Phần 1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển
biến tích cực, biểu hiện tập trung qua mức tăng trưởng GDP tương đối nhanh.
Thêm vào đó là chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước tạo nhiều cơ hội
thuận lợi cho các doanh nghiệp hòa nhập vào nền kinh tế thị trường. Cùng với
sự phát triển của ngành thương mại, Siêu thị là loại hình kinh doanh bán lẻ mới
xuất hiện ở nước ta vào những năm đầu của thập niên 90. Được hình thành và
phát triển trong quan hệ mật thiết với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa
trên quy mô toàn thế giới. Kinh doanh siêu thị ra đời đã làm thay đổi diện mạo
ngành thương mại bán lẻ của đất nước, mở ra một loại cửa hàng văn minh, hiện
đại và tiện nghi cho người mua sắm Việt Nam; làm thay đổi thói quen mua sắm
truyền thống của người dân và góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nói
chung.
Siêu thị xuất hiện phổ biến ở nước ta chủ yếu là tại các thành phố lớn
như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… tại các tỉnh lẻ thì đây vẫn là
loại hình kinh doanh khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp thương mại. Tuy
nhiên, trong thực tế thì cho thấy sự phát triển về kinh tế, văn hóa xã hội của
người dân trong nước ngày một tăng lên, đời sống của người dân ngày một
được cải thiện, nhu cầu không chỉ dừng lại ở sự thõa mãn những nhu cầu cơ
bản mà còn thể hiện những nhu cầu ở mức độ cao hơn và việc mua hàng hóa
tiêu dùng cũng được chú trọng hơn. Chính vì thế mà kinh doanh bán lẻ theo
hình thức siêu thị sẽ trở thành tất yếu cùng với sự phát triển của xã hội và nhất
là ở thời buổi nền kinh tế trong quá trình hội nhập của nước ta nhiện nay.
Yên Định là một huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa, trong 10 năm (20002010) huyện tập trung phát triển kinh tế, tốc độ tăng GDP bình quân 10% năm,
tăng gấp 2,6 lần so với năm 2009, tổng thu nhập bình quân của nhân dân là
12,89 triệu đồng/năm. Hệ thống giao thông trong vùng được đầu tư xây dựng
tương đối đầy đủ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại…Từ những thành tựu
1
-
Thực trạng về hoạt động kinh doanh của siêu thị Kiểu thuộc Công ty cổ
phần thương mại Thiệu Yên.
-
Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh của siêu thị Kiểu
thuộc Công ty Cổ phần thương mại Thiệu Yên trên địa bàn huyện Yên Định.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2
♦
Đối tượng nghiên cứu: hoạt động kinh doanh tại “Siêu thị Kiểu” và những
nhân tố tác động tới việc phát triển kinh doanh siêu thị của Công ty cổ phần
thương mại Thiệu Yên.
♦
Phạm vi nghiên cứu:
-
Không gian: siêu thị tại ngã ba Kiểu, xã Yên Trường, huyện Yên Định,
tỉnh Thanh Hóa.
-
nghĩa là "siêu" và "market" là "thị trường" ("chợ"). Ngày nay có nhiều khái
niệm về siêu thị.
Trên thế giới hiện có một số khái niệm về siêu thị như sau:
Theo Philips Kotler, siêu thị là "cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có
mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối luợng hàng hóa bán ra
lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột
giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa".
Theo nhà kinh tế Marc Benoun của Pháp, siêu thị là "cửa hàng bán lẻ
theo phương thức tự phục vụ có diện tích từ 400m 2 đến 2500m2 chủ yếu bán
hàng thực phẩm"
Tại Anh người ta định nghĩa “Siêu thị là cửa hàng buôn bán tạp phẩm,
bán thực phẩm, đồ uống và các loại hàng hoá khác, thường đặt tại thành phố,
dọc đường cao tốc hoặc trong khu buôn bán có diện tích khoảng từ 4.000 đến
25.000 bộ vuông. Trong vòng 10-15 năm trở lại đây, rất nhiều siêu thị đã được
xây dựng ở ngoài thành phố hoặc ngoại ô.
