Ảnh hưởng của biến động giá cả đến sản xuất và thu nhập từ nông nghiệp của các hộ nghèo trên địa bàn xã xuân vinh, huyện thọ xuân, tỉnh thanh hóa - Pdf 35

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ
một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin được trích dẫn trong luận văn đều
được chỉ rõ nguồn gốc.
Sinh viên

Nguyễn Thị Nhung

i


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt cáo cáo tốt nghiệp ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể, cá nhân
trong và ngoài trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội, vì thế:
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa
Kinh tế và Phát triển Nông thôn, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, đặc biệt
là các thầy cô trong bộ môn Kinh tế nông nghhiệp và Chính sách, những nguời
đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện luận văn này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo GS.TS Đỗ Kim
Chung, người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hướng dẫn chỉ bảo
tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể, cán bộ UBND xã Xuân Vinh,
huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá và người dân trên địa bàn xã đã cung cấp cho
tôi những số liệu cần thiết và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài tại địa bàn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Tìm hiểu thực trạng nghèo đói và biến động giá cả trên địa bàn xã Xuân
Vinh.
Tìm hiểu ảnh hưởng của biến động giá cả đến sản xuất và thu nhập từ
nông nghiệp của các hộ nông dân nghèo trên địa bàn xã Xuân Vinh.

iii


Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của biến động
giá cả đến sản xuất và thu nhập từ nông nghiệp của các hộ nông dân nghèo.
Phương pháp chính mà chúng tôi sử dụng trong đề tài là phương pháp
phỏng vấn.
Tìm hiểu các lý luận cơ bản về giá cả, biến động giá cả, nghèo đói và ứng
xử của các hộ nông dân. Đồng thời, chúng tôi đã tìm hiểu được tình hình biến
động giá cả trên thị trường của một số nước trên thế giới và Việt Nam.
Qua nghiên cứu đặc điểm địa bàn xã Xuân Vinh, chúng tôi nhận thấy nền
kinh tế của xã chủ yếu dựa vào nông nghiệp, song điều kiện cho sản xuất nông
nghiệp lại không thuận lợi. Đời sống của người dân nơi đây còn gặp nhiều khó
khăn. Tỷ lệ hộ, khẩu nghèo tương đối cao, tuy nhiên có xu hướng giảm qua 3
năm 2007, 2008, 2009.
Qua điều tra thực tế thấy rằng, trên địa bàn xã Xuân Vinh, hầu hết các vật
tư phục vụ sản xuất nông nghiệp đều tăng giá. Nhiều mặt hàng tăng tới 30 –
40%, thậm chí có những mặt hàng tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ năm trước. Điều
này ảnh hưởng lớn tới sản xuất của người nông dân, chi phí sản xuất các cây
trồng, vật nuôi đều tăng lên rất nhiều (18 – 32%). Cùng với sự tăng giá của các
yếu tố vật tư đầu vào sản xuất nông nghiệp là sự tăng giá của các nông sản hàng
hóa nhưng tốc độ tăng chậm hơn rất nhiều so với sự tăng giá của các yếu tố đầu
vào, thậm chí nhiều mặt hàng chỉ tăng 5- 7%. Bên cạnh đó, các mặt hàng lương
thực, thực phẩm và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu khác cũng tăng giá một
cách đột biến (30 – 60%). Vì vậy, nó ảnh hưởng mạnh tới thu nhập của người


Bình quân

CC

Cơ cấu

CP

Chi phí

CPI

Chỉ số giá tiêu dùng

GTSX

Giá trị sản xuất

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

HĐSXNN

Hoạt động sản xuất nông nghiệp



Lao động


Số lượng

UBND

Uỷ ban nhân dân

Viện KH – LĐXH

Viện lao động khoa học xã hội

VHLSS

Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam

WTO

Tổ chức thương mại thế giới

vi


PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Giá cả là một yếu tố hết sức nhạy cảm và biến động thường xuyên trong
cuộc sống. Trước đây, trong nền kinh tế bao cấp, sản xuất của người dân chủ
yếu là tự cung, tự cấp, ít có sự trao đổi mua bán trên thị trường, thì sự biến động
của giá cả tác động đến sản xuất và đời sống của người dân chưa mạnh mẽ.
Nhưng hiện nay, khi nền kinh tế nước ta đang bước đầu theo cơ chế thị trường,
sản xuất theo hướng hàng hóa đang chiếm dần ưu thế, thì sự biến động của giá

