TIỂU LUẬN:
Nâng cao công tác quản lý chất lượng
và dịch vụ vận chuyển hành khách của
công ty cổ phần Hoàng Hà tại Thành
phố Thái Bình
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế tri thức như hiện nay, ngành dịch vụ có
vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế thế giới và các nền kinh tế quốc gia.
Bốn mươi hai năm trước, Victor R. Fuchs (1968) đã nói về sự xuất hiện của nền kinh tế
dịch vụ ở Mỹ. Ngày nay, cả thế giới đang bước sang một nền kinh tế mới: nền kinh tế
dịch vụ. Sau nhiều năm đàm phán, năm 1995 Hiệp định về thương mại dịch vụ
(GATS) đã được ký kết và trở thành một trong những hiệp định quan trọng nhất của Tổ
chức thương mại thế giới (WTO). Phát triển và tự do hóa ngành dịch vụ nói chung,
phát triển và tự do hóa thương mại dịch vụ nói riêng đang trở thành chính sách ưu tiên
của các Quốc.
Ngành dịch vụ hiện đóng góp 60% GDP của thế giới (Lovelock và Wirtz,
2007). Ở các nước OECD, tỷ trọng này lên đến 70% (OECD, 2008). GDP của lĩnh vực
dịch vụ chiếm tới 90% GDP của Hồng Kông, 80% GDP của Mỹ, 74% GDP của Nhật
Bản, 73% GDP của Pháp, 73% GDP của Anh và 71% GDP của Canada. Dịch vụ đóng
góp trên 50% GDP của các nền kinh tế Mỹ La Tinh như Braxin và Áchentina, trên
60% GDP của các nước công nghiệp hóa mới ở châu Á như Xingapo, Đài Loan và
Malaixia. Dịch vụ cũng chiếm tới 48% GDP của Ấn Độ và 40% GDP của Trung Quốc
(Lovelock và Wirtz, 2007, trích từ World FactBook, 2007 và EIU Country Data).
Trong giai đoạn 1988 – 2003, đóng góp của ngành dịch vụ cho giá trị gia tăng của toàn
nền kinh tế OECD tăng từ 60% lên 68%, còn đóng góp của ngành công nghiệp lại giảm
từ 34% xuống còn 29%. Sự thay đổi này thể hiện việc giá cả của các sản phẩm công
nghiệp giảm tương đối so với giá cả của các sản phẩm dịch vụ và người tiêu dùng ngày
DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH
1.1. Tổng quan về dịch vụ vận chuyển hành khách
1.1.1. Khái niêm về dịch vụ vận chuyển hành khách
Dịch vụ vận tải là một ngành dịch vụ truyền thống, theo quan điểm phục vụ
hành khách là một khái niệm đa diện, một phạm trù rộng và phức tạp, phản ánh tổng
hợp nhiều thuộc tính của sản phẩm về kỹ thuật, kinh tế, xã hội … tuỳ thuộc vào các
góc độ khác nhau.
Trong lĩnh vực vận tải hành khách, hành khách vừa là đối tượng chuyên chở
vừa là khách hàng tiêu dùng sản phẩm. Bởi vậy, chất lượng vận tải hành khách
chính là sự đánh giá của khách hàng về những yếu tố ảnh hưởng đến trực tiếp đến
bản thân hành khách trong suốt quá trình chuyên chở. Việc quản lí chất lượng tổng
hợp - TQM trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực để đảm bảo và nâng cao chất lượng vận
tải hướng tới tiêu chuẩn hoá chất lượng vận tải hành khách ngành đường bộ trong
môi trường sản xuất, kinh doanh biến động và đầy cạnh tranh. Để thực hiện TQM
trong quản lý chất lượng vận tải hành khách, chuyên đề tập trung nghiên cứu hệ
thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng theo quan điểm phục vụ khách hàng từ đó
xây dựng chỉ tiêu chất lượng công tác phục vụ cho từng nhóm công việc, gắn liền
với trách nhiệm của nhân viên thực hiện; cải tiến hệ thống tổ chức và xây dựng quy
chế, chế độ công tác hợp lý nhằm xác định trách nhiệm với sự cam kết đảm bảo chất
lượng và quyền lợi của các thành viên toàn ngành; đổi mới cơ chế giám sát và kiểm
tra chất lượng từ khâu đầu tiên và khâu cuối cùng của quá trình vận tải bằng các giải
pháp đầu tư hợp lý hệ thống thông tin, hệ thống giám sát, đo lường và đánh giá chất
lượng vận tải; tổ chức công tác đào tạo nhằm làm rõ nhận thức về chất lượng vận tải
và lợi ích của TQM trong quản lý chất lượng, từ đó tạo niềm tin và động lực cho
mọi thành viên trong ngành hướng tới mục tiêu thoả mãn mọi nhu cầu, yêu cầu của
khách hàng; liên tục cải tiến chất lượng nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao
chất lượng dịch vụ vận tải.
tải hành khách cố định theo cự ly và phạm vi hoạt động.
Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt
1. Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt theo tuyến cố định có các điểm
dừng, đón trả khách và xe chạy theo biểu đồ vận hành trong phạm vi nội thành, nội
thị, phạm vi tỉnh hoặc trong phạm vi giữa 2 tỉnh liền kề; trường hợp điểm đầu hoặc
điểm cuối của tuyến xe buýt liền kề thuộc đô thị đặc biệt thì không vượt quá 3 tỉnh,
thành phố. Cự ly tuyến xe buýt không quá 60 km.
a) Biểu đồ vận hành: tần suất tối đa là 30 phút/lượt đối với các tuyến trong nội
thành, nội thị; 45 phút/lượt đối với các tuyến khác;
b) Khoảng cách tối đa giữa 2 điểm dừng đón, trả khách liền kề trong nội
thành, nội thị là 700 m, ngoài nội thành, nội thị là 3.000 m;
2. Nội dung quản lý vận tải hành khách bằng xe buýt
a) Theo dõi, tổng hợp lưu lượng và nhu cầu đi lại của hành khách trên tuyến,
tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, hợp tác xã trên tuyến;
b) Xây dựng quy hoạch mạng lưới tuyến;
a) Công bố tuyến: số hiệu tuyến, điểm đầu, điểm cuối, điểm dừng đỗ, lộ trình
tuyến, tần suất chạy xe;
b) Điều chỉnh lộ trình, ngừng hoạt động tuyến;
c) Quyết định các tuyến xe buýt theo hình thức đặt hàng, đấu thầu hoặc chỉ
định thầu;
d) Xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng (kể cả đáp ứng nhu cầu giao thông tiếp
cận) phục vụ xe buýt;
e) Ban hành các chính sách ưu đãi của nhà nước về khuyến khích phát triển
vận tải hành khách bằng xe buýt trên địa bàn;
g) Quyết định và quản lý giá cước.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quy hoạch mạng lưới tuyến, xây dựng
và quản lý kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xe buýt, công bố tuyến, giá vé, các
chính sách ưu đãi của nhà nước về khuyến khích phát triển vận tải hành khách bằng
b) Mặt ngoài hai bên thành xe hoặc cánh cửa xe sơn chữ “TAXI TẢI”, số điện
thoại liên lạc, tên đơn vị kinh doanh.
3. Kinh doanh vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng.
a) Kinh doanh vận tải hàng siêu trường, siêu trọng là việc sử dụng xe ô tô phù
hợp để kinh doanh vận chuyển các loại hàng siêu trường, siêu trọng;
b) Khi vận chuyển, lái xe phải mang theo giấy phép sử dụng đường bộ;
c) Đơn vị kinh doanh chịu trách nhiệm gia cố cầu đường bộ theo yêu cầu của
cơ quan quản lý đường bộ.
4. Vận chuyển hàng nguy hiểm tuân theo Nghị định của Chính phủ quy định
danh mục hàng nguy hiểm, vận chuyển hàng nguy hiểm và thẩm quyền cấp phép
vận chuyển hàng nguy hiểm.
1.2. Quản lý chất lượng dịch vụ vận chuyển hành khách
1.2.1. Vai trò của quản lý chất lượng dịch vụ vận chuyển hành khách
Giao thông vận tải có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế xã
hội. Giao thông vận tải có phát triển, có thông suốt thì sẽ tạo điều kiện cho việc đi
lại vận chuyển của hàng hoá và con người được nhanh chóng dễ dàng thuận tiện.
Đảng và Nhà nước đã thấy được tầm quan trọng của giao thông vận tải nên trong
những năm qua, rất nhiều những công trình giao thông quan trọng, lớn, nhỏ, đường
bộ cũng như đường sắt, đường biển cũng như đường sông, và đường hàng không đã
được xây dựng để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế xã hội. Từ các kết quả đạt
được trong năm qua Bộ Giao thông vận tải đã chỉ ra những việc chính cần phải làm
trong giai đoạn tới từ 2010 - 2020 đó là: Đến năm 2020, hệ thống giao thông vận tải
nước ta cơ bản đáp ứng nhu cầu vận tải đa dạng cua xã hội với mức tăng trưởng
nhanh, đảm bảo chất lượng ngày càng cao, giá thành hợp lý; kiềm chế tiến tới giảm
sự gia tăng tai nạn giao thông và hạn chế ô nhiễm môi trường.