Theo Từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z:
"Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm, đồ uống, dụng cụ
Sáng tạo nghệ thuật trưng bày hàng hoá: qua nghiên cứu cách thức vận
động của người mua hàng khi vào cửa hàng, người điều hành siêu thị có cách
bố trí hàng hóa thích hợp trong từng gian hàng nhằm tối đa hoá hiệu quả của
không gian bán hàng. Do người bán không có mặt tại các quầy hàng nên hàng
hóa phải có khả năng "tự quảng cáo", lôi cuốn người mua. Siêu thị làm được
điều này thông qua các nguyên tắc sắp xếp, trưng bày hàng hóa nhiều khi được
nâng lên thành những thủ thuật. Chẳng hạn, hàng có tỷ suất lợi nhuận cao được
ưu tiên xếp ở những vị trí dễ thấy nhất, được trưng bày với diện tích lớn; những
hàng hóa có liên quan đến nhau được xếp gần nhau; hàng khuyến mại phải thu
hút khách hàng bằng những kiểu trưng bày đập vào mắt; hàng có trọng lượng
lớn phải xếp ở bên dưới để khách hàng dễ lấy; bày hàng với số lượng lớn để tạo
cho khách hàng cảm giác là hàng hoá đó được bán rất chạy...
Hàng hóa chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày như: thực phẩm, quần
áo, bột giặt, đồ gia dụng, điện tử... với chủng loại rất phong phú, đa dạng. Siêu
thị thuộc hệ thống các cửa hàng kinh doanh tổng hợp, khác với các cửa hàng
chuyên doanh chỉ chuyên sâu vào một hoặc một số mặt hàng nhất định. Theo
quan niệm của nhiều nước, siêu thị phải là nơi mà người mua có thể tìm thấy
mọi thứ họ cần và với một mức giá "ngày nào cũng thấp" (everyday-low-price).
Chủng loại hàng hóa của siêu thị có thể lên tới hàng nghìn, thậm chí hàng chục
nghìn loại hàng. Thông thường, một siêu thị có thể đáp ứng được 70-80% nhu
cầu hàng hóa của người tiêu dùng về ăn uống, trang phục, mỹ phẩm, đồ làm
bếp, chất tẩy rửa, vệ sinh...
Trong các đặc trưng trên, phương thức bán hàng tự phục vụ và nghệ thuật trưng
bày hàng hoá của siêu thị đã mở ra kỷ nguyên thương mại bán lẻ văn minh hiện
đại.
2.1.1.2 Nguyên tắc hình thành siêu thị
độ quản lý, chất lượng đội ngũ lao động hoạt động trong các siêu thị…
2.1.1.3 Phân loại siêu thị
∗ Phân theo quy mô
Theo quy định của Bộ Công Thương Việt Nam, siêu thị được phân làm
3 hạng:
Siêu thị hạng I
Ngoài các tiêu chuẩn về kiến trúc hiện đại, kho hàng, kỹ thuật bảo quản,
khu vệ sinh, khu giải trí:
Các siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
-
Có diện tích kinh doanh từ 5.000m2 trở lên.
-
Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên;
7
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
-
Diện tích từ 1.000m2 trở lên.
-
Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 2.000 tên hàng trở lên
Siêu thị hạng II
Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
Diện tích từ 500m2 trở lên (như siêu thị tổng hợp).
-
Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 500 tên hàng trở lên
∗ Phân theo hàng hóa kinh doanh
Siêu thị tổng hợp: siêu tị bán nhiều loại hàng hóa cho mọi khách hàng.
Hiện nay siêu thị tổng hợp đang ngày càng phát triển, có những siêu thị từ vài
nghìn đến vài chục ngàn loại hàng hóa được bày bán trong siêu thị. Những siêu
thị này cung cấp một chuỗi hoàn chỉnh những mặt hàng tổng hợp, từ thực
phẩm, dụng cụ gia đình, các mặt hàng tiêu dùng đến quần áo, giày dép…đáp
ứng mọi nhu cầu.