của người dân nơi đây còn nhiều khó khăn. Nền kinh tế của xã chủ yếu là sản
xuất nông nghiệp, song điều kiện cho sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó
khăn. Trong những năm gần đây, nền kinh tế của xã đã có bước phát triển nhưng
tỷ lệ người nghèo vẫn còn cao. Đặc biệt, trong thời gian qua sự biến động mạnh
của giá cả đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và thu nhập của người dân, nhất là
người nghèo, người cận nghèo. Tuy giá cả các sản phẩm đầu ra của hộ nông dân
tăng nhưng tốc độ tăng của chúng liệu có cao hơn tốc độ tăng giá của các yếu tố
đầu vào và các mặt hàng khác không? Chúng ảnh hưởng đến sản xuất và thu
nhập từ nông nghiệp của các hộ nghèo như thế nào? Và ứng xử của họ trước sự
tăng giá đó ra sao?
Xuất phát từ những lí do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh
hưởng của biến động giá cả đến sản xuất và thu nhập từ nông nghiệp của các
hộ nghèo trên địa bàn xã Xuân Vinh, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa”.

2


1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.2 Mục tiêu chung
Nghiên cứu ảnh hưởng của biến động giá cả đến sản xuất và thu nhập từ
nông nghiệp của các hộ nghèo trên địa bàn xã Xuân Vinh, huyện Thọ Xuân, tỉnh
Thanh Hóa. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng
tiêu cực của biến động giá cả đến sản xuất và thu nhập từ nông nghiệp của các
hộ nông dân nghèo.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giá cả, biến động giá cả, nghèo và
tiêu chuẩn nghèo, ứng xử của hộ nông dân.
- Tìm hiểu thực trạng nghèo đói và biến động giá cả trên địa bàn xã Xuân Vinh.
- Tìm hiểu ảnh hưởng của biến động giá cả đến sản xuất và thu nhập từ nông
nghiệp của các hộ nông dân nghèo trên địa bàn xã Xuân Vinh.

PHẦN 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG GIÁ CẢ
ĐẾN SẢN XUẤT VÀ THU NHẬP CỦA CÁC HỘ NGHÈO
2.1 Biến động giá cả
2.1.1 Khái niệm biến động giá cả
2.1.1.1 Giá đầu vào
Đầu vào là các chi phí về lao động, vật tư, tiền vốn trong hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Theo quan điểm cổ điển, đầu vào chỉ bao gồm nguyên liệu, vốn và lao
động còn theo quan điểm mới ngoài các yếu tố trên đầu vào còn có đóng góp
của tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, đầu vào này sẽ chiếm một tỷ trọng rất
lớn so với các đầu vào còn lại.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế, đầu vào là các nhân tố sản xuất (tư
bản, lao động,…) được đưa vào quá trình sản xuất và kết hợp với nhau để tạo
ra sản lượng. Nó là các khoản tài nguyên tiêu tốn tính theo giá thị trường và
được biểu hiện bằng chi phí sản xuất: tiền mua nguyên vật liệu vật tư, chi phí
thuê lao động, địa điểm,…Trong sản xuất kinh doanh các chủ doanh nghiệp
phải lựa chọn đầu vào tối ưu và sử dụng có hiệu quả các đầu vào đó để tối
thiểu hoá chi phí sản xuất và tối đa lợi nhuận
Giá cả các yếu tố đầu vào sẽ quyết định đến chi phí của quá trình sản xuất,
giá đầu vào mà thấp thì lượng sản phẩm sản xuất ra tăng, người sản xuất mở
rộng quy mô do nguồn vốn không đủ và giá sản phẩm đầu ra tăng ảnh hưởng
đến thu nhập. Ngược lại nếu giá của các yếu tố đầu vào quá cao sẽ làm cho giá
thành sản xuất sản phẩm hàng hóa dịch vụ tăng lên làm giảm lợi nhuận của đơn

5


vị sản phẩm. Trên thị trường người mua luôn muốn mua rẻ, do vậy nếu giá
thành sản phẩm hàng hóa cao dẫn tới sản phẩm hàng hóa khó tiêu thụ, hàng hóa

