Đánh giá điều kiện tự nhiên và KT-XH cho phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển
tỉnh Hà Tĩnh
MỞ ĐẦU
1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Dải ven biển miền Trung Việt Nam đang sở hữu một khu hệ sinh vật khá
phong phú về chủng loại và đa dạng về hình thái, thích nghi cao độ với kiểu sinh
thái khắc nghiệt tại đây. Nhiều mô hình sinh thái tự nhiên dạng núi cát, rẻo cây chứa
đựng trên dưới 100 loài cây thân gỗ có khả năng khoanh nuôi, các vùng rừng ngập
mặn, cửa sông, thảm thực vật ven biển,... là môi trường sống cho rất nhiều sinh vật
mà nơi khác không có.
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, là một địa bàn nhạy
cảm với các biến đổi khí hậu,có 137km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùng
với hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triển
kinh tế - xã hội. Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có điều kiện tự nhiên không mấy
thuận lợi cho quá trình sản xuất và hoạt động sống của con người.
Do dải ven biển là nơi sinh sống của hàng triệu cư dân nghèo, luôn chịu áp
lực của sóng gió, cảnh sạt lở bờ nghiêm trọng hàng năm. Nhiều khu dân cư phải di
dời do mất đất sống, nhiều bãi biển du lịch vốn nổi tiếng đã mất đi, nhiều thất thoát
nhà cửa, tài sản và cả mạng sống đã xảy ra. Mặc dù sự tàn phá hệ sinh thái đã xảy
mãnh liệt và triền miên, nhưng vẫn còn những quần thể sinh vật như một minh
chứng khoa học và thực tiễn cho những ai quan tâm đến môi trường sinh thái, đồng
thời cũng là nơi cung cấp nguồn vật liệu để phục hồi hệ sinh thái ven bờ theo hướng
phát triển bền vững.
Chính vì vậy, đề tài:“ Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên - kinh tế
xã hội cho sử dụng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh Hà
Tĩnh” được thực hiện nhằm nghiên cứu một cách đầy đủ tác động của điều kiện tự
nhiên và kinh tế - xã hội đến khai thác sử dụng dải ven biển cho phát triển nông
nghiệp là đòi hỏi hết sức cấp bách và có ý nghĩa rất lớn về kinh tế, xã hội và môi
trường.
2. Nội dung nghiên cứu
Đánh giá điều kiện tự nhiên và KT-XH cho phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển
tỉnh Hà Tĩnh
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Dải ven biển
Dải ven biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ
biển,…) là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về
nguồn phát sinh, về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến
hóa,... Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu nhưng cho đến nay, khái niệm về dải ven
biển và phạm vi ranh giới của dải ven biển vẫn còn là những vấn đề chưa thống nhất,
thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả trong khoa học tự nhiên và khoa học
kinh tế [8]. Theo các tài liệu nước ngoài, tương đương thuật ngữ “dải ven biển” là:
- Nga: Vùng duyên hải
- Pháp: Vùng ven biển (Littoral hoặc Côte)
- Anh: Vùng ven biển (Coastal zone)
- Trung Quốc: Vùng diên hải hay Vùng duyên hải.
Theo Word Bank thì vùng ven biển (Coastal zone) là nơi chuyển tiếp giữa đất
và đại dương, bao gồm môi trường bờ và nước biển. Thành phần của nó có thể bao
gồm vùng đồng bằng ven sông, đồng bằng ven biển, vùng đất ngập nước, bãi biển, cồn
cát, rạn san hô, rừng ngập mặn, đầm phá, khác tính năng ven biển.[27]
Khái niệm vùng bờ: Vùng bờ biển (coastal area), gọi tắt là vùng bờ, là mảng
không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển, luôn chịu tác động tương tác giữa quá
trình lục địa (chủ yếu là sông) và biển (chủ yếu là sóng, dòng chảy và thuỷ triều), giữa
các hệ thống tự nhiên (natural system) và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt động của con
người), giữa các ngành và những người sử dụng tài nguyên vùng bờ (hoặc tài nguyên
bờ - coastal resources) theo cả cấu trúc dọc (trung ương xuống địa phương) và cấu trúc
ngang (các bên liên quan trên cùng địa bàn), giữa cộng đồng dân địa phương với các
thành phần kinh tế khác. Vì thế, vùng bờ còn được gọi là đới tương tác và các hệ sinh
thái trong vùng này tồn tại và phát triển thông qua các mối liên kết sinh thái chặt chẽ.
giới của dải ven biển.