Siêu thị chuyên doanh: là siêu thị bán một hoặc một số hàng hóa của
một ngành nào đó. Một số loại siêu thị chuyên doanh như: siêu thị máy tính,
siêu thị điện thoại di động, siêu thị trái cây, siêu thị điện máy, siêu thị sách,
siêu thị đĩa ốc… siêu thị chuyên doanh cung cấp các loại hàng hóa có tính
chuyên sâu cao, có tính đặc thù của ngành hàng mà không một ngành hàng nào
có thể cung cấp.
∗ Phân theo cấp quản lý
8
Siêu thị kinh doanh độc lập: các siêu thị hoạt động đơn lẻ, thương nhân
có thế mạnh mặt hàng nào thì kinh doanh mặt hàng đó, không có sự kiên kết
với các siêu thị khác để bổ sung nguồn hàng cho nhau.
Chuỗi siêu thị: là mô hình siêu thị mà một doanh nghiệp có thể mở
nhiều siêu thị ở các địa điểm khác nhau, kinh doanh các mặt hàng tương tự
nhau và chịu sự thống nhất quản lý của doanh nghiệp kinh doanh siêu thị. Việc
thành lập chuỗi siêu thị giúp doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh
sắm ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước tại các đô thị lớn, đồng thời
góp phần hoàn thện hệ thống lưu thông-phân phối hàng hóa theo xu hướng hội
nhập kinh tế quốc tế của nền thương mại Việt Nam.
Nếu như trước kia tỷ lệ hàng bán trong siêu thị chiếm tỷ trọng từ 95100% nhập khẩu nay chỉ còn khoảng 70% và tỷ lệ này càng thấp đi. Điều này
cho thấy siêu thị ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong hệ thống phân
phối hàng hóa của Việt Nam. Siêu thị đã tìm thấy chỗ đứng trên thị trường Việt
Nam, góp phần tạo dựng nền văn minh thương mại tại các địa phương và đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trong đời sống hiện đại. Siêu thị chiếm một vị trí quan
trọng trong hệt hống phân phối. Nếu như trước đây, người tiêu dùng phải di
chuyển rất nhiều nơi, đi đến rất nhiều địa điểm bán hàng mới có thể mua đủ các
loại hàng hóa mà mình mong muốn thì hiện nay đi siêu thị người tiêu dùng có
thể mua được mọi loại hàng hóa cần thiết.
Siêu thị là cầu nối quan trọng giữa sản xuất và tiêu dùng. Siêu thị giúp
giải quyết được nhiều mâu thuẫn trong kênh phân phối hàng hóa.
Siêu thị là một loại của hàng riêng nằm trong hệ thống mạng lưới bán lẻ
hàng hóa và dịch vụ, với mặt hàng kinh doanh chủ yếu là các hàng hóa thuộc
nhu cầu hàng ngày.
Ở các nước phát triển, siêu thị là một thành phần không thể thiếu trong
mạng lưới bán lẻ hàng hóa. Siêu thị đã trở nên quen thuộc trong đời sống hàng
ngày của người dân.
Hiện nay tại các thành phố, khu đô thị và khu công nghiệp, sức tiêu
dùng cá nhân tăng nhanh chóng. Số lượng người nước ngoài và Việt kiều đến
Việt Nam du lịch, đầu tư làm ăn ngày càng nhiều. Việc đáp ừng nhu cầu tiêu
dùng của tầng lớp khách hàng này đang trở nên cần thiết. Trên thực tế, với
những thuận lợi trong việc đáp ứng nhu cầu hàng hóa của người dân, các siêu
thị đang ngày càng trở nên quen thuộc với cả các tầng lớp bình dân, người dân
10
Đối với nhà sản xuất:
- Siêu thị đóng vai trò cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng.
- Giúp nhà sản xuất quảng cáo giới thiệu sản phẩm mới đến người tiêu
dùng.
- Giúp nhà sản xuất mở rộng thị trường tiêu thụ.
- Giúp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng.
- Đối với Việt Nam, siêu thị còn là một kênh quan trọng để tiêu thụ và
quảng bá cho thương hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao.
∗ Đối với người tiêu dùng:
- Siêu thị với phuơng thức bán hàng văn minh hiện đại, nhiều chuơng
trình khuyến mãi, nghệ thuật trưng bày hàng hóa đẹp mắt giúp kích thích nhu
cầu người tiêu dùng.