Giá cả cũng biến động theo thời gian theo các dạng khác nhau (Trần Hữu
Cường, 2008): sự thay đổi giá theo mùa vụ , biến động theo năm, thay đổi theo
xu hướng và theo chu kỳ:
- Biến động theo mùa vụ: đây là một quy luật chung nhất đối với các nông
sản hàng hoá. Thông thường đối với những hàng hoá có thể dự trữ được, giá của
nó thấp nhất vào thời điểm thu hoạch, tăng dần theo thời gian dự trữ và cao nhất
là vào lúc giáp hạt vụ thu hoach tới.
- Biến động hàng năm: trong nông nghiệp, một yếu tố cơ bản làm biến
động giá hàng năm đó là sự thay đổi lượng cung. Cung sẵn có của một năm chủ
yếu dựa trên khối lượng sản xuất của năm đó và tất nhiên cũng phụ thuộc vào
lượng nhập khẩu và dự trữ của năm đó. Năm nào lượng cung nhiều thì giá cả có
xu hướng giảm xuống.
- Biến động theo chu kỳ: một chu kỳ thường được lặp đi lặp lại theo thời
gian. Ví dụ, hạn hán làm giảm cung và tăng giá. Khi giá cao người sản xuất tìm
cách tăng sản lượng ở kỳ tiếp theo, điều này dẫn đến kết quả giá thấp hơn. Do
giá thấp lại tác động đến sản lượng giảm và cứ như vậy lặp đi lặp lại. Chiều dài
của chu kỳ là khoảng thời gian từ điểm cao nhất đến điểm thấp nhất tiếp theo
hoặc từ điểm thấp nhất đến điểm cao nhất tiếp theo.
- Biến động giá cả theo xu hướng: xu hướng của giá liên quan tới lạm
phát và giảm phát chung của nền kinh tế và các yếu tố như: sự thay đổi sở thích
và thị hiếu của người tiêu dùng, tăng dân số và thu nhập cũng như sự thay đổi kỹ
thuật công nghệ sản xuất. Một lần tăng giá sẽ dẫn tới kết quả là lượng cung tăng
trong hai, ba hoặc nhiều năm.

7


2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến biến động giá cả
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến biến động giá cả hàng hoá trên thị
trường, có thể tổng hợp các yếu tố sau:


S1

Q1 Q2

P2

D2
Q

D

0

Đồ thị 2.1: Tác động của cầu đến giá cả

Q1

Q2

Q

Đồ thị 2.2: Tác động của cung đến giá cả

8


Dựa vào đồ thị, ta thấy tác động của cung - cầu lên giá là rất rõ. Khi các
yếu tố khác không đổi, cầu thị trường tăng từ Q 1 đến Q2 thì giá cũng tăng từ P1
lên P2. Khi các yếu tố khác không đổi, cung tăng từ Q 1 đến Q2 thì giá giảm từ P1

dụng tương tự. Trong điều kiện bình thường khi giá các sản phẩm có liên quan
giảm xuống thì giá của sản phẩm cũng có xu hướng giảm xuống và ngược lại
khi giá sản phẩm liên quan tăng lên thì giá của sản phẩm tăng theo.
2.1.3 Giá cánh kéo
Trong thương mại, các quốc gia hay vùng có trao đổi với nhau về các sản
phẩm khác nhau hay cùng một loại sản phẩm. Như vây, thương mại là thể hiện
sự liên kết kinh tế thông qua trao đổi hàng hoá giữa các vùng trong một quốc
gia, giữa thành thị với nông thôn, giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa nước
này với nước kia. Để xác định mối thương mại đó, trong kinh tế người ta dùng
phạm trù giá cánh kéo (terms of trade).
Giá cánh kéo là tỷ số giữa giá của sản phẩm này so với giá của sản phẩm
khác (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997). Ví dụ như, giá cánh kéo của gạo
với dầu ăn là: 1 lít dầu ăn loại Meizan giá 28 nghìn đồng, tương đương với 4,2
kg gạo tạp giao. Giá cánh kéo này thể hiện sự bất lợi cho nông dân, phải mua giá
dầu ăn cao trong khi giá gạo mình sản xuất ra lại rẻ. Để tính được giá trị cánh
kéo, chúng ta cần phải xác định được chỉ số giá cổng trại mà người sản xuất
nhận được cũng như chỉ số giá tiêu dùng. Các chỉ tiêu này phải tính cho những
năm có điều kiện bình thường về thời tiết, khí hậu và thị trường. Tuỳ theo mục
đích phân tích, sử dụng và các loại giá dùng để tính mà có thể có các loại giá
cánh kéo sau đây:
- Giá cánh kéo tính từ giá đầu vào: để thấy được mối quan hệ giữa nông
nghiệp với công nghiệp và sự hỗ trợ của Chính phủ với sự phát triển nông

