Công ty hợp danh, thực trạng, giải pháp và kiến nghị
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. SỰ HÌNH THÀNH CÔNG TY HỢP DANH:
Công ty Hợp Danh (CTHD) là một trong những hình thức công ty ra đời sớm
nhất trong lịch sử hình thành công ty. Khái niệm về “hợp danh” bắt đầu xuất hiện
và tồn tại từ khi con người bắt đầu hợp tác với nhau. Khái niệm hợp danh xuất hiện
từ thời Babylone, Hy Lạp và La Mã cổ đại. Đạo Luật Hammurabi năm 2300 (TCN)
cũng đã có chế định về hình thức hợp danh. Khái niệm hợp danh theo Đạo Luật
Justinian của đế chế La Mã cổ đại vào thế kỷ VI, xét về bản chất không có sự khác
biệt trong pháp luật hiện nay. Sau đó, đến các thời kì Trung đại, đến cuối thế kỉ
XVII, rồi ở Thụy Điển, dần dần hình thành hình thức “hợp danh” rõ ràng hơn. Năm
1776, Mỹ giành được độc lập và áp dụng hệ thống luật thông lệ của Anh. Từ đó, luật
pháp về CTHD bắt đầu được áp dụng ở Mỹ. Đến đầu thế kỷ XIX, CTHD trở thành loại
hình kinh doanh quan trọng nhất ở Mỹ. Ngày nay, hệ thống pháp luật thông lệ điều
chỉnh, CTHD được thay thế bằng đạo luật CTHD hay còn gọi là Luật thống nhất về
CTHD (Uniform Partnership). Thêm nữa, CTHD được hình thành và phát triển từ
những nguyên tắc của chế định đại diện (agency) xuất phát từ những đòi hỏi của
nền kinh tế thị trường về liên kết kinh doanh; tập trung và tích tụ tư bản ở những
mức độ và dưới những dạng thức khác nhau.
Tại Việt Nam thì ngược lại. Loại hình công ty này ra đời muộn do điều kiện kinh tế,
lịch sử, xã hội…Vốn là 1 nước trọng về nông nghiệp nên trước kia không coi trọng
hoạt động thương mại và sau đó lại trải qua một thời gian dài thực hiện kinh tế tập
thể. Cuối thế kỷ XIX, Pháp áp dụng 3 Bộ Luật: Dân Luật Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ
vào Việt Nam cho nên xuất hiện các hình thức Doanh Nghiệp tư nhân, công ty
Trách nhiệm hữu hạn và hình thức, khái niệm CTHD đã bắt đầu xuất hiện ở Việt
Nam với hình thức Hội buôn. Năm 1954, trước Nghị quyết Đại hội lần VI của Đảng,
miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo thì các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh không được thừa nhận. Pháp luật về công ty nói chung và CTHD
+ CTHD đơn thường: là loại hình công ty mà ở đó tất cả các thành viên cùng chịu
trách nhiệm vô hạn đối với tất cả các nghĩa vụ của công ty hợp danh.
Công ty hợp danh, thực trạng, giải pháp và kiến nghị
+ CTHD hữu hạn: 1 hoặc nhiều thành viên có trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn
góp mà họ cam kết riêng rẽ đóng góp vào CTHD và 1 hay nhiều thành viên cùng
nhau có trách nhiệm vô hạn đối với tất cả nghĩa vụ của CTHD.
* Như vậy, về bản chất: – Công ty hợp danh không có sự tách bạch về tài sản công ty
đối với các thành viên hợp danh (TVHD), TVHD chịu trách nhiệm vô hạn (TNVH)
đối với các nghĩa vụ của công ty. Đây là đặc trưng cơ bản của CTHD.
- Các thành viên đều trở thành đồng sở hữu trong công ty và họ có quyền quyết
định ngang nhau trong quá trình quản lý, điều hành công ty mà không tính đến
phần vốn góp vào công ty nhiều hay ít.
- Các thành viên trong CTHD phải có tư cách thương gia vì các thành viên này là
đồng sở hữu, cùng nhau trực tiếp thực hiện việc quản lý điều hành công ty, đặc biệt
là họ cùng nhau chịu trách nhiệm vô hạn về nghĩa vụ của công ty nên phải có hiểu
biết sâu sắc và kinh nghiệm kinh doanh để giảm thiểu triệt để những rủi ro trong
kinh doanh (pháp luật Pháp).