- Siêu thị đang dần thay thế các loại hình truyền thống để phục vụ nhu cầu
đa dạng của người tiêu dùng.
11
- Siêu thị nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng để có chính sách phân phối
hàng hợp lý.
Tóm lại, các siêu thị tổng hợp và chuyên doanh có vai trò quan trọng
trong việc giải quyết được rất nhiều mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng hàng
hóa:
Trong quá trình phân phối hàng hóa các siêu thị nắm bắt được nhu cầu
thực tế của thị trường cả về sản phẩm, thời gian và không gian nên có thể
chuyển tải những thông tin cần thiết về nhu cầu thị trường cho những người sản
xuất và cung ứng hàng hóa. Điều này tạo lập cầu nối để dẫn dắt người sản xuất
định hướng và nhu cầu thị trường, giảm thiểu các tầng, các lớp trung gian trong
2.1.3 Tình hình phát triển siêu thị trên thế giới và xu hướng phát triển
2.1.3.1 Tổng quát về các giai đoạn phát triền của hệ thống siêu thị trên thế
giới:
Qua khảo sát hệ thống phân phối ở các nước châu Âu, châu Mỹ người ta
thấy sự ra đời của siêu thị là đổi mới của phương thức bán hàng từ những cửa
hàng tổng hợp cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.
Pháp
Cửa hàng lớn đầu tiên là La Bell Jardi-niere, do Piere Parissot thành lập ở
Paris 1824 có phương thức bán hàng, nhấn mạnh đến khâu các mặt hàng của
ông đều được bán theo giá cố định và bán thu tiền mặt; làm đảo lộn các tập
quán mua bán từ trước là dựa trên 2 nguyên tắc lớn: sự mặc cả về giá hàng giữa
người bán - người mua và bán chịu.
Năm1852 Au Bon Marche’ do Aristide Boucicaut cùng với cộng sự là
Justin Videau sáng lập, có đặc trưng giống siêu thị, tiên phong trong việc áp
dụng phương thức bán hàng cải tiến so với những phương thức truyền thống đã
có từ truớc: hàng hóa được niêm yết giá và dán rõ ràng, nhiều loại hàng hóa,
quảng cáo, lợi nhuận thấp (13,5%) để giám giá bán làm tăng doanh thu bán
hàng, khách hàng tự do tiếp xúc, xem xét hàng hóa và không bắt buộc phải
mua...
Bardour là người khai trương siêu thị đầu tiên tại Pháp, là chuỗi cửa hàng
liên nhánh Goulet Tourpin mở ra vào năm 1957 tại Reuil Malmaison. Đến
1973 thì đã có hàng nghìn siêu thị tại Pháp. Các nhà bán lẻ Pháp đã phát triển
thành các đại siêu thị (hypermarket). Đại siêu thị đầu tiên có tên là: Carrefour
khai trưong ngày 15/06/1963 tại Sainte Genevieve-des Bois, Paris. Hiện nay
Carrerfour là nhà bán lẻ lớn thứ hai thế giới sau Wal-Mart. Đến nay có hơn
13
1300 đại siêu thị ở Pháp, trong đó 6 cái lớn nhất là: Carrefour, Leclerc,
14
châu Á, siêu thị mới đang ở giai đọan hình thành hoặc đang bắt đầu phát triển.
Những thị trường đang bước vào thời kỳ phát triển của thương nghiệp bán lẻ
hiện đại như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha , Hy Lạp, Maroc và các nước Đông
Âu. Những thị trường tiềm năng lớn trong tương lai là các nước Châu Á như
Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Việt
Nam…
Ở Châu Á
Siêu thị của Trung Quốc đã phát triển rất mạnh vào đầu thập kỷ 90, với tốc
độ tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 70%. Thái Lan: hiện nay hệ thống
bán lẻ hiện đại của Thái Lan có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng
trưởng của hệ thống bán lẻ truyền thống. Siêu thị ở Thái Lan chủ yếu tập trung
ở Băng Cốc. Tại Băng Cốc có đến 75% siêu thị trong khi đó dân số của khu
vực này chỉ chiếm 20% dân số của Thái Lan.
Các nước Châu Mỹ La tinh
Từ chỗ các nước chỉ có một vài siêu thị ở thủ đô trong giai đoạn những năm
1960-1980, đến cuối thập kỷ 1980 và suốt thập kỷ 1990, người ta đ. được
chứng kiến sự phát triển ngoạn mục của hệ thống chuỗi siêu thị, từ các nước
lớn và giàu có cho tới những nước nhỏ và nghèo hơn. Các tập đoàn siêu thị đa
quốc gia, như Wal-Mart, Carrefour, và Ahold, là những nhà đầu tư trực tiếp
nước ngoài chi phối hệ thống bán lẻ ở Châu Mỹ La Tinh. Vào giữa những năm
1990, hệ thống chuối siêu thị đã lan tới các thành phố cấp hai của các nước.
Đến cuối những năm 1990, hệ thống siêu thị đã thu hút được ngay cả những
khách hàng có thu nhập thấp.
2.1.3.3 Các xu hướng phát triển
Thứ nhất, ngày nay hầu hết mọi nơi đều phát hành những lọai thẻ đặc
Kết hợp đồng đặc quyền kinh tiêu. Ví dụ, theo cách này, hàng chục cửa
hàng mang bảng hiệu Printemps đã được nhân rộng ở Bồ Đào Nha, Ảrập Xêút,
Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Đài Loan, Nam Triều Tiên, Trung Quốc.
-
Mỗi quốc gia có những nét đặc trưng riêng trong quá trình quốc tế hóa
ngành công nghiệp phân phối. Nếu như “cửa hàng hạ giá” là loại hình cửa hàng
được các công ty bán lẻ Đức áp dụng nhiều nhất khi mở rộng ra nước ngoài,
các công ty Mỹ nổi tiếng với phương thức trung tâm phân phối và Hà Lan được
biết đến với truyền thống kinh doanh siêu thị, hiện tại siêu thị là loại cửa hàng
được nước Pháp ưu ái nhất khi tiến ra các thị trường nước ngoài.
2.1.4 Sự ra đời và kinh nghiệm kinh doanh của siêu thị một số nước trên
thế giới
2.1.4.1 Trung Quốc
Thị truờng bán lẻ Trung Quốc (TQ) có nhiều điểm tuơng đồng với Việt
Nam vể đặc điểm thị trường, thói quen mua sắm của người tiêu dùng. Ngay từ
năm 1992 Chính phủ TQ đã cho phép các doanh nghiệp (DN) nước ngoài đầu
tư vào lĩnh vực phân phối hàng hoá. Kinh nghiệm TQ, sau khi mở cửa có
16
khoảng 40 tập đoàn phân phối lớn của nước ngoài tràn vào khai thác thị trường
nước này, hơn 60% doanh thu rơi vào tay họ, đặt các tập đoàn bán lẻ của TQ
vào tình thế phá sản. Chính phủ TQ ban hành Pháp lệnh bán lẻ và đưa ra một
số quy định nhằm hạn chế sự phát triển siêu thị của các tập đoàn nước ngoài
đang đầu tư mở thêm siêu thị ở Trung Quốc như hạn chế về diện tích kinh
doanh, hạn chế về số lượng siêu thị tại một tỉnh hay một thành phố thông qua
riêng lẻ, không cho hình thành chuỗi liên kết để chi phối thị trường. Chính Phủ
cũng ban hành quy định về thương mại công bằng đối với các siêu thị nhằm
ngăn chặn tình trạng hạ giá quá nhiều để chiếm lĩnh thị trường. Ngoài ra Thái
Lan cũng thành lập Liên minh bán lẻ để giúp các siêu thị truyền thống trong
nước làm quen với các hình thức bán lẻ hiện đại và giúp các siêu thị nhỏ trong
nước có được quyền lực thị trường tương đương với các siêu thị lớn của nước
ngoài. Áp dụng vào trường hợp ở Việt Nam, Nhà nuớc mở cửa cho DN phân
phối nuớc ngoài xây dựng nhưng chỉ cho xây dựng siêu thị đầu tiên, từ siêu thị
thứ 2 trở đi nên xem xét kỹ, khống chế DN phân phối nuớc ngoài hình thành
chuỗi liên kết để chi phối thị trường. Cũng như Liên minh bán lẻ Thái Lan,
Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam(AVR) nên tăng cuờng mối liên kết và những
họat động hỗ trợ DN bán lẻ Việt Nam.
2.1.5 Sự ra đời và phát triển hoạt động kinh doanh của các siêu thị ở Việt
Nam
2.1.5.1 Thực trạng phát triển siêu thị ở Việt Nam
Do đặc trưng lịch sử phát triển kinh tế, siêu thị tại Việt Nam ra đời khá
muộn. Quá trình hình thành và phát triển của siêu thị Việt Nam trải qua các
thời kỳ:
Thời kỳ 1993 - 1994: Những siêu thị đầu tiên ra đời tại thành phố Hồ
Chí Minh.
Thời kỳ 1995 - 1997: Mở rộng ra các thành phố lớn trên cả nước: Trong
thời kỳ này bắt đầu có sự xuất hiện của các siêu thị ở Hà Nội vào đầu năm
1995.
Từ năm 1998 đến nay: Cạnh tranh, đào thải và chuyên nghiệp hơn: Do
sự xuất hiện ồ ạt, kinh doanh không bài bản, thiếu kiến thức thương nghiệp và
phải cạnh tranh với các hình thức bán lẻ truyền thống như chợ, cửa hàng, hàng
rong và cạnh tranh lẫn nhau nên rất nhiều siêu thị đó đã vỡ nợ, phá sản, làm ăn
thua lỗ và có nguy cơ phá sản. Những siêu thị còn tồn tại và phát triển là nhờ
những nhà quản lý tỉnh táo hơn, có hướng phát triển phù hợp.
diện tích kinh doanh càng lớn thì sẽ mở rộng được quy mô kinh doanh của siêu
thị, đa dạng hóa nhiều loại sản phẩm khác nhau và sáng tạo các cách trưng bày
hàng khác nhau thu hút được người mua hàng. Điều kiện bố chí các hoạt động
kinh doanh trong siêu thị. Bên cạnh đó đáp ứng một trong số các tiêu chuẩn về
19
siêu thị theo quy chế siêu thị, trung tâm thương mại (Ban hành kèm theo Quyết
định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24 tháng 09 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ
Thương mại) cũng phần nào đánh giá được quy mô của siêu thị to hay nhỏ.
∗ Hệ thống kho và trang thiết bị phục vụ kinh doanh
Hệ thống kho bãi rộng rãi, đầy đủ phương tiện bảo quản, có ý nghĩa
quan trong công tác bảo quản hàng hóa tránh bị hao hụt và dự trữ hàng hóa
đảm bảo cho hoạt động bán hàng tại siêu thị diễn ra liên tục.
Trang thiết bị: hệ thống máy móc hiện đại, trang thiết bị để bảo quản và
trưng bày hàng hóa đầy đủ, chất lượng thì sẽ phục vụ cho hoạt động kinh doanh
diễn ra thuận lợi hơn.
∗ Nhân sự
Nhân sự trong bất kỳ doanh nghiệp nào cũng rất quan trọng, nhất là
trong doanh nghiệp thương mại. Đối với siêu thị thì tất cả các hoạt động đều
phụ thuộc vào khả năng làm việc của nhân viên siêu thị.
Với đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp, tác phong làm việc
nhanh nhẹn, nhiệt tình thân thiện với khách hàng; giỏi chuyên môn sẽ thu hút
và thõa mãn ngày một tốt hơn nhu cầu của khách hàng, góp phần đưa hoạt
động kinh doanh của siêu thị ngày một phát triển đi lên. Ngược lại thì sẽ làm
cho hoạt động kinh doanh của siêu thị kém hiệu quả; không đạt được những
nhiệm vụ đã đề ra.
2.1.7 Các chỉ tiêu kinh tế đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động kinh
doanh siêu thị
2.1.7.1 Doanh thu
chênh lệch giữa các khoản thu chi về hoạt động tài chính.
- Lợi nhuận bất thường: những khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp không
dự tính trước hoặc dự tính đến nhưng ít có khả năng thực hiện hoặc những
khoản thu không mang tích chất thường xuyên.