Về tổng thể, hình thành được một hệ thống giao thông vận tải hợp lý giữa
các phương thức vận tải và các hàng lang vận tải chủ yếu đối với các mặt hàng
chính có khối lượng lớn. Có thể khái quát như sau:
ba với ký hiệu ISO 9000:2000. Đây là sự thay đổi về chất đối với bộ tiêu chuẩn này,
đó chính là sự thay đổi khái niệm “đảm bảo chất lượng” bằng “quản lý chất lượng”.
Khái niệm “quản lý chất lượng” không chỉ dành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh hàng hóa và dịch vụ, mà còn cho tất cả các tổ chức khác như tổ chức sự
nghiệp: Nhà trường, bệnh viện, viện nghiên cứu…và cả các cơ quan hành chính nhà
nước, các tổ chức chính trị. Nghĩa là có thể áp dụng cho tất cả những tổ chức nào
muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của mình nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày
càng tăng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm của mình. Khái niệm sản phẩm ở
đây theo đó cũng hết sức rộng: Kết quả của một quá trình hoạt động của con người.
Đây cũng là hệ quả tất yếu quá trình quản lý chất lượng của thế giới trước tác động
của quá trình toàn cầu hóa nói chung và tự do hóa thương mại đang ngày càng sâu
rộng. Các phương thức và công cụ quản lý chất lượng cơ bản bao gồm:
Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection) với mục tiêu để sàng lọc các sản phẩm
không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi các sản
phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt. Mục đích là chỉ có sản phẩm
đảm bảo yêu cầu đến tay khách hàng.
Kiểm soát chất lượng (Quality Control – QC) với mục tiêu ngăn ngừa việc tạo
ra, sản xuất ra các sản phẩm khuyết tật. Để làm được điều này, phải kiểm soát
các yếu tố như con người, phương pháp sản xuất, tạo ra sản phẩm (như dây
truyền công nghệ), các đầu vào (như nguyên, nhiên vật liệu…), công cụ sản
xuất (như trang thiết bị công nghệ) và yếu tố môi trường (như địa điểm sản
xuất).
Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC) với mục tiêu
kiểm soát tất cả các quá trình tác động đến chất lượng kể cả các quá trình xảy ra
trước và sau quá trình sản xuất sản phẩm, như khảo sát thị trường, nghiên cứu,
lập kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng; và lưu kho, vận chuyển, phân
phối, bán hàng và dịch vụ sau khi bán hàng.
Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management – TQM) với mục tiêu
trên những kinh nghiệm của quốc tế trong lĩnh vực quản lý chất lượng. Điều này
cho thấy hoạt động quản lý chất lượng ở Việt Nam đã có những bước hội nhập quốc
tế mạnh mẽ và có chiều sâu.
Hoạt động quản lý chất lượng ở Việt Nam đã có bề dày hơn nửa thế kỷ.
Trong thời gian đó, hoạt động này đã có những đóng góp nhất định cho phát triển
kinh tế xã hội. Hoạt động quản lý chất lượng với mức độ hội nhập quốc tế tương đối
cao sẽ càng có vai trò và vị trí to lớn hơn trong việc góp phần đạt được mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra.
Trong môi trường phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, cạnh tranh trở thành
một yếu tố mang tính quốc tế đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của mỗi doanh nghiệp. Theo M.E. Porre (Mỹ) thì khả năng cạnh tranh của mỗi
doanh nghiệp được thể hiện thông qua hai chiến lược cơ bản là phân biệt hóa sản
phẩm (chất lượng sản phẩm) và chi phí thấp. Chất lượng sản phẩm trở thành một
trong những chiến lược quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Chấp nhận kinh tế thị trường nghĩa là chấp nhận cạnh tranh, chịu tác động
của quy luật cạnh tranh. Sản phẩm, dịch vụ muốn có tính cạnh tranh cao thì chúng
phải đạt được những mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, của xã hội về
mọi mặt một cách kinh tế nhất (sản phẩm có chất lượng cao, giá rẻ). Với chính sách
mở cửa, tự do thương mại, các nhà sản xuất kinh doanh muốn tồn tại thì sản phẩm,
dịch vụ của họ phải có tính cạnh tranh cao, nghĩa là doanh nghiệp phải có khả năng
cạnh tranh về nhiều mặt.