2. Theo Pháp luật Việt Nam:
Theo Điều 130 Luật doanh nghiệp (DN) Việt nam 2005 thì công ty hợp danh
(Partnership Co.) là doanh nghiệp, trong đó:
- Phải có ít nhất 2 thành viên là chủ sỡ hữu chung của công ty, cùng nhau kinh
nhóm người, một hội, không phải là loại hình công ti như quy định của Việt Nam (ví
dụ
như
ở
Trung
Quốc,
nước
này
tách
bạch
giữa
partnership
và
company/corporation; Luật công ti ngày 27/10/2005 chỉ điều chỉnh công ti TNHH
và Công ti CP; quy định về hợp danh được điều chỉnh bởi các nguyên tắc của dân
luật và quyền giải thích của tòa án). Ngoài ra các nước khác như pháp luật theo
truyền thống Châu Âu – lục địa còn có loại hình hợp danh cổ phần.
huy các nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế. Không chỉ đơn thuần tăng khả năng
đầu tư vốn mà cả các nguồn lực khác đặc biệt là khả năng hành nghề và khai thác
trí tuệ, tạo ra các đảm bảo pháp lý cao hơn trong thị trường cũng như đối với xã
hội do chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh
Công ty hợp danh, thực trạng, giải pháp và kiến nghị
.
Phần II: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY
HỢP DANH
I. THÀNH LẬP CÔNG TY HỢP DANH:
CTHD được thành lập và bắt đầu cuộc sống của nó với tư cách là một pháp nhân
độc lập sau khi được cấp giấy chứng nhận ĐKKD (K2 – Điều 130 – Luật DN 2005).
Luật Việt Nam nhấn mạnh ý nghĩa của hành vi ĐKKD. Trong khi đó, luật lệ nhiều
nước lại xem hợp danh như khế ước, bởi vậy hợp danh có thể được thành lập thông
qua thỏa thuận, ĐKKD đôi khi chỉ có ý nghĩa công khai hóa. Lý do của vấn đề này có
thể luận giải như sau: vì hợp danh trước hết là liên kết của 2 hay nhiều người, luật
pháp các nước thường đề cao thỏa thuận giữa các thành viên. Hợp danh về nguyên
tắc được thiết lập nếu các thành viên đã thỏa thuận cách thức hùn vốn, tạo tài sản
chung, chia quyền điều hành và lỗ, lãi. Nói cách khác, khế ước giữa các bên đã xác
lập nên hợp danh chứ không phải giấy chứng nhận của cơ quan ĐKKD.
Mặc dù vậy, thỏa thuận thành lập hợp danh cũng rất quan trọng theo pháp luật
Việt Nam. Nội dung các thỏa thuận này được ghi nhận trong điều lệ công ti hợp
danh và giấy đề nghị ĐKKD (điều 17, 21, 22 Luật DN). Người làm luật đã phác thảo
16 nội dung chính của bản điều lệ, dựa vào đó các sáng lập viên CTHD có thể thỏa
Như đã nói ở trên, công ty HD bắt buộc phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh, phải
là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp. Bên cạnh đó, TVHD chính
là người trực tiếp thành lập và quản lý CTHD nên muốn trở thành TVHD, họ không
được thuộc những đối tượng quy định tại điều 13 LDN 2005 (cán bộ, công chức,
người chưa thành niên…).
Trách nhiệm tài sản của các thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ của công ty
là trách nhiệm vô hạn và liên đới (Jointly and serverally). Chủ nợ có quyền yêu cầu
Công ty hợp danh, thực trạng, giải pháp và kiến nghị
bất kì thành viên hợp danh nào thanh toán các khoản nợ của công ti đối với chủ nợ.
Mặt khác thành viên hợp danh phải phải bằng toàn bộ tài sản của mình (tài sản
đầu tư vào kinh doanh và tài sản dân sự) chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của
công ty. Thành viên hợp danh là người quyết định sự tồn tại và phát triển của của
công ti về cả mặt pháp lí và thực tế. Trong quá trình hoạt động, các TVHD được
hưởng những quyền cơ bản, quan trọng của thành viên công ti đồng thời phải thực
hiện những nghĩa vụ tương xứng để bảo vệ quyền lợi của công ti và những người
liên quan. Các quyền và nghĩa vụ của TVHD được quy định trong Luật DN và điều lệ
công
ti.
TVHD có toàn quyền trong việc thảo luận và biểu quyết tất cả các công việc của
công ti, được trực tiếp tham gia quản lý hoạt động kinh doanh, sử dụng tài sản của
công ty để phục vụ lợi ích cho công ti và được hoàn trả lại mọi chi phí đã thực hiện
để phục vụ cho lợi ích đó. Về trách nhiệm tài sản, TVHD phải chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty, khi công ti kinh doanh thua lỗ
- Tự nguyên rút khỏi công ti hay bị khai trừ ra khỏi công ti. Trong thời hạn 2 năm
kể từ khi chấm dứt tư cách TVHD trong trường hợp này, TVHD vẫn phải chịu liên
đới trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ti đã phát sinh trước khi đăng ký việc
chấm dứt tư cách thành viên đó với cơ quan đăng ký kinh doanh.
2. Thành viên góp vốn:
Nếu TVHD chỉ là có thể là cá nhân thì thành viên góp vốn (TVGV) có thể là cá nhân
hoặc tổ chức, ví dụ các công ty hay thực thể có tư cách pháp nhân. TVGV chịu trách
nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của CTHD trong phạm vi số vốn (đã cam kết) góp
vào công ty (theo điểm c khoản 1 điều 130 và điểm a khoản 2 điều 140 LDN). Ngoài
quyền được hưởng lợi tức hàng năm (nếu công ti có lãi), được cung cấp báo cáo tài
chính của công ti hàng năm…, TVGV có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của
mình cho người khác (khoản 1 điều 140 LDN). Luật không quy định việc chuyển
nhượng này phải được hội đồng thành viên chấp thuận. Tuy không có quyền nhân
danh công ti và quản lí công ti như các TVHD những TVGV cũng có quyền dự hợp,
thảo luận và biểu quyết tại hội đồng thành viên về các sửa đổi điều lệ công ti có thể
liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ (điểm b khoản 2 điều 140, điểm a
khoản 1 điều 140 LDN 2005). Họ có quyền quản lí công ti nếu điều lệ công ti có quy
định.
Với những đặc điểm về TVGV trên, nếu có vốn và muốn đầu tư kinh doanh nhưng lại
Công ty hợp danh, thực trạng, giải pháp và kiến nghị
không có thời gian tham gia vào quản lí doanh nghiệp hoặc không có chuyên môn
trong lĩnh vực đầu tư, các nhà đầu tư có thể góp vốn vào CTHD làm TVGV hay nhận
chuyển nhượng phần vốn góp từ thành viên góp vốn khác trong công ti HD. Tuy
nhiên, do mô hình này mới được quy định nên còn khá mới lạ và cũng chưa được sự
quan tâm của các nhà đầu tư, do vậy cần có một hệ thống pháp luật chặt chẽ và sự
tuyên truyền rộng rãi để khuyến khích và tạo sự yên tâm khi kinh doanh nơi các
Các thành viên công ti phải thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn đủ và đúng hạn. Nếu
vi phạm, số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đối với công ti.
Nếu vi phạm đó mà gây thiệt hại cho công ti thì thành viên hợp danh có nghĩa vụ
bồi thường thiệt hại cho công ti, TVGV có thể bị khai trừ khỏi công ti.
2. Phần vốn góp:
Sau khi góp vốn, thành viên mất đi quyền sở hữu đối với tài sản đã góp và nhận lại
được quyền lợi từ công ti. Quyền tài sản ấy được coi là phần vốn góp trong công ti,
thường được thể hiện bằng một tỉ lệ nhất định. CTHD có thể cấp giấy chứng nhận
phần vốn góp cho các thành viên đã thực hiện nghĩa vụ góp vốn; giấy này có thể
được công ti cấp lại theo yêu cầu của thành viên và cần có nội dung tối thiểu theo
luật định (khoản 4 điều 131 LDN).
IV. CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM TRONG CÔNG TY HỢP DANH:
Nếu như Luật DN 1999 không quy định CTHD có tư cách pháp nhân thì đến Luật
DN 2005, các nhà làm luật đã quy định điều này. Với tư cách pháp lý này, CTHD
thuận lợi hơn trong các quan hệ pháp luật và cũng phải chịu những trách nhiệm
như các pháp nhân khác. Các nhà làm luật đã làm cho công ty HD có tài sản riêng
(một trong những yêu cầu của pháp nhân) bằng cách quy định: khi thành viên góp
vốn vào công ti thì phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty. Tuy
nhiên, quy định CTHD có tư cách pháp nhân (TCPN) có ổn hay không? Hãy cùng
xem
xét
vấn
đề
mình trong công ti. Trong một thời gian rất dài, những khoản lỗ từng loại có thể
được khấu trừ trên tổng thu nhập. Vì lý do này, CTHD trở thành một công cụ kỳ
diệu để đóng thuế ít hơn. Do vậy, những người bị đánh thuế cao thường là thành
viên CTHD.
V. QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH TRONG CÔNG TY HỢP DANH:
1. Tổ chức quản lý trong Công ty hợp danh:
Hợp danh thường có cơ chế quản lý nội bộ linh hoạt, tùy thuộc vào thỏa thuận giữa
Công ty hợp danh, thực trạng, giải pháp và kiến nghị
các thành viên. Đối với các hãng luật hợp danh, cấu trúc tổ chức quản lý nội bộ
thường bao gồm các hội nghị luật sư hợp danh quyết định các chính sách kinh
doanh lớn. Ngoài ra, tại các văn phòng, quyền quản lý thường được thỏa thuận
giữa các luật sư có quyền điều hành, theo đó luật sư điều hành nào cũng có quyền
đại diện cho hãng luật. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, CTHD có cơ quan quyết
nghị là Hội đồng thành viên, bao gồm tất cả các thành viên hợp danh và góp vốn,
được triệu tập bất kỳ thời điểm nào khi một trong số các thành viên hợp danh xét
thấy cần thiết (khoản 1 điều 135, khoản 1 điều 136 LDN). Thể thức triệu tập cuộc
họp, quy định gửi tài liệu trước cuộc họp, điều hành, biểu quyết và ghi biên bản các
cuộc họp hội đồng thành viên CTHD tương đối đơn giản, tùy thuộc vào thỏa thuận
của các thành viên trong điều lệ công ti. Quyết nghị của Hội đồng thành viên được
thông qua nếu 2/3 tổng số thành viên hợp danh của công ti chấp thuận, trừ những
quyết định quan trọng cần có sự chấp thuận của ¾ tổng số TVHD (Điều 135 LDN).
2. Đại diện cho hợp danh:
VI. GIẢI THỂ VÀ PHÁ SẢN CÔNG TY HỢP DANH:
Cũng như các doanh nghiệp khác, hợp danh có thể được giải thể tự nguyện hay bắt
buộc; khi mất khả năng thanh toán có thể được xử lí theo thủ tục phá sản doanh
nghiệp (điều 157 – 159 LDN).
1. Giải thể:
Công ti hợp danh giải thể trong những trường hợp cũng như các doanh nghiệp
khác, như: hết thời hạn hoạt động, không muốn kinh doanh nữa, khó khăn thua lỗ
nhưng chưa đến mức mất khả năng thanh toán, các thành viên thống nhất quyết
định giải thể (tự nguyện), không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu quy định
trong 6 tháng liên tục, bị thu hồi giấy chứng nhận ĐKKD… Theo Pháp Luật Pháp thì
khi một trong số các thành viên (TVHD) chết, bị phá sản hay bị cấm thực hiện một
hoạt động thương mại công ti sẽ tự động bị giải thể, trừ khi điều lệ công ti quy định
khác (Bộ luật Thương Mại, Điều L.221 – 16). Thủ tục giải thể như sau:
- Bước 1: Thông qua quyết định giải thể CTHD (quyền thuộc về tất cả các thành
viên
hợp
danh).
- Bước 2: Thanh lý tài sản.
- Bước 3: Thông báo quyết định giải thể đến cơ quan ĐKKD, chủ nợ, người có quyền
và lợi ích liên quan…Các TVHD tiến hành thông báo công khai về việc giải thể thông
qua việc niêm yết quyết định giải thể tại trụ sở chính của Doanh Nghiệp, đăng báo
địa phương và trung ương trong 3 số liên tiếp.
một vấn đề không dễ giải quyết. Còn Bộ Luật Thương Mại Sài Gòn 1973 có quy định
về cách thức trả nợ này của công ty của TVHD: tùy thuộc vào khế ước lập hội, nếu
không sẽ do các hội viên quyết định theo đa số và nếu có Hội Viên bất đồng ý kiến có
thể xin Tòa án xét xử.
Phần III:
Công ty hợp danh, thực trạng, giải pháp và kiến nghị
THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TY HỢP DANH Ở
VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
I.
THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TY HỢP DANH Ở VIỆT NAM( 3)
II.
1. Nhận thức của xã hội đối với loại hình công ty hợp
danh:
III.
Loại hình CTHD chỉ mới được quy định từ Luật DN 1999 với 4 điều và đến nay là
LDN 2005 với vẻn vẹn 11 điều luật nên đối với xã hội còn khá mới mẻ. Nhiều người
chưa nhận thức được bản chất của nó nên còn xem CTHD là một trong những loại
hình DN đại diện cho chủ sỡ hữu tư nhân. Các nhà kinh doanh khi tìm hiểu pháp
luật cũng dễ dàng nhận ra những điểm yếu: CTHD không thể trở thành một bên của
hợp đồng kinh tế theo pháp luật về hợp đồng của Việt Nam; khả năng huy động vốn
hạn chế; những tranh chấp liên quan đến việc thành lập, tổ chức và hoạt động dễ
xảy ra. Với CTHD, các nhà đầu tư chỉ có 2 lựa chọn:
được.
2. Thực trạng đăng ký kinh doanh của các công ty hợp danh:
VI.
a. Số lượng đăng ký kinh doanh ít ỏi:
VII.
- Đến ngày 01/07/2002: trong tổng số 56.737 doanh nghiệp, DN có vốn trong nước
chiếm 54.723 DN, trong đó có 24.903 Doanh nghiệp tư nhân, 18.733 công ty cổ
phần và chỉ có 14 công ty hợp danh( 4).
VIII.
- Trên địa bàn thành phố Hà Nội, đến tháng 01/2003 không có ai ĐKKD Công ty
hợp danh( 5).
IX.
- Theo số liệu từ Trung tâm thông tin doanh nghiệp – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, báo
cáo Đăng ký kinh doanh từ 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong năm
2005, toàn quốc có 39.959 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh. Trong đó có 9.259
doanh nghiệp tư nhân (chiếm 23,17%), 22.341 công ty TNHH 2 thành viên trở lên
(chiếm 55,9%), 8.010 công ty cổ phần (chiếm 20,04%), 8 doanh nghiệp nhà nước
bằng 0,02%, 292 công ty TNHH 1 thành viên (chiếm 0,73%) và chỉ có 13 công ty
hợp
danh
(chiếm
của
thực
trạng
đăng
ký
kinh
doanh
CTHD
hiện
nay:
Nếu được quyền tự do lựa chọn, người ta có thể ngần ngại trước mô hình CTHD
theo LDN 2005 bởi những lẽ dưới đây:
XIV.
-
Buộc
thành
- Bên cạnh đó cũng do ảnh hưởng xã hội nhìn nhận chưa đúng, chưa sâu sắc bản
chất pháp lí của CTHD. Thời gian chưa đủ đài để cho các nhà đầu tư lựa chọn mô
hình này (mới được quy định trong Luật).
XVI.
- Pháp luật chưa có những quy định cụ thể. Pháp luật kinh tế chưa đồng bộ, chưa
tạo ra được môi trường thông thoáng cho các nhà đầu tư. Số lượng các nhóm kinh
doanh, hộ kinh doanh đông và được tổ chức gần giống CTHD lại ngần ngại chuyển
đổi
mô
hình
hoạt
động.
- Thành viên hợp danh phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ngành nghề ĐKKD
của
CTHD.
Việc
xin
cấp
chứng
XVIII.
Đó là: Hợp danh thông thường và Hợp danh hữu hạn. Hiện nay chỉ có 1 quy định
duy nhất về CTHD nên 2 loại này về cơ bản chỉ được ghi nhận trong 1 định nghĩa.
Điều này dẫn đến 1 số khó khăn nhất định khi xem xét các trường hợp giải thể bắt
buộc của CTHD ( vì lý do không có đủ số lượng thành viên tối thiểu theo yêu cầu
trong 6 tháng liên tục). TVGV không có quyền quản lý nhưng không phủ nhận được
vai trò của họ. Hai loại trên có bản chất tương đối giống nhau nhưng vẫn có những
đặc điểm pháp lý khác biệt. Nên quy định việc giải thể bắt buộc rõ ràng như sau:
(1) Đối với CTHD chỉ có TVHD: Không còn đủ 2 TVHD.
XIX.
(2) Đối với CTHD có TVHD và TVGV: Không còn đủ 3 thành viên (không đủ 2 TVHD
hay không có TVGV nào).
XX.
Nếu có quy định đối với Công ty hợp danh hữu hạn thì nếu loại này không đáp ứng
điều kiện về số lượng thành viên có thể chuyển đổi sang CTHD thông thường nếu
vẫn còn đủ 2 TVHD. CTHD là loại hình công ti đóng đặc thù nên bất kỳ một biến
động nào của phạm vi thành viên hay cơ cấu vốn góp cũng để ngỏ khả năng phá vỡ
nền tảng cơ sở của công ti và buộc chuyển đổi loại hình. Thay vì giải thể, có thể quy
định thêm một số trường hợp chuyển đổi CTHD từ hữu hạn sang thông thường và
ngược
lại.
2. Quy định rõ quyền và nghĩa vụ của Thành viên góp vốn:
XXI.
Những quy định về thành viên góp vốn hiện nay còn khá sơ sài, nhất là chưa có chế
nghiệp cũng ít đề cập, thậm chí là không đề cập đến mô hình công ty hợp danh này.
Bên cạnh đó, số lượng công trình nghiên cứu khoa học về Công ty hợp danh cũng
chỉ ở mức hạn chế. Việc tuyên truyền sâu rộng bằng những bài viết chất lượng, đi
sâu làm nổi bật bản chất và vai trò của CTHD có thể giúp mọi người hiểu rõ được
bản chất pháp lý của mô hình có nhiều tiềm năng và ý nghĩa to lớn này. Làm được
điều này cùng với sự điều chỉnh lại quy định của Luật Doanh Nghiệp sẽ góp phần
đưa loại hình này vào cuộc sống một cách nhanh chóng và mạnh mẽ hơn, bởi:
không có loại hình nào là không cần thiết cả.
KẾT LUẬN
——
Với những phần đã trình bày ở trên, hy vọng sẽ góp phần vào việc tìm hiểu công ty
hợp danh hơn. Với những ưu điểm như: tạo được sự tin cậy đối với bạn hàng, làm
cho môi trường kinh doanh ngày càng lành mạnh, đẩy mạnh xu hướng làm việc
cam kết theo khả năng chứ không theo kết quả, Nhà nước kiểm soát được hoạt
động (một trong những lý do để quy định CTHD có tư cách pháp nhân và phải nộp
Công ty hợp danh, thực trạng, giải pháp và kiến nghị
thuế thu nhập doanh nghiệp)…thiết nghĩ mô hình này cần được nhanh chóng hoàn
thiện để đi vào đời sống một cách mạnh mẽ. Để làm được điều đó, chúng ta cần một
tư duy thoáng hơn trong xây dựng và áp dụng luật. Trong kinh doanh, việc lựa
chọn loại hình phù hợp với ý tưởng và khả năng của mình, các thương nhân luôn
cân nhắc và đánh giá toàn diện. Với những quy định hiện nay của Pháp luật Việt
Nam về công ti hợp danh thi loại hình này khó mà phát triển được như mong muốn.
Môi trường kinh doanh ngày càng năng động, mở rộng với nhiều phương thức
phong phú nên loại hình nào cũng cần cho nền kinh tế thị trường. Công ti hợp danh
là một mô hình hay, thể hiện được tập trung ý chí của các thành viên tham gia và
Thống
NXB.
kê
Tư
năm
pháp
2006.
2006.
5. Một số vấn đề pháp lý về Công ty Hợp danh, Vũ Đặng Hải Yến, Luận văn Thạc sĩ
luật
học,
Hà
Nội,
2003.
6. Một số khía cạnh pháp lý về Công ty Hợp danh, Trần Thùy Anh, Luận văn Thạc sĩ
khoa học, ĐH Luật Hà Nội, ĐH Paris II Panthenon – ASSAS, 2001.
7.
8.