2.1.7.3 Mức doanh lợi trên doanh số bán
P1 = (P/DS) * 100%
P1: Mức doanh lợi trên doanh số bán ra trong kỳ.
P: lợi nhuận trong kỳ.
DS: doanh số bán hàng trong kỳ.
Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh số bán ra mang lại bao nhiêu đồng
lợi nhuận cho doanh nghiệp.
21
2.1.7.4 Mức doanh lợi trên vốn kinh doanh
P2 = (P/VKD) *100%
P2: mức lợi nhuận của vốn kinh doanh trong kỳ
P: lợi nhuận trong kỳ
VKD: tổng vốn kinh doanh trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn trong kỳ. Một đồng vốn kinh
doanh bỏ ra mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
2.1.7.5 Mức doanh lợi trên chi phí kinh doanh
P3 = (P/ CP) * 100%
Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí kinh doanh mang lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
2.2
Thu thập số liệu thứ cấp: tổng hợp, thống kê, chọn lọc thông tin từ các
dữ liệu khác như: báo, tạp chí, các luận văn, luận án, trên các phương tiệ thông
tin đại chúng…
22
-
Thu thập số liệu sơ cấp: hỏi chuyên gia, người quản lý, hỏi ý kiến khách
hàng, người dân địa phương:
Điều tra khách hàng đến mua hàng tại siêu thị. Với số mẫu điều tra là
50 mẫu. Bằng cách phát phiếu điều tra để thu thập thông tin khách hàng về
nghề nghiệp, giới tính, tần suất đến siêu thị để mua hàng của khách hàng,
những cảm nhận của khách hàng về chất lượng, sự đa dạng và giá cả của hàng
hóa tại siêu thị Kiểu như thế nào.
Phỏng vấn trực tiếp giám đốc siêu thị, trưởng phòng kinh doanh và
nhân viên siêu thị về hoạt động kinh doanh của siêu thị Kiểu.
2.2.3 Phương pháp phân tích
-
Sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối và số tương đối của các quý
Tháng 6/1991 sau khi các bên bàn bạc thống nhất và đi đến quyết định
thành lập Công ty thương mại Thiệu Yên, dưới sự quản lý của Nhà nước. Ông
Lê Xuân Túc làm giám đốc. Từ tháng 6/1991 đến 30/09/2000 cùng với sự giảm
biên chế, bố chí lại nhân sự, đơn vị đã dần ổn định sản xuất kinh doanh, đảm
bảo được vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên và đạt được những kết
quả đáng ghi nhận.
24
Sau 10 năm đi vào ổn định và phát triển kinh doanh Thương mại, cùng
với sự mở cửa cơ chế quản lý nền kinh tế Nhà nước. Nhiều đơn vị đã chuyển
đổi cổ phần tự hoạch toán thu – chi, độc lập về kinh tế dưới sự quản lý của Nhà
nước, đáp ứng thời kỳ phát triển kinh tế mở cửa và hội nhập kinh tế Đất nước.
Ngày 1/10/2000, đơn vị được sự nhất trí của các ban ngành quản lý có
liên quan chính thức chuyển hình thức kinh doanh từ hoạt động sản xuất kinh
doanh dưới sự quản lý của Nhà nước sang hình thức tự độc lập sản xuất kinh
doanh hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần, chuyển tên Công ty thành
Công ty Cổ phần Thương Mại Thiệu Yên – Thanh Hóa. Trụ sở chính đóng tại
Thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Đại diện pháp nhân: ông
Trịnh Xuân Tấn – chủ tịch HĐQT, kiêm giám đốc. Là một đơn vị chuyên kinh
doanh các mặt hàng:
-
Hàng phân bón, giống cây trồng, thức ăn gia súc, hàng công nghệ phẩm,
điện tử- điện máy- điện lạnh, dịch vụ ăn uống.
-
Kinh doanh vật liệu xây dựng.
Đồ gia dụng: điện gia dụng, đồ dùng gia đình…
-
Đồ điện tử: máy giặt, quạt…
-
Hàng văn phòng phẩm: bút, sách, giấy…
-
Hàng gia giày, túi xách, ví, cặp…
25