Ở nước ta, khái niệm về dải ven biển đã được đề cập từ lâu dưới nhiều góc độ
khác nhau và trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Đặc biệt, từ giữa những năm 70
của thế kỷ trước đến nay, trong những công trình khoa học liên quan đến biển và ven
biển nước ta, các nhà khoa học Việt Nam đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về dải
ven biển và các phương án khác nhau để xác định ranh giới của dải ven biển khác. Sau
đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
Trong các báo cáo khoa học của Ủy ban Quốc gia về biển của Việt Nam (IOC),
GS.TSKH Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các chương trình điều tra nghiên cứu biển
Phan Thị Thanh Nhàn
K19 Cao học Môi trường
4
Đánh giá điều kiện tự nhiên và KT-XH cho phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển
tỉnh Hà Tĩnh
của Việt Nam từ năm 1997 - 2000 đã đưa ra khái niệm vùng ven biển như sau: “Vùng
ven biển Việt Nam chạy dài trên 3200km bờ biển của đất nước, bao gồm 24/50 tỉnh và
thành phố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼ dân số cả nước,…” Theo cách hiểu như
trên thì vùng ven biển nước ta được xác định bởi ranh giới hành chính các huyện có bờ
biển. Cách xác định này giúp cho việc thu thập tài liệu, số liệu phục vụ các nghiên cứu
kinh tế - xã hội và dân cư rất thuận lợi. Song cũng có những hạn chế, vì những hiện
tượng và đối tượng nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên lại
không bị hạn chế bởi ranh giới hành chính. Vì vậy, một số chuyên gia khác đã sử dụng
giới hạn nhiễm mặn của đất và nước làm ranh giới của vùng ven biển.[10]
Trong đề tài “Đánh giá kinh tế tổng hợp tài nguyên biển Việt Nam phục vụ quy
hoạch phát triển kinh tế đến năm 2005”, mã số 48B.06.02, do Viện Kế hoạch dài hạn
và phân bố LLSX thực hiện (1986 - 1990), các tác giả đã xác định Vùng ven biển bao
đến môi trường cửa sông ven biển. Còn về phía biển là đường thẳng sâu bằng một phần
hai bước sóng (thường nằm giữa 30 - 50m nước). Tại khu vực này, sóng biển có thể tác
động trực tiếp làm biến cải địa hình đáy.
Tóm lại, với cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã đưa ra các khái niệm khác
nhau về dải ven biển và phương pháp xác định ranh giới dải ven biển. Trong đó, phần
lớn việc phân định ranh giới của dải ven biển dựa trên căn cứ về tự nhiên. Riêng một số
nghiên cứu về kinh tế - xã hội lại thiên về việc phân định theo ranh giới hành chính.
Việc phân định ranh giới dải ven biển nhằm mục đích xây dựng các kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội cho một khu vực lãnh thổ đặc thù này cần được xem xét trong mối
quan hệ thống nhất giữa các điều kiện tự nhiên, sinh thái với các điều kiện xã hội nhân
văn và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của khu vực.
1.1.2. Phát triển bền vững
1.1.2.1. Khái niệm
Khái niệm “Phát triển bền vững” ra đời rất muộn, lần đầu tiên xuất hiện vào
năm 1987 trong báo “Tương lai của chúng ta” của ủy ban Môi Trường và phát triển
của ngân hàng thế giới (WB). Do đó, cho đến nay chưa có một định nghĩa nào thống
nhất và hoàn chỉnh. Một số khái niệm Khoa học Môi trường về “Phát triển bền vững”:
- Tại hội nghị thượng đỉnh về Phát triển bền vững (2002) tổ chức tại
Johannesbug đã xác định:
“Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài
hòa giữa 3 mặt của sự phát triển bao gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã
hội và môi trường (Hình 1).[15]
Phan Thị Thanh Nhàn
K19 Cao học Môi trường
6
Đánh giá điều kiện tự nhiên và KT-XH cho phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển
số chỉ tiêu mang tính định lượng.
Có thể phân thành hai nhóm chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu đo lường chất lượng cuộc sống: đó là các chỉ tiêu phát triển con người
(HDI), bao gồm:
+ Thu nhập quốc dân tính theo đầu người, biểu thị bằng các chỉ số GDP.
+ Tuổi thọ bình quân đối với nam giới và nữ giới.
+ Học vấn hiển thị bằng tỉ lệ mù chữ, tỉ lệ người có trình độ trung học,
đại học và trên đại học.
+ Tự do trong các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
+ Chất lượng môi trường, mức độ ô nhiễm nặng, vừa và không ô nhiễm.
- Chỉ tiêu về tính bền vững sinh thái: Một xã hội được coi là bền vững sinh thái
khi:
+ Nó bảo tồn hệ sinh thái phụ trợ cuộc sống và đa dạng sinh học.
+ Đảm bảo rằng việc sử dụng tài nguyên tái tạo được là bền vững và
giảm thiểu việc làm suy thoái tài nguyên không tái tạo được.
+ Nằm trong khả năng chịu tải của các hệ sinh thái phụ trợ.
1.1.3. Nông nghiệp phát triển bền vững
1.1.3.1. Khái niệm
Theo định nghĩa của TAC/CCIARC (Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên
gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên Hợp Quốc): Nông nghiệp bền vững
phải bao hàm sự quản lý thành công của tài nguyên thiên nhiên thỏa mãn nhu cầu của
con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được tài nguyên thiên
nhiên.[16]
Những vấn đề đặt ra trong sản xuất nông nghiệp bền vững là: bảo vệ môi
trường đất, nước và khởi xướng một số hệ thống canh tác bền vững với mục đích kiến
tạo một hệ thống bền vững về sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn
Phan Thị Thanh Nhàn
K19 Cao học Môi trường
8
- dịch hại để kiểm soát côn trùng, cỏ dại; xây dựng ngưỡng chấp nhận kinh tế về quần
thể gây hại và hệ thống quan trắc ổn định để phát hiện dự báo dịch hại. Chương trình
Phan Thị Thanh Nhàn
K19 Cao học Môi trường
9
Đánh giá điều kiện tự nhiên và KT-XH cho phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển
tỉnh Hà Tĩnh
này gồm nhiều kỹ thuật như: sử dụng các giống kháng/giống chịu luân canh; các kỹ
thuật trồng trọt; tối ưu việc sử dụng phòng trừ sinh học; sử dụng hạt giống công nhận;
xử lý hạt giống; sử dụng hạt giống/vật liệu nhân giống sạch bệnh; điều chỉnh thời vụ
gieo trồng; hợp lý về thời gian sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; làm vệ sinh đồng ruộng
khi bị nhiễm sâu bệnh,...
- Quản lý công nghệ sinh học:
Công nghệ sinh học là quá trình sử dụng các kiến thức truyền thống và công
nghệ hiện đại nhằm làm thay đổi vật chất gen trong thực vật, động vật, vi sinh vật và
tạo ra các sản phẩm mới.
Công nghệ sinh học đáp ứng các cơ hội mới mang tính toàn cầu giữa các nước
giàu về kiến thức công nghệ này với các nước đang phát triển giàu về tài nguyên sinh
vật nhưng thiếu vốn và kiến thức để sử dụng các tài nguyên đó. Công nghệ sinh học
cung cấp nguồn năng lượng tái sinh và các nguyên liệu thô sơ từ các chất thải hữu cơ
và vật chất thực vật. Xử lý các chất thải hóa học hữu cơ theo cách rẻ hơn và hiệu quả
hơn so với các phương pháp truyền thống. Phát triển các giống cây mọc nhanh có năng
suất cao, đặc biệt là cây cho củi đốt. Điều quan trọng là kỹ thuật mới phải không được
phá vỡ tính tổng hòa về môi trường hoặc làm tăng thêm các mối đe dọa cho sức khỏe.
Người dân phải nhận thức được những lợi ích và những rủi ro của công nghệ sinh học.
Đó là một nhu cầu đòi hỏi đối với những nguyên tắc đã được thỏa thuận quốc tế về
việc khai thác sử dụng tài nguyên.
- Là khu vực tập trung dân cư đông đúc và có các hoạt động kinh tế - xã hội rất
sôi động.
- Có chức năng to lớn về môi trường và sinh thái nhưng rất nhạy cảm, dễ bị tác
động và tổn thương.
Có thể nói dải ven biển là một khu vực thường xuyên biến đổi, hết sức nhạy
cảm đối với các tác động tự nhiên cũng như tác động của con người. Mọi hoạt động
kinh tế - xã hội của con người diễn ra ở ngoài biển và trên các khu vực lân cận trong
chừng mực nhất định đều có tác động trực tiếp hay gián tiếp lên dải ven biển.[15]
1.2.1.1. Địa chất:
Đặc điểm địa chất của dải ven biển Việt Nam khá phức tạp. Mặc dù diện tích
không lớn nhưng ở đây có mặt hầu như tất cả các thành tạo địa chất của lãnh thổ Việt
Nam với tuổi từ cổ đến trẻ nhất. Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo có thể chia dải ven biển
Việt Nam thành 6 vùng địa chất sau:
- Vùng Đông Bắc Bắc Bộ: chủ yếu là đá trầm tích trung sinh, trong đó có trầm
tích chứa than điệp Hòn Gai; đá vôi Devon và các Cacbon-pecmi; phương cấu trúc
theo hướng Đông - Bắc.
Phan Thị Thanh Nhàn
K19 Cao học Môi trường
11
Đánh giá điều kiện tự nhiên và KT-XH cho phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển
tỉnh Hà Tĩnh
- Vùng đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa: chủ yếu là các trầm tích bở rời đệ tứ,
phương cấu trúc địa chất cắt gần thẳng góc với đường bờ.
- Vùng Bắc Trung Bộ: có trầm tích Đệ tứ tại các đồng bằng ven biển và các đá
Cổ sinh, Trung sinh ở vùng đồi núi; phương cấu trúc cắt đường bờ thành một góc nhọn.
Đánh giá điều kiện tự nhiên và KT-XH cho phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển
tỉnh Hà Tĩnh
- Nhóm địa hình đồng bằng (có 16 kiểu): gồm hai phụ nhóm là đồng bằng tích
tụ trên các trũng tân kiến tạo và đồng bằng tích tụ, tích tụ - bóc mòn trên rìa miền nâng.
Đối với địa hình đồng bằng trên các trũng vòng tân kiến tạo ra các đồng bằng delta lớn,
rất thuận tiện cho phát triển nông nghiệp, trước hết là lúa và cây công nghiệp ngắn
ngày. Nhưng trong quá trình khai thác sử dụng cần đề phòng bị tái nhiễm mặn. Riêng
nhóm địa hình đồng bằng rìa miền nâng thường nhỏ hẹp, song có thể phát triển đa dạng
các loại cây trồng như: cây lương thực, cây công nghiệp, rau, màu các loại,… Tuy
nhiên đối với nhóm địa hình này cần có các biện pháp để hạn chế quá trình rửa trôi (do
lũ), thoái hóa đất và chống cát bay, cát nhảy…
- Nhóm địa hình bãi biển và bờ (gồm 6 kiểu): chịu tác động trực tiếp của biển
thông qua dao động của mực nước thủy triều được xếp vào nhóm địa hình bãi, bị ngập
nước lúc triều lên và phơi ra lúc triều rút. Nhóm địa hình này có khả năng nuôi trồng
thủy hải sản (tôm, cá nước lợ, rau câu,…) và xây dựng các cơ sở du lịch - nghỉ dưỡng,
song cần chú ý đến vấn đề cấp nước ngọt.[17] [18]
1.2.1.3. Khí hậu
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động đan xen
nhiều yếu tố như: vị trí địa lý, hoàn lưu gió mùa, sự tương tác biển – lục địa, điều kiện
địa hình, đặc điểm đường bờ biển,… dải ven biển Việt Nam có khí hậu rất đặc sắc của
chế độ khí hậu miền duyên hải với sự phân hóa rõ rệt của chế độ nhiệt và chế độ mưa
ẩm.
a. Chế độ nhiệt
Dải ven biển Việt Nam nằm trải dài trên 15 vỹ độ (từ 80 0 – 2300 vỹ Bắc) nên
chế độ nhiệt bị phân hóa mạnh theo không gian và thời gian. Nhiệt độ không khí trung
bình năm dao động từ 23oC - 24oC ở phía bắc và khoảng 24oC - 26oC ở phía nam.
Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối thay đổi không lớn, cao nhất đạt 42,1 oC ở ven biển Nam
Trung Bộ và giảm xuống 38oC về phía Bắc Bộ và Nam Bộ (Bảng 1).[11]
2. Từ Nghệ An – Thừa Thiên Huế
24,30C
7,50C
39,90C
3. Từ Quảng Nam – Khánh Hòa
26,00C
110C
42,10C
4. Từ Ninh Thuận – Cà Mau
25,90C
12,40C
38,40C
5. Từ Cà Mau – Hà Tiên
27,10C
14,80C
3
BT BB
B Đ
Tháng
4
5
6 7 8
9
10
ĐT ĐTN TN TN TN N,TB ĐB,
N
TB
2,8
2,6 2,5
14
16 20
2,7 2, 3,1 2,6
7
20 20 25 25
N
11 12 Năm
ĐB, TB
TB
tỉnh Hà Tĩnh
biển và địa hình dãy Trường Sơn nên khu vực ven biển từ Nghệ An đến Thừa Thiên
Huế có hướng gió kém ổn định hơn và gió thịnh hành thường lệch hướng với hướng
chính của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam (bảng 2). [11]
c. Chế độ mưa
Trên lãnh thổ Việt Nam, VQG Bạch Mã - Bà Nà thuộc dải ven biển có lượng
mưa lớn nhất với tổng lượng mưa lớn nhất trung bình trên 3.200mm/năm - lớn nhất có
thể đạt 5.185mm/năm. Cơ chế mùa mưa ở dải ven biển rất đa dạng. Mùa mưa bắt đầu
muộn nhất ở ven biển Trung Bộ và sớm dần về hai phía Bắc và Nam. Các khu vực ven
biển có lượng mưa biến động từ 800 đến 3000mm/năm. Dải ven biển Nghệ An - Thừa
Thiên Huế có các tháng mưa tập trung vào tháng 9, 10, 11 với lượng mưa trung bình là
2.325mm/năm.
Do ảnh hưởng hoàn lưu gió mùa, đặc biệt là gió mùa mùa đông, tại dải ven biển
xuất hiện các kiểu “mưa trái mùa” như mưa từ mùa hè sang mùa thu, hoặc mưa từ cuối
thu kéo dài sang đầu đông. Chế độ mưa cũng rất khác nhau giữa các vùng và giữa
chúng có những vùng chuyển tiếp, thể hiện sự chuyển dịch giữa hai chế độ mùa mưa.
Sự khác biệt trong cơ chế mùa mưa có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chỉ đạo phát
triển sản xuất nông, ngư nghiệp ở dải ven biển. Tại những khu vực khác nhau, do ảnh
hưởng của chế độ mưa nên mùa vụ sản xuất nông nghiệp cũng như mùa vụ đánh bắt và
nuôi trồng thủy sản cũng rất khác nhau.
Bảng 3: Phân bố mưa dải ven biển vùng Nghệ An - Thừa Thiên Huế
Vùng bờ
Đặc trưng mưa
biển
Lượng mưa Số ngày Lượng mưa Lượng mưa Các tháng Các tháng
TB năm mưa trong lớn nhất
nhỏ nhất
mùa mưa mưa không
(mm)
trong khu vực. Tại đây thành phần thủy văn lục địa có vai trò lớn hơn các thành phần
khác trong tổng thể chế độ nước ven bờ của khu vực.
1.2.1.5. Thổ nhưỡng
Dải ven biển là khu vực chịu tác động đan xen của hàng loạt các yếu tố tự nhiên
và kinh tế xã hội nên lớp phủ thổ nhưỡng rất phong phú về chủng loại và phức tạp về
tính chất. Theo kết quả phân loại thổ nhưỡng, tại dải ven biển Việt Nam có 15 nhóm
đất chính với 37 loại đất. Dưới đây là các nhóm đất tiêu biểu phân bố ở khu vực Bắc
miền Trung. [7][16][24]
a. Nhóm đất cát biển:
Nhóm đất cát biển có diện tích 1,2 triệu ha, phân bố rộng khắp dọc ven biển
Quảng Ninh đến Kiên Giang dưới dạng các bãi cát và đụn cát nhưng tập trung nhiều
nhất ở ven biển Ninh Thuận và Bình Thuận.
Đất cát biển thường phân bố ở các dải cát dài, hẹp, cao so với đồng bằng, có
thành phần cơ giới nhẹ (cát chiếm 90 - 95%). Các chất dinh dưỡng trong đất rất nghèo,
mùn chỉ có 0,9%, đạm, lân tổng số rất nghèo, đất chua, độ pH thấp, xấp xỉ 4, khả năng
giữ nước giữ màu kém,… nên năng suất cây trồng thấp.
Mặc dù có những hạn chế nhưng do thành phần cơ giới nhẹ, nên dễ canh tác, có
thể trồng nhiều cây hoa màu, lương thực, công nghiệp, ăn quả. Tuy nhiên trong quá
trình canh tác phải tăng cường bón phân cải tạo đất.
b. Nhóm đất mặn
Diện tích 981ha, phân bố hầu hết ở các tỉnh ven biển nhất là Hải Phòng, Thái
Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh,… Đất phát sinh trên phù sa mới bồi vùng ven biển nên tỷ lệ
muối clorua cao. Đất thường có độ phì lớn, thành phần cơ giới trung bình với thịt nặng,
pH từ 6 - 7,5. Đất này thường hạn chế cây trồng, song nếu rửa mặn được thì có khả
năng sản xuất cao.
Phan Thị Thanh Nhàn
K19 Cao học Môi trường
16
tiêu nước và bón vôi, lân cho đất.
Tầng than bùn ở đất than bùn dày từ 50cm đến 120cm, được hình thành do sự
tích tụ xác lá cây, cỏ lâu ngày. Đất thường bị glay mạnh, bí, quá trình phân giải chất
Phan Thị Thanh Nhàn
K19 Cao học Môi trường
17
Đánh giá điều kiện tự nhiên và KT-XH cho phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển
tỉnh Hà Tĩnh
hữu cơ rất chậm, có phản ứng chua hoặc rất chua, rất giàu hữu cơ. Đất than bùn có thể
khai thác làm phân hữu cơ bón cho cây trồng.
f. Nhóm đất đỏ vàng
Nhóm đất đỏ vàng có diện tích lớn nhất, khoảng 2,15 triệu ha, chiếm tới 45%
diện tích tự nhiên dải ven biển. Đất chủ yếu phân bố ở các vùng đồi và núi thấp ven
biển, nơi có độ cao dưới 1000m. Trong nhóm đất đỏ vàng có các loại đất chính sau:
+ Đất nâu đỏ phát triển các đá Bazan, các đá macma trung tính và bazo
khác….tại các địa hình đồi đỉnh bằng, thấp thoải hoặc lượn sóng thuộc các tỉnh từ
Nghệ An đến Quảng trị và Phú Yên. Nhìn chung đất Bazan có tầng đất sâu (từ 1,2 đến
5 – 10m), tầng mùn khá dày (30 - 40m), tỷ lệ mùn khoảng 4 – 5% giàu đạm, lân, đất tơi
xốp, thoáng khí, có độ phì cao, có thể trồng hoa, màu và các loại cây công nghiệp có
giá trị như cà phê, cao su, chè,…
+ Đất đỏ nâu phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá vôi ở ven biển Ninh
Bình và Bắc Quảng Bình. Đất có tầng dày 0,6 - 1,2m, thành phần cơ giới nặng, đất tơi
xốp, độ ẩm tương đối, độ phì nhiêu trung bình, nhưng thường chua.
+ Đất vàng đỏ phát triển trên các đá macma axit phân bố khá tập trung ở các
vùng đồi, núi thấp rìa các đồng bằng ven biển từ Nghệ An đến Khánh Hòa. Đất vàng
đỏ thường có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt cát hơi khô. Đất thường nhiều sỏi sạn, có
vật.
Rạn san hô là một trong những hệ sinh thái đặc sắc của biển Việt Nam, nơi có
đa dạng sinh học rất cao, năng suất sơ cấp lớn, cảnh quan kỳ thú. Các rạn san hô của
Việt Nam phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam trên diện tích khoảng 1.222km2, tập
trung nhiều ở vùng biển Nam Trung bộ, quần đảo Hoàng Sa và Trường sa.
San hô Việt Nam rất đa dạng và phong phú với khoảng 350 loài tạo rạn kèm
theo khoảng 3.000 loài sinh vật khác có đời sống liên quan và gắn bó với vùng rạn san
hô. Trong đó, có khoảng 2.000 loài sinh vật đáy, 500 loài cá và nhiều loài có giá trị
kinh tế cao như tôm hùm (Panulirus), bào ngư (Haliotis diversicolor), trai ngọc (Pteria
martensi), hải sâm (Holothuria),... sống gắn bó trực tiếp với san hô.
Trong 15 năm trở lại đây, các tỉnh ven biển miền Trung và một số đảo có người
sinh sống thuộc quần đảo Trường Sa có độ phủ trên rạn san hô đang bị giảm dần theo
thời gian, nhiều nơi độ phủ giảm trên 30%. Điều này cho thấy rạn san hô đang bị phá
hủy và có chiều hướng suy thoái mạnh. Sự biến đổi diện tích và những tổn thương của
nhiều rạn san hô gây nhiều thiệt hại cụ thể như sự giảm đa dạng sinh học; sinh thái và
chất lượng môi trường biển; mất kế sinh nhai của cộng đồng vùng ven biển và thiệt hại
cho ngành du lịch và thủy sản.
b. Rừng ngập mặn
Phan Thị Thanh Nhàn
K19 Cao học Môi trường
19
Đánh giá điều kiện tự nhiên và KT-XH cho phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển
tỉnh Hà Tĩnh
Rừng ngập mặn bao gồm các loài thực vật ưa sống trong hoặc lân cận vùng
triều, bởi vậy thực vật ở đây thường thích ứng với điều kiện sinh thái ngập nước (mặn,
lợ hoặc nhạt). Bộ rễ của chúng ít ra cũng phải ngập định kỳ trong nước biển. Tính đa
20
Đánh giá điều kiện tự nhiên và KT-XH cho phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển
tỉnh Hà Tĩnh
Đến nay, trên thế giới đã phát hiện được 58 loài cỏ biển thuộc 12 chi, 4 họ,
xuống sâu đến 60m. Vùng nước nông ven bờ Ấn Độ Dương - Tây Thái Bình Dương có
khoảng 50 loài, bao gồm 16 loài ở Đông Nam Á, trong đó Việt Nam có 14 loài, thuộc 9
chi, 4 họ. Như vậy, với 14 loài cỏ biển, Việt Nam thuộc diện có hệ sinh thái cỏ biển
khá đa dạng, phong phú.
Do đặc trưng khí hậu, ở Việt Nam phân bố loài cỏ biển có xu thế tăng dần từ
Bắc vào Nam. Dọc đường bờ biển Việt Nam đã xác định được 32 vùng cỏ biển phân
bố tập trung, trong đó lớn nhất là Phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên - Huế) có tới
1000ha cỏ biển, còn ở Hà Tĩnh có Ðầm Xuân Hội (Hà Tĩnh) chỉ có 50ha cỏ biển.
Thảm cỏ biển là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao và đóng góp quan
trọng đối với tổng năng suất sơ cấp của vùng nước ven bờ và là nguồn thức ăn quan
trọng đối với nhiều sinh vật, đặc biệt là rùa biển, thú biển và cá biển. Người ta cũng
tính rằng, sinh lượng trung bình trong thảm cỏ biển đạt 250g khô/m 2, cứ 1m2 diện tích
thảm cỏ biển sản sinh ra10 lít ôxy hoà tan/ngày giúp cho quá trình hô hấp của các loài
động vật biển. Vì vậy, thảm cỏ biển cũng thường là những bãi sinh sản, nơi kiếm ăn. Ở
Việt Nam người ta thu được khoảng 10 triệu USD từ giá trị của 1.800 ha thảm cỏ biển
ở phá Tam Giang và vịnh Cam Ranh. (Phạm Văn Ninh, 2004).
1.2.2. Các nghiên cứu về điều kiện kinh tế - xã hội ở dải ven biển
Về mặt kinh tế, dải ven biển là nơi tập trung các hoạt động kinh tế rất đa dạng
như: hoạt động cảng, hàng hải, du lịch giải trí, khai thác nuôi trồng thủy sản, nông lâm
nghiệp, công nghiệp ven biển, khai khoáng, đô thị hóa,… đồng thời cũng là nơi tập
trung dân số với mật độ rất cao. Do vậy việc hoạch định các chính sách phát triển và
xây dựng các kế hoạch, mô hình phát triển hợp lý theo quan điểm phát triển bền vững
là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với dải ven biển.
2008
6,31
4,68
5,98
7,37
2010
2012
6,78
4,44
2,78
2,72
13,65
3,84
8,09
5,81
[Tổng quan kinh tế Việt Nam 2012]
Mặc dù dải ven biển có diện tích không rộng, chỉ chiếm 18,4% diện tích tự
nhiên cả nước nhưng hàng năm đóng góp một tỷ lệ khá lớn trong nền kinh tế quốc dân
và ngày càng gia tăng. Năm 1995 mức đóng góp của dải ven biển trong GDP cả nước
là 29,6%, đến 2003 tỷ lệ này tăng lên 35,4%, trong đó riêng công nghiệp ven biển đóng
góp khoảng 15,5% tổng GDP và 38,6% trong GTGT của ngành nông nghiệp cả nước.
Nói chung, dải ven biển là khu vực có nhiều lợi thế hơn hẳn các vùng khác
trong nội địa, là nơi hội tụ nhiều yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, do vậy kinh tế
dải ven biển đã và đang phát huy vai trò ngày càng to lớn của mình trong sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước.[15][20][21]
Hà Tĩnh có điểm thuận lợi là hệ thống giao thông rộng khắp với các tuyến
đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển tạo thành hệ thống liên hoàn, thuận lợi
vùng phát triển nuôi trồng thuỷ sản như: tôm, cua, ngao, rau câu, cá... có giá trị kinh tế
cao. Quá trình bồi lắng vật liệu phù sa thành tạo những bãi triều, trải qua thời gian và
các hoạt động của con người đã tạo thêm những vùng đất ngập triều rộng lớn, là tiềm
năng để phát triển các sản phẩm thủy sản biển.
Ngoài ra, tỉnh Hà Tĩnh có nhiều di tích văn hóa, lịch sử và danh lam thắng cảnh
nổi tiếng khắp vùng. Phía Đông có bờ biển dài với nhiều bãi biển đẹp được quy hoạch
thành các khu du lịch sinh thái biển. Đây là những tiềm năng tốt để thu hút đầu tư phát
triển các ngành du lịch, dịch vụ, đánh bắt hải sản, khai thác biển...
1.2.2.2. Phát triển xã hội dải ven biển
a. Điều kiện giáo dục, y tế
Phan Thị Thanh Nhàn
K19 Cao học Môi trường
23
Đánh giá điều kiện tự nhiên và KT-XH cho phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển
tỉnh Hà Tĩnh
Dải ven biển chiếm trung bình khoảng 20% dân số thế giới sống trong phạm vi
cách đường bờ về phía nội địa 30km và khoảng 40% trong phạm vi cách đường bờ
100km và trên các đảo ven bờ. Ở Việt Nam số liệu đến năm 2003 thì dân số sống ở dải
ven biển là 21,4 triệu người chiếm 26,7% dân số cả nước, trong đó dân số thành thị
chiếm 26,5%.
Dân số vùng ven biển có tỷ lệ khá lớn do công tác dân số kế hoạch hóa gia đình
chưa thực sự hiệu quả. Quan niệm phải có con trai để đảm đương công việc đi biển của
dân cư các vùng nông thôn ven biển còn khá nặng nề nên tỷ lệ sinh lớn, do đó, tốc độ
tăng dân số chung của dải ven biển thường cao hơn các vùng khác trong nội địa. Một
trong những đặc điểm quan trọng ở dải ven biển nước ta là dân cư sống tập trung với
368
2. Ven biển Trung Bộ
7.887.459
36.82
342
3. Ven biển Nam Bộ
6.019.900
28.10
328
[Viện chiến lược phát triển 2012]
Nguồn nhân lực ở dải ven biển phân bố rất đồng đều giữa các khu vực. Lao
động tập trung nhiều nhất ở 2 khu vực có dân số đông là ven biển Trung Bộ (chiếm
35,7%) và ven biển Bắc Bộ (chiếm 34,4%).(Bảng 5)
Hà Tĩnh có dân số trẻ (trên 52,6% trong độ tuổi lao động), trong đó có trên 20%
đã được đào tạo; học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học hàng năm khoảng từ 20.000
Phan Thị Thanh Nhàn
K19 Cao học Môi trường
24
mật độ dân số trung bình trên các đảo là 95 người/ km2), riêng ở huyện đảo Trường Sa
có 21 hộ và 80 khẩu.
Dải ven biển đã đóng góp quan trọng về mặt kinh tế - xã hội trong thời gian
qua và ngược lại tương lai của các ngành này cũng phụ thuộc chặt chẽ vào chất
Phan Thị Thanh Nhàn
K19 Cao học Môi trường
25