13
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và
Đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [15], đã đề ra
mục tiêu cụ thể trong giáo dục đại học là tập trung đào tạo nhân lực trình độ
cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu
tri thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện cơ cấu ngành nghề và trình độ
đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia. Nghị quyết đưa
ra nhiệm vụ, giải pháp: “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo”. Trong đó nhấn mạnh đến năng lực
nghề nghiệp của ĐNGV. Để phát triển được ĐNGV phải xây dựng quy
hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo; thực hiện chuẩn hóa đội
ngũ, giảng viên đại học có trình độ từ thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo bồi
dưỡng nghiệp vụ sư phạm; đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo,
có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; khuyến khích
học tập nâng cao trình độ; có chính sách hỗ trợ GV trẻ về chỗ ở, học tập và
nghiên cứu khoa học. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng
định: “Đổi mởi cơ chế quản lý giáo dục, phát triển ĐNGV và cán bộ quản lý
là khâu then chốt” [14, tr.131].
Trường ĐHSPKT có sứ mệnh trọng đại, thực hiện đào tạo đa ngành, đa
trình độ theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng, GV là máy cái, cung ứng
GVDN cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp để phát triển đội ngũ lao động kỹ
thuật phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với
phương châm đào tạo đa ngành nghề, đa loại hình, nên không kể các ngành
SPKT, hiện nay, hầu hết các trường ĐHSPKT đều thực hiện đào tạo các
15
ĐNGV; trình độ phẩm chất năng lực của ĐNGV; chính sách ưu đãi, thu hút
đãi ngộ; điều kiện về môi trường làm việc.
Với những vấn đề nêu trên, việc phát triển ĐNGV theo tiếp cận năng
lực được đặt ra như một đòi hỏi tất yếu đối với CBQL của các trường
ĐHSPKT. Tiếp cận năng lực trong phát triển đội ngũ chính là chuẩn hóa hệ
thống các kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết cho người giảng viên SPKT
gắn với yêu cầu nhiệm vụ cụ thể nhất định. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài:
“Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học sư phạm kỹ thuật theo
hướng tiếp cận năng lực” làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ chuyên
ngành Quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Luận án đề xuất giải pháp
phát triển ĐNGV các trường ĐHSPKT theo tiếp cận năng lực nhằm phát triển
năng lực nghề nghiệp cho ĐNGV hướng đến mục tiêu “chuẩn hóa, hiện đại
hóa” ĐNGV các trường ĐHSPKT đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các trường
ĐHSPKT.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác phát triển đội ngũ giảng viên các trường ĐHSPKT
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Phát triển ĐNGV các trường ĐHSPKT theo tiếp cận năng lực.
4. Giả thuyết khoa học
Phát triển ĐNGV các trường ĐHSPKT đã đạt được các kết quả nhất
định, song còn nhiều bất cập trong công tác quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng,
đào tạo bồi dưỡng, đánh giá và thực hiện chính sách đãi ngộ đối với GV. Nếu
đề xuất và áp dụng các giải pháp phát triển ĐNGV theo tiếp cận năng lực một
lực làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
- Tiếp cận duy vật biện chứng: Giúp cho người nghiên cứu có những
quan điểm, quy tắc chỉ đạo nghiên cứu dựa vào các quy luật chung của thế
giới tự nhiên, xã hội, đây là các cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu
tính toàn diện, chính xác, sâu sắc về các hiện tượng. Tiếp cận duy vật biện
17
chứng trong đề tài luận án để thấy được mối quan hệ giữa đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực, năng lực ĐNGV và chất lượng đào tạo, năng lực chuyên
môn và năng lực sư phạm có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau.
Phát triển ĐNGV cần đặt trong trạng thái vận động và biến đổi không ngừng,
trong mối quan hệ biện chứng với các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và
các yếu tố khác bên ngoài, bên trong nhà trường.