Quan tâm đến chất lượng, quản lý chất lượng chính là một trong những
phương thức tiếp cận và tìm cách đạt được những thắng lơi trong sự cạnh tranh gay
gắt trên thương trường nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Chất lượng dịch vụ làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp vì:
Tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua: Mỗi sản phẩm dịch vụ có rất nhiều các
thuộc tính chất lượng khác nhau. Các thuộc tính này được coi là một trong
tế nước ta hiện nay, nhất là đối vớ ngành vận tải. Chính sách giá cả ảnh hưởng trực
tiếp đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Vai trò cạnh tranh của giá cả được thể
hiện qua chính sách định giá của Công ty. Chính sách giá đối với từng loại hình
biến động cung cầu của Công ty cần phải linh hoạt tránh tình trạng cứng nhắc. Tình
hình biến động cung cầu trên thị trường cũng ảnh hưởng rất lớn đối với việc đặt giá
cho loại hình dịch vụ của mình.
Với mục tiêu mở rộng thị trường, giành được ưu thế trong cạnh tranh, Công
ty cổ phần Hoàng Hà cần áp dụng một chiến lược định giá phù hợp, có sức mạnh
cạnh tranh để có thế cạnh tranh với các đối thủ mạnh trong điều kiện mức độ cạnh
tranh ngày càng gay gắt.
Hiện nay, giá dịch vụ là một điểm mạnh của Công ty cổ phần Hoàng Hà
trong cạnh tranh: hầu hết giá các dịch vụ mà Công ty kinh doanh đều có mức giá
ngang hoặc thấp hơn thị trường, song định giá cho một dịch vụ là một việc mang
tính chất tổng hợp, do vậy Công ty cần phải xác định rõ mức giá cho từng loại hình
dịch vụ của mình nằm trong giới hạn nào thì sẽ thu hút được những loại khách hàng
nào, ở đoạn thị trường nào, có đủ sức cạnh tranh không?
Đối với dịch vụ đang có yêu cầu lớn trên thị trường Công ty có thể giữ mức
giá ở mức tương đối so với các Công ty khác vì dịch vụ đang được ưa chuộng. Dịch
vụ taxi chất lượng cao nên áp dụng chính sách giá này. Còn đối với dịch vụ xe bus,
tuy không có đối thủ cạnh tranh trên thị trường tỉnh nhưng Công ty cũng cần phải
xem xét đến đối tượng sử dụng dịch vụ của mình hầu như là sinh viên và bà con
nông dân để điều chỉnh giá cước cho phù hợp với thu nhập của người dân.
Với dịch vụ xe khách đường dài, do có nhiều đối thủ cạnh tranh nên Công ty
không nên đơn phương tăng giá, phải chờ tình hình biến động của các đối thủ, chờ
động tĩnh chung của thị trường rồi mới đưa ra quyết định.
Để xây dựng một chính sách giá cả hợp lý, Công ty cần phải tính tới các biện
pháp để giảm tối đa chi phí để từ đó có thể hạ giá thành mà vẫn đảm bảo lợi nhuận
để tăng hiệu quả kinh doanh cũng như tăng sức cạnh tranh, tạo lợi thế cạnh tranh
VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH CỦA CÔNG TY HOÀNG HÀ
2.1. Khái quát về Công ty Cổ phần Hoàng Hà
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Hoàng Hà
Thái Bình là một tỉnh với ngành sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, sự phát
triển kinh tế xã hội chưa bắt nhịp được với một số tỉnh lân cận như Nam Định, Hải
Phòng, Hải Dương... Những năm gần đây theo đường lối đổi mới của Đảng về sự
phát triển không ngừng của cả nước, Tỉnh Thái Bình đã có nhiều ưu đãi cho các
doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư, chính sách thông thoáng hơn và đã có
các khu công nghiệp và tiểu công nghiệp hình thành tại Thành phố Thái Bình và các
huyện lị trong tỉnh.
Thuộc một trong những tỉnh đồng bằng có mật độ dân số cao nhất nhì nước,
không có giao thông đường sắt nên giao thông đường bộ chiếm một vị trí quan
trọng trong đời sống kinh tế - chính trị của tỉnh. Sự ra đời của Công ty Cổ phần
Hoàng Hà là bước trưởng thành của đội ngũ những người làm công tác vận hành
khác, vừa sản xuất, vừa kinh doanh, vừa phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh.
Công ty Cổ phần Hoàng Hà được thành lập theo quyết định số
1767/2001/QĐ-UB ngày 25 tháng 9 năm 2001 của UBND tỉnh Thái Bình. Công ty
Cổ phần Hoàng Hà là doanh nghiệp cổ phần hạch toán độc lập, trực thuộc Sở giao
thông vận tải Thái Bình, có nhiệm vụ chủ yếu là vận tải hành khách bằng ôtô, ngoài
ra Công ty còn được phép kinh doanh phụ tùng, vật tư, xăng dầu.
Sau lần thay đổi bộ máy tổ chức, vị trí và hình thức sở hữu, hiện nay Công ty
Cổ phần Hoàng Hà đã có trụ sở chính nằm trên Số 368 Đường Lý Bôn, Thành Phố
Thái Bình với diện tích là 10.377m2 bao gồm: khu văn phòng, phân xưởng sửa chữa
và sân đỗ xe.
Với sự nỗ lực lớn của toàn bộ nhân viên trong Công ty, Công ty đã vinh dự
được nhận Sao Vàng Đất Việt năm 2005 cùng nhiều bằng khen của tỉnh về thành
tích đã đạt được trong những năm qua.
Qua hơn 8 năm hình thành và phát triển Công ty Cổ phần Hoàng Hà liên tục
- Fax: 036.3846.908
- Website: www.hoanghaco.com.vn
- Email: [email protected]
- Mã số thuế: 1000.272.301
- Tài khoản: 4711.000.000.2586 tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi
nhánh Thái Bình.
Thông tin chi nhánh và địa chỉ giao dịch:
+ Chi nhánh Cty CP Hoàng Hà tại Thị xã Hưng Yên - Tỉnh Hưng Yên
- Địa chỉ: Bến xe khách Hưng Yên - Thị xã Hưng Yên - Tỉnh Hưng Yên
- Điện thoại: 0321.3515.515
+ Chi nhánh Công ty Cổ phần Hoàng Hà tại Hà Nội
- Địa chỉ: Số 30 - Phố Vọng - Phường Phương Mai - Quận Đống Đa - Hà Nội.
- Điện thoại: 04.3628.3677
+ Chi nhánh Công ty Cổ phần Hoàng Hà tại Quảng Ninh
- Địa chỉ: Bến xe khách Cửa Ông - Tổ 18 - Khu 2 - Phường Cửa Ông - Thị xã Cẩm
Phả - Tỉnh Quảng Ninh.
- Điện thoại: 0937.460.171
Công ty Cổ phần Hoàng Hà được ra thành lập từ năm 2001 đến nay đã gần
mười năm, Công ty đã không ngừng phát triển, đẩy mạnh nắm bắt cơ hội tạo dựng
cho mình được một thương hiệu riêng, với những nỗ lực đó của công ty đã đạt được
một số tựu rất đáng khích lệ như:
Năm 2004:
+ Cờ thi đua xuất sắc của Bộ Giao thông vận tải
+ Bằng khen của LĐLĐ tỉnh Thái Bình
+ Bằng khen của UBND tỉnh Thái Bình
Năm 2005:
phương năm 2007.
+ Bằng khen của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam vì có thành
tích "Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội năm 2007"
Năm 2008:
+ Giám đốc Công ty được nhận Kỷ niệm chương "Vì sự phát
triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam" của Chủ tịch Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
+ UBND thành phố Thái Bình tặng giấy khen cho Công ty Cổ
phần Hoàng Hà đã có thành tích xuất sắc trong SXKD năm
2007 (Số 12/QĐ/UB ngày 9/1/2008)
+ Cúp Sao vàng Khu vực Đồng bằng Sông Hồng năm 2008
+ Cúp Sao Vàng Đất Việt năm 2008
+ Giải thưởng Chất lượng Việt Nam do Trung tâm Tiêu chuẩn
Chất lượng - Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam trao tặng.
+ UBND tỉnh tặng Bằng khen và Cup cho Công ty đạt trong
Top 10 doanh nghiệp tiêu biểu - Năm 2008.
Năm 2009:
+ UBND tỉnh tặng bằng khen cho công ty vì đã có thành tích
xuất sắc trong sản xuất kinh doanh, góp phần vào sự nghiệp
phát triên kinh tế xã hội của địa phương năm 2009
+ Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam tặng bằng khen
cho ông Lưu Huy Hà - Chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc công ty
là doanh nhân tiêu biểu khối doanh nghiệp điạ phương năm
2009
+ Cùng với những thành tích đó của Công ty Hoàng Hà, ngày
14 tháng 12 năm 2009 Công ty Hoàng Hà vinh dự được đón
Phó Thủ Tướng Vũ Khoan về thăm và làm việc tại công ty.
- Ban kiểm soát
- Các chi nhánh: Gồm 03 Chi nhánh đặt tại: Hà Nội, Quảng Ninh. Hưng Yên.
- 06 Phòng chức năng chuyên môn; và Xưởng bảo dưỡng sửa chữa ô tô.
- Tổng số 628 cán bộ công nhân viên.
Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận:
* Đại hội cổ đông:
Là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty, có trách hiệm theo dõi giám sát
hoạt động của hội đồng quản trị và ban kiểm soát, quyết định mức cổ tức hàng năm
của Công ty, sửa đổi bổ sung điều lệ của Công ty, thông qua báo cáo tài chính hàng
năm của Công ty và định hướng phát triển của Công ty trong những năm tiếp theo.
* Hội đồng quản trị:
Hội đồng quản trị là cấp có thẩm quyền cao nhất của Công ty Cổ phần
Hoàng Hà giữa hai kỳ Đại hội. Nhiệm kỳ của hội đồng quản trị là bốn năm, Hội
đồng quản trị của Công ty có 7 người gồm: Một chủ tịch, một phó chủ tịch và 5
thành viên hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị có quyền nhân danh Công ty để
quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích quyền lợi nghĩa vụ của Công ty. Cụ
thể: Quyết định chiến lược phát triển của Công ty, quyết định phương án đầu tư,
giải pháp phát triển thị trường,
quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế tổ chức nội
bộ. Có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán
trưởng, cán bộ phòng ban quản lý quan trọng khác, quyết định mức lương và lợi
ích cán bộ. Hội đồng quản trị ra phương án phân phối lợi nhuận, chia cổ tức, xử lý
các khoản lãi lỗ. Chỉ đạo, hỗ trợ , giám sát việc điều hành của Giám đốc và chức
danh do Hội đồng quản trị trực tiếp quản lý. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm về
những vi phạm pháp luật, vi phạm điều lệ của Công ty, những sai phạm trong quản
lý gây thiệt hại cho Công ty và quyền lợi của các cổ đông.
Tuy nhiên Hội đồng quản trị không được quyết định những vấn đề thuộc
thẩm quyền của Đại hội đồng gồm:
Phó giám đốc có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc các vấn đề thuộc chuyên
môn của mình.
* Các phòng ban:
Công ty gồm có 4 phòng và 2 ban: Phòng tổ chức hành chính, phòng tài chính
kế toán, phòng kinh doanh tiếp thị, phòng vật tư kỹ thuật, ban dịch vụ và ban giám
sát.
-
Phòng tổ chức hành chính có chức năng nhiệm là:
+ Đề ra mọi nội quy, quy chế lao động sản xuất và là nơi thực hiện mọi chủ trương,
chính sách, chế độ của Đảng và nhà nước đối với người lao động.
+ Quy hoạch cán bộ theo từng thời gian ngắn, dài hạn để đề xuất lên giám đốc,
Đảng uỷ Công ty Công ty đề bạt những cán bộ công nhân viên có năng lực theo
phân cấp quản lý.
+ Quản lý hồ sơ, giải quyết các thủ tục, chế độ, theo dõi, kiểm tra và thực hiện việc
phân phối kết quả lao động và quản lý quỹ tiền lương BHXH, quỹ khen thưởng.
Bảo vệ an toàn về an ninh chính trị, kinh tế cho Công ty.
+ Quản lý hành chính, giao dịch tiếp khách, tiếp chuyển và lưu giữ văn thư, con
dấu, bảo quản thiết bị văn phòng, tổ chức khám điều trị mua bảo hiểm y tế cho
CBCNV trong Công ty, mua sắm vật phẩm và trang thiết bị văn phòng.
-
Phòng vật tư kỹ thuật có chức năng sau:
+ Tham mưu cho giám đốc Công ty về theo dõi quản lý tình trạng kỹ thuật của từng
đầu xe.
+ Lập kế hoạch theo dõi ngày xe tốt, lập kế hoạch tổ chức thực hiện kế hoạch sửa
chữa bảo dưỡng xe.
+ Tổ chức thực hiện kế hoạch đầu tư phương phương tiện, thanh lý phương tiện và