, đặc biệt phải có
nhiều biện pháp để bảo vệ cho các nhà đầu tư
nhỏ, tránh tình trạng thao túng và lũng đoạn
của các nhà đầu tư lớn; Tăng cường khuyến
khích các nhà đầu tư tham gia thị trường với
nhiều chính sách ưu đãi đầu tư, tạo điều kiện
chưa thể triển khai thực hiện. Hiện nay Bộ Tài
chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đang
xây dựng dự thảo Nghị định hướng dẫn riêng
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 4 (37) 2014 105
về chứng khoán phái sinh và thị trường chứng
khoán phái sinh trình chính phủ ban hành
trong năm 2014. Trên cơ sở hướng dẫn của
Nghị định này, Sở Giao dịch chứng khoán Việt
Nam (được sáp nhập từ hai sở giao dịch chứng
khoán hiện nay) và trung tâm lưu ký chứng
khoán Việt Nam sẽ tiến hành xây dựng các
quy chế hướng dẫn về việc giao dịch và thanh
toán bù trừ cho các chứng khoán phái sinh. Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước sẽ nghiên cứu và
trình Bộ Tài Chính các quy định về tổ chức bộ
máy điều hành chứng khoán phái sinh, về hoạt
động của các đối tượng tham gia hành nghề
chứng khoán phái sinh, hướng dẫn việc công
bố thông tin, các quy định về thuế, phí trên thị
trường chứng khoán phái sinh nhằm đảm bảo
một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ giúp
cho thị trường chứng khoán phái sinh nói riêng
và thị trường chứng khoán nói chung vận hành
có hiệu quả và ổn định.
Điều kiện về cơ sở hạ tầng:
Việc giao dịch chứng khoán phái sinh
đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện
đại, nhất là đối với cơ sở hạ tầng công nghệ
thông tin, chỉ có cơ sở hạ tầng công nghệ
Hiện nay tại nhiều quốc gia trên thế giới,
bộ phận thanh toán và thanh toán bù trừ chứng
khoán và chứng khoán phái sinh thường được
tổ chức trực thuộc sở giao dịch chứng khoán
như mô hình của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài
Loan, Singapore,… nhưng ở Việt Nam luật
chứng khoán đã trao quyền thanh toán bù trừ
chứng khoán và chứng khoán phái sinh cho
Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt nam, đây
là đơn vị duy nhất được tổ chức thực hiện chức
năng đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán
chứng khoán và chứng khoán phái sinh cho
toàn thị trường.
Điều kiện về sản phẩm giao dịch:
Chứng khoán phái sinh chuẩn hóa sẽ là
các hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền
chọn được giao dịch tập trung trên sàn chứng
khoán Việt Nam. Các loại tài sản cơ sở cho
các chứng khoán phái sinh này có thể là cổ
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư hoặc
chỉ số chứng khoán. Tuy nhiên, không phải bất
cứ loại chứng khoán nào cũng được lựa chọn
để làm tài sản cơ sở cho chứng khoán phái
sinh, kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy,
muốn cho thị trường chứng khoán phái sinh
đạt kết quả tốt thì tài sản cơ sở của các loại
chứng khoán phái sinh phải có tính thanh
khoản cao, có quy mô vốn hóa thị trường lớn,
có cơ chế pháp lý rõ ràng, có đủ thông tin để
cung cấp cho các thành viên trên thị trường.
xuất đối với hợp đồng tương lai trái phiếu
chính phủ. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho
rằng tính thanh khoản của loại trái phiếu này
chưa đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư trong và
ngoài nước, các thành viên tham gia đầu tư trái
phiếu chính phủ chủ yếu là các Ngân hàng
Thương mại và các tổ chức tài chính, chỉ có 18
thành viên giao dịch đã chiếm tới 90 phần trăm
khối lượng giao dịch của thị trường trái phiếu
chính phủ; mặt khác trái phiếu chính phủ
thường được giao dịch với các lô lớn, do đó
nếu chọn trái phiếu chính phủ để làm tài sản
cơ sở cho chứng khoán phái sinh sẽ làm cho
những nhà đầu tư trung bình và nhỏ lẻ có
những khó khăn nhất định. Tuy nhiên, việc
chọn trái phiếu chính phủ để làm tài sản cơ sở
cho chứng khoán phái sinh có thể được áp
dụng cho các giai đoạn tiếp theo của quá trình
triển khai thực hiện chứng khoán phái sinh.
Chứng khoán phái sinh dựa trên chỉ số
đã được nhiều nước Châu Á áp dụng thành
công như Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,
Ấn Độ, Thái Lan. Các quốc gia này đã chọn
hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn
trên chỉ số chứng khoán và xem nó như là sản
phẩm đầu tư của chứng khoán phái sinh, họ đã
gặt hái được nhiều thành công đáng kể. Hiện
nay Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh đã cho ra đời bộ chỉ số VN-30 và Sở
Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã cho ra đời
điểm của sự biến động giá đối với từng mặt
hàng, giúp nhà đầu tư phân tích và đánh giá thị
trường thuận lợi hơn. Có thể nói đây là bước
tiến quan trọng và thuận lợi nhất để lựa chọn
tài sản cơ sở cho chứng khoán phái sinh trong
thời gian sắp tới.
Về lộ trình phát triển sản phẩm chứng
khoán phái sinh có thể chia ra làm các giai
đoạn sau đây:
- Giai đoạn 1: Hợp đồng tương lai chỉ số
chứng khoán.
- Giai đoạn 2: Hợp đồng quyền chọn chỉ
số chứng khoán và hợp đồng tương lai trái
phiếu chính phủ.
- Giai đoạn 3: Hợp đồng tương lai và
hợp đồng quyền chọn trên cổ phiếu.
- Giai đoạn 4: Hợp đồng tương lai và
hợp đồng quyền chọn trên lãi suất, tỷ giá, vàng
và hàng hóa.
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 4 (37) 2014 107
Như vậy, so với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ
và trái phiếu chính phủ thì chỉ số chứng khoán
có thể xem là loại hàng hóa phù hợp nhất cho
thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam
trong giai đoạn đầu phát triển. Hiện nay, Ủy
ban Chứng khoán Nhà Nước đang chỉ đạo các
cơ quan trực thuộc triển khai và hoàn thiện dần
các bộ chỉ số chứng khoán nhằm phục vụ cho
công chúng đầu tư một cách hiệu quả nhất.
học và hiệu quả nhất. Muốn vậy Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước mà nòng cốt là Trung
Tâm Nghiên cứu và Đào tạo chứng khoán, các
vụ, viện trực thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước, Sở Giao dịch Chứng khoán và Trung
tâm lưu ký chứng khoán phải có chương trình,
kế hoạch đào tạo cụ thể đối với từng đối tượng
có liên quan. Các cơ quan ngôn luận, truyền
thông, báo chí có chức năng về thị trường
chứng khoán như tạp chí Đầu Tư chứng
khoán, Đài phát thanh truyền hình Trung ương
và địa phương cũng cần có nhiều hình thức
tuyên truyền về chứng khoán phái sinh một
cách sâu rộng vả chủ động để cộng đồng dân
cư hiểu biết ngày càng nhiều hơn và sâu hơn
về thị trường chứng khoán phái sinh.
Mô hình giao dịch và thanh toán bù
trừ chứng khoán phái sinh:
Để thị trường chứng khoán phái sinh vận
hành thành công trên thị trường chứng khoán
Việt Nam, cần tiến hành xây dựng mô hình
giao dịch và thanh toán bù trừ chứng khoán
phái sinh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế
thị trường. Muốn vậy, cơ quan có chức năng
quản lý thị trường chứng khoán phải có sự chỉ
đạo tập trung, xây dựng đầy đủ cơ chế chính
sách cho thị trường chứng khoán phái sinh, các
thành viên tham gia thị trường phải có sự
chuẩn bị thật kỹ càng đối với từng phần công
việc của mình, đồng thời cũng phải tiến hành
đồng. Bộ phận thanh toán bù trừ của trung tâm
lưu ký chứng khoán sẽ đóng vai trò là người
bán của mọi người mua và người mua của mọi
người bán; Mọi rủi ro trong thanh toán bù trừ
sẽ được đảm bảo bởi trung tâm lưu ký chứng
khoán Viêt Nam.Với cơ chế ký quỹ chặt chẽ
đối với các thành viên tham gia thị trường, hệ
thống thanh toán bù trừ sẽ khắc phục được mọi
rủi ro có thể xảy ra. Do đó, đây sẽ là bộ phận
rất quan trọng của quá trình giao dịch chứng
khoán phái sinh, nếu tổ chức tốt bộ phận này
sẽ tạo được lòng tin rất lớn đối với các nhà đầu
tư, hạn chế đến mức tối đa các tranh chấp phải
xử lý trong quá trình giao dịch chứng khoán
phái sinh.
Các công ty chứng khoán phải được Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép hoạt
động chứng khoán phái sinh. Hiện tại có
khoảng 80 công ty chứng khoán đang chính
thức hoạt động trên thị trường, nhưng chỉ với
12 công ty chứng khoán tốp đầu đã chiếm đến
hơn 50 phần trăm giá trị giao dịch trên thị
trường. Do đó, số lượng công ty chứng khoán
giao dịch trên thị trường chứng khoán phái
sinh được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp
phép sẽ không nhiều, có thể từ 20 – 30 công ty
chứng khoán sẽ được giao dịch trên thị trường
chứng khoán phái sinh sau này. Các công ty
chứng khoán là người đứng sau các giao dịch
của khách hàng, do đó các công ty chứng
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 4 (37) 2014 109
1. Nhà đầu tư đặt lệnh mua hoặc lệnh bán chứng khoán phái sinh
2. Công ty chứng khoán nhận lệnh mua hoặc lệnh bán từ nhà đầu tư, sau đó kiểm tra ký quỹ rồi gửi
lệnh đến Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam.
3. Hệ thống giao dịch khớp lệnh hoặc không khớp lệnh giao dịch.
4. Sở giao dịch gửi lệnh khớp hoặc không khớp đến công ty chứng khoán, sở giao dịch gửi lệnh đã
khớp cho trung tâm lưu ký chứng khoán để thanh toán bù trừ cho người mua và người bán chứng
khoán.
5. Công ty chứng khoán báo kết quả lệnh khớp hoặc không khớp cho nhà đầu tư.
6. Trung tâm lưu ký chứng khoán thông báo kết quả thanh toán bù trừ cho công ty chứng khoán.
7. Công ty chứng khoán thông báo kết quả thanh toán bù trừ cho nhà đầu tư.
Có thể nói đây là mô hình giao dịch
chứng khoán phái sinh tương đối phù hợp với
giai đoạn đầu phát triển của thị trường chứng
khoán Việt nam. Do đó, ngay từ bây giờ chúng
ta phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về pháp
lý, về đào tạo, về cơ sở hạ tầng công nghệ
thông tin, về lựa chọn sản phẩm cơ sở cho
chứng khoán phái sinh để thị trường chứng
khoán phái sinh có thể ra đời chậm nhất vào
năm 2015.
4. Kết luận
Thị trường chứng khoán là một bộ phận
quan trọng của thị trường tài chính, do đó tái
cơ cấu thị trường chứng khoán cũng nhằm
mục tiêu tái cơ cấu đối với thị trường tài chính.
Hàng hóa trên thị trường chứng khoán bao
gồm cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán phái
giao dịch chứng khoán phái sinh, phần lớn các
công ty và nhà đầu tư khi giao dịch chứng
khoán phái sinh trên thị trường phi tập trung
đều thiếu thông tin và thiếu những quy định
pháp lý cần thiết từ phía các cơ quan chức
năng của Nhà nước. Các bên tham gia giao
dịch chứng khoán phái sinh trên thị trường phi
tập trung thường không thể dự báo được hết
các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình giao
dịch do lượng thông tin được cung cấp cho thị
trường này thường không đầy đủ và thiếu
minh bạch nên hạn chế rất lớn đối với chứng
khoán phái sinh trên thị trường phi tập trung,
điều này cũng làm giảm đi tính thanh khoản
rất đáng kể trên thị trường, mặt khác nó cũng
làm cho quá trình giám sát đối với giao dịch
chứng khoán phái sinh trở nên khó khăn hơn
rất nhiều.
110 TRAO ĐỔI HỌC THUẬT
Trên thị trường chứng khoán phái sinh
phi tập trung do những điều kiện cần và đủ cho
thị trường chưa được chuẩn bị đầy đủ nên chỉ
cần một bên tham gia không thực hiện hợp
đồng thì bên còn lại của hợp đồng sẽ gặp rất
nhiều khó khăn và tốn kém trong quá trình
thanh toán và xử lý hợp đồng, đối với những
hợp đồng phái sinh có quy mô lớn về số lượng
và giá trị thì mức thiệt hại sẽ càng lớn hơn và
quá trình thanh toán, xử lý hợp đồng sẽ trở nên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Sơn 2013, Xây dựng thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam 2013, Tài liệu Hội
thảo Khoa học phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam.
2. Bùi Nguyên Hoàn 2013, Thị trường chứng khoán phái sinh một định chế tài chính của nền
kinh tế, Tài liệu Hội thảo Khoa học phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam.
3. Trầm Tuấn Vũ 2013, Phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam, kinh nghiệm
quốc tế và công tác chuẩn bị, Tài liệu Hội thảo Khoa học phát triển thị trường chứng khoán
phái sinh tại Việt Nam.
4. Phạm Thanh Nhật 2013, Thị trường chứng khoán phái sinh của các nước và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam, Tài liệu Hội thảo Khoa học phát triển thị trường chứng khoán phái sinh
tại Việt Nam.
5. Lê Nhị Năng 2013, Về khung pháp lý cho hoạt động của thị trường chứng khoán phái sinh tại
Việt Nam, Tài liệu Hội thảo Khoa học phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt
Nam.