- Tiếp cận thực tiễn: Yêu cầu khoa học phải gắn liền với sự phát triển
của thực tiễn sinh động đa dạng. Chính vì vậy nghiên cứu khoa học phải có
tính cấp thiết nhằm mục đích cải tạo thực tiễn phục vụ cho đời sống con
người. Trong đề tài luận án, vận dụng quan điểm tiếp cận thực tiễn để thấy
được thực trạng ĐNGV các trường ĐHSPKT về năng lực, trình độ, số lượng,
chất lượng và cơ cấu, mức độ đạt chuẩn theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào
tạo. Đồng thời thấy được thực trạng giải pháp và các yếu tố ảnh hưởng đến
ĐNGV theo tiếp cận năng lực để đề xuất giải pháp phù hợp.
- Tiếp cận chuẩn hóa: Để thấy được phát triển ĐNGV dựa vào chuẩn là
một trong những xu hướng của quản lý hiện đại. Theo xu hướng này, yêu cầu
chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa ĐNGV là một đòi hỏi tất yếu trong phát triển
ĐNGV ở bình diện vĩ mô và vi mô. Luận án sử dụng chuẩn năng lực giảng
viên ĐHSPKT để xác định mức độ đáp ứng các yêu cầu cơ bản về năng lực
của ĐNGV các trường ĐHSPKT trong phạm vi nghiên cứu, xác định các giải
pháp phát triển ĐNGV ở các trường ĐHSPKT. Mặt khác, do khoa học quản
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1. Phương pháp điều tra
Dùng phiếu hỏi để khảo sát giảng viên, cán bộ quản lý và sinh viên các
trường ĐHSPKT để đánh giá thực trạng năng lực ĐNGV, thực trạng phát
triển ĐNGV các trường ĐHSPKT.
6.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Thực hiện phỏng vấn về những nội dung nghiên cứu của đề tài, trao đổi
với một số giảng viên, cán bộ quản lý đang công tác tại các trường ĐHSPKT.
19
6.2.2.3. Phương pháp chuyên gia
Tổng hợp ý kiến nhận xét của các chuyên gia về nội dung nghiên cứu
của đề tài với hình thức hội thảo, chuyên đề, phiếu trưng cầu ý kiến, phỏng
vấn trực tiếp để lấy ý kiến của các nhà khoa học, cán bộ quản lý và GV về
tính cấp thiết và tính khả thi của giải pháp phát triển ĐNGV các trường
ĐHSPKT được tác giả đề xuất trong luận án.
6.2.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Xem xét từ thực trạng phát triển ĐNGV các cơ sở giáo dục đại học, các
trường ĐHSPKT và của một số nước như: Philippin, Singapore, Hà Lan, Mỹ,
Đức, Australia, Hàn Quốc để tổng kết kinh nghiệm.
6.2.2.5. Phương pháp thử nghiệm
Thực hiện thử nghiệm để kiểm nghiệm nội dung của một trong số các
giải pháp mà luận án đã đề xuất.
6.3. Các phương pháp bổ trợ
Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu nghiên cứu trong khoa học giáo
dục bằng phần mềm SPSS và phần mềm công nghệ thông tin.
7. Phạm vi nghiên cứu
chuẩn trong mọi hoạt động, tạo thành quy trình chuẩn hóa từng khâu: Quy hoạch tuyển dụng - bố trí, sử dụng - đánh giá - đào tạo, bồi dưỡng cho đến xây dựng môi
trường cho đội ngũ phát triển.
9. Những đóng góp mới của luận án
9.1. Xây dựng được khung lý thuyết về phát triển ĐNGV các trường
ĐHSPKT theo tiếp cận năng lực, hướng đến mục tiêu “chuẩn hóa” đáp ứng yêu
cầu đổi mới chất lượng giáo dục đại học.
9.2. Đánh giá được thực trạng năng lực ĐNGV các trường ĐHSPKT và
thực trạng phát triển ĐNGV các trường ĐHSPKT, chỉ ra được những hạn chế
bất cập của ĐNGV các trường ĐHSPKT trong giai đoạn hiện nay. Luận án đã
chỉ ra các yếu tố có ảnh hưởng đến phát triển ĐNGV các trường ĐHSPKT
21
như: Nhận thức của các cấp lãnh đạo ở nội bộ các trường về xây dựng phát
triển ĐNGV; điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất phục vụ phát triển ĐNGV
còn hạn chế; bản thân cá nhân giảng viên có nhận thức khác nhau, sự vận
động và phát triển của giảng viên thiếu đồng bộ; cơ chế chính sách của nhà
nước đối với ĐNGV; tiến bộ khoa học công nghệ; môi trường; cơ chế tổ chức
quản lý.