10


nghiệp, nông thôn người ta tính giá cánh kéo giữa giá cổng trại các nông sản chủ
yếu như lúa gạo với giá đầu vào như phân bón (lân, kali, đạm...).
- Giá cánh kéo tính từ giá tiêu dùng thành thị: để thấy được mối quan hệ
giữa thành thị với nông thôn, công nghiệp với nông nghiệp, người ta dùng giá

- Xác định về mặt lượng nghèo đói có thể đo trực tiếp bằng cách đánh giá
xem hộ gia đình có được hưởng các tiêu chuẩn như: được sử dụng nước sạch, có
đủ thức ăn, có điều kiện đi khám bệnh, học hành và những tiêu chuẩn khác.
- Xác định gián tiếp bằng cách xem hộ gia đình có đủ nguồn tài chính để
mua hàng hoá và những dịch vụ cần thiết (chính là số lượng thu nhập hoặc chi
tiêu được xác định của một hộ).
Thứ hai, “nghèo” là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có các điều
kiện về vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống gia đình họ ở mức sống tối
thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng. “Đói” là một bộ phận của những hộ
nghèo mà các điều kiện sống của họ chưa đạt tới mức tối thiểu.
2.2.1.2 Tiêu chuẩn nghèo đói của Việt Nam
Chuẩn nghèo giai đoạn 2006 – 2010 được xây dựng trên cơ sở quan trọng
nhất là “mức chi tiêu của hộ gia đình”. Trong đó, chi tiêu cho lương thực, thực
phẩm đảm bảo năng lượng bình quân 2100 Kcalo/ngày/người được xem là vấn
đề cốt lõi. Giá của khối lượng hàng hoá lương thực, thực phẩm để đảm bảo 2100
kcalo được tính trên cơ sở giá trung bình của khoảng 40 mặt hàng lương thực,
thực phẩm thiết yếu ở từng khu vực (thành thị và nông thôn). Cơ cấu chỉ tiêu
cho lương thực, thực phẩm được xác định chiếm 60% trong tổng chi tiêu, còn lại
40% thuộc về chi tiêu phi lương thực, thực phẩm. Ngoài ra, cùng với kết quả dự
báo về mức thu nhập của nhóm hộ có thu nhập thấp và yếu tố trượt giá (7 –
8%/năm), tốc độ tăng GDP (7,5 – 8%), mức tăng của tiền lương (10 – 20%) và
các yêu cầu ưu tiên đầu tư, xoá đói giảm nghèo cho khu vực nông thôn miền núi.

12


Giai đoạn 2001 – 2005, những hộ có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực
nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ
nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân
đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành

sau:
Biến động giá cả

Thay đổi quy mô,
phương hướng
sản xuất

Thay đổi thu
nhập

Tăng đi làm thuê

Sơ đồ 2.1 Ảnh hưởng của biến động giá cả tới sản xuất và thu nhập của các
hộ nghèo
2.2.3 Ứng xử của các nông hộ
2.2.3.1 Khái niệm ứng xử
Nguyễn Khắc Viện (1991) cho rằng ứng xử được hiểu chỉ là mọi phản
ứng của động vật khi một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích, các yếu tố
bên ngoài và bên trong gộp lại thành một tình huống và tiến trình ứng xử để kích
thích có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh.
Theo từ điển tiếng Việt (1995) do Hoàng Phê chủ biên, ứng xử được định
nghĩa là thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong giao tiếp.
Còn theo hai tác giả Lê Thị Bừng và Hải Vang (2001) trong cuốn tâm lý
học ứng xử đã đưa ra khái niệm ứng về ứng xử, đó chính là sự phản ứng của con
người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể

14


nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong phản ứng có sự

thương nhân và dễ dàng tiêu thụ được sản phẩm. Còn các hộ nông dân ở các
vùng xa xôi, điều kiện đi lại khó khăn, người nông dân sẽ khó tiếp cận thị trường
và gặp nhiều khó khăn trong vận chuyển và lưu thông hàng hóa.
* Yếu tố về đặc điểm điều kiện của vùng
Điều kiện tự nhiên của vùng: đóng vai trò to lớn trong quá trình ra quyết
định của hộ, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp. Môi trường sinh thái phù
hợp với đặc điểm sinh học của cây trồng, vật nuôi sẽ góp phần nâng cao năng
suất và hiệu quả cho người sản xuất.
Truyền thống văn hóa, dân tộc: Những nông dân ở vùng sâu, vùng xa,
thuộc các dân tộc ít người thường có truyền thống canh tác nương, rẫy mang
nhiều tính tự nhiên và kém nhanh nhạy hơn so với người Kinh trong việc ra
quyết định sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Cá tính của nông dân cũng ảnh hưởng đến quyết định sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm. Nông dân thường có tính bảo thủ, tính “ì” tránh rủi ro, khó thay đổi.
Hệ thống chính sách cũng là một yếu tố ảnh hưởng đáng kể. Chủ trương,
chính sách của địa phương ưu tiên phát triển loại cây, con gì thì cây, con đó sẽ
có lợi thế phát triển và ngược lại.
* Thị trường tiêu thụ sản phẩm:
Hệ thống thông tin thị trường, trong đó diễn biến về giá cả sản phẩm, giá
vật tư, nhu cầu thị trường…có ảnh hưởng lớn tới việc ra quyết định của các hộ
nông dân. Các thông tin này đầy đủ, chính xác sẽ giúp cho người sản xuất có kế
hoạch điều chỉnh sản xuất kịp thời, giảm được rủi ro có thể do thị trường mang
lại.
2.3 Biến động giá cả của một số nước trên thế giới

16


Đầu năm 2008, thế giới bàng hoàng trước cơn bão có tên là giá lương
thực, dù đã được dự báo. Đã có ít nhất 37 nước trên thế giới phải đối mặt với

Hơn 1/3 dân số thế giới hiện đang sống dưới sự kiểm soát giá cả, việc trợ
cấp để người dân vẫn có gạo và bánh mỳ để ăn đã ngốn sạch các quỹ dự trữ.
Trường học sẽ không mở cửa, đuờng sá và cầu cảng sẽ không được xây dựng,
mạng lưới điện sẽ không được mở rộng. Các ngân hàng trung ương đang từ bỏ
sự tăng trưởng để kiềm chế nạn lạm phát du nhập từ nước ngoài.
Tại Trung Quốc
Do ảnh hưởng nặng của sự suy thoái kinh tế Mỹ, thời gian qua nền kinh tế
Trung Quốc cũng gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là các mặt hàng biến động
mạnh. Giá lương thực bấp bênh đã tác động mạnh tới Trung Quốc và các nước
Đông Nam Á, vốn là khu vực sản xuất và tiêu thụ lương thực chủ yếu của thế
giới. Đối với phần lớn các nước Đông Nam Á, lương thực tăng giá đã cản trở nỗ
lực xoá đói giảm nghèo, đồng thời ảnh hưởng lớn tới sự phát triển xã hội.
Tình hình không sáng sủa hơn đối với các tỷ phú ở phần còn lại của thế
giới. Một cuộc điều tra mới đây cho thấy, bắt đầu từ năm ngoái, tổng số tài sản
của 400 người giàu nhất Trung Quốc đã bị mất 40%, chỉ còn lại 173 tỷ USD.
Tình hình này đã khiến số tỷ phú Trung Quốc đã giảm từ 66 người năm 2007
xuống còn 24 người hiện nay, nếu đồng nhân dân tệ không tăng giá đối với USD
thì tỷ phú còn giảm hơn nữa. Theo tạp chí Forbes thì riêng 40 người đứng đầu
danh sách nhà giàu nước này đã mất 68 tỷ USD, tức 57% tổng số tài sản.
2.4 Thực trạng về sự biến động giá cả trong thời gian qua tại Việt Nam
Chưa có năm nào giá cả lại biến động mạnh như thời gian qua, hầu hết
các mặt hàng thiết yếu đều đã tăng khá cao, trong số đó có không ít mặt hàng đã
tăng giá gấp rưỡi, gấp đôi so với cùng kỳ năm 2006. Vượt qua sự dự đoán của
các chuyên gia kinh tế chỉ số giá tiêu dùng cả năm của nước ta đã tăng đến

18


12,63% so với tháng 12/2006, chỉ số giá bình quân năm tăng 8,3% so với bình
quân năm 2006. Trong các mặt hàng tăng giá thì giá cả của mặt hàng lương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status