9.3. Đưa ra được các giải pháp phát triển ĐNGV các trường ĐHSPKT
theo tiếp cận năng lực đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao của các trường ĐHSPKT, trong đó giải pháp “Đề xuất xây dựng khung
năng lực nghề nghiệp ĐNGV các trường ĐHSPKT” có ý nghĩa quan trọng
mang tính đột phá, căn cứ vào khung năng lực này đề xuất các giải pháp về
quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV nhằm
phát triển năng lực nghề nghiệp cho mỗi GV.
10. Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên đại học theo
coi trọng cơ cấu quan hệ về chức danh giữa tỉ lệ giáo sư với trợ giảng và trợ
lí. Daniel R.Beerens - tác giả cuốn “Creating a Culture of Montivation and
Learning” cho rằng: Tính động trong tăng trưởng và luôn luôn mới là tiêu chí
trung tâm của đội ngũ nhà giáo hiện nay. Ông chủ trương tạo ra một nền văn
hóa về sự thúc đẩy và thường xuyên học tập của đội ngũ giảng viên, coi đó là
giá trị mới, chính yếu của nhà giáo [78].
23
OsDonnel (1986) Modular Design in TAFE caurses, NSW, Sydnel.
Raja Roy Singh, (1991), Education for the Twenty - first Century Asia Pacific Perspectives, Unesco Principal egional office for Asiaand the Pacific
Bangkok [88]: Thầy giáo cần phải biết và có thể làm gì với 5 vấn đề cốt lõi là:
(1) Giáo viên phải tận tâm với học sinh và việc học; (2) Giáo viên phải làm
chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình và liên hệ với các bộ môn
khác; (3) Giáo viên phải có trách nhiệm trong giảng dạy, quản lý kiểm tra,
đánh giá việc học của học sinh; (4) Giáo viên phải thường xuyên suy nghĩ
sáng tạo, phát triển kinh nghiệm nghề nghiệp; (5) Giáo viên phải là thành viên
đáng tin cậy của cộng đồng học tập, biết cộng tác với đồng nghiệp, hợp tác
với cha mẹ học sinh. Chất lượng ĐNGV là chủ đề được các nhà khoa học
giáo dục ở các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu, đến nay đã có nhiều
công trình được công bố. Theo kết quả nghiên cứu của các thành viên OECD
(Tổ chức Hơp tác Phát triển Châu Âu) chất lượng nhà giáo gồm các nội dung
sau: (1) Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn
mình giảng dạy; (2) Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về
phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; (3) Có
tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê bình, nét rất đặc
trưng của nghề dạy học; (4) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá
của người khác; (5) Có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và
ngoài lớp [10, tr11].
sinh. Đối với GV đại học, Hội nghị quốc tế về giáo dục đại học thế kỷ XXI
“Tầm nhìn và hành động” (1998) đã nêu lên những năng lực cần có của một
GV đại học mẫu mực như sau: 1) Có kiến thức và thông hiểu về các cách
khoa học khác nhau của SV; 2) Có kiến thức, năng lực và thái dộ về mặt theo
dõi và đánh giá SV, nhằm giúp họ tiến bộ; 3) Tự nguyện hoàn thiện bản thân
trong ngành nghề của mình; biết ứng dụng những tiêu chí nghề nghiệp và
luôn luôn cập nhật những thành tựu mới nhất; 4) Biết ứng dụng những kiến
thức về công nghệ thông tin vào môn học, ngành học của mình; 5) Có khả
năng nhận biết được những tín hiệu của “thị trường” bên ngoài về nhu cầu của
25
giới chủ đối với những người tốt nghiệp; 6) Làm chủ được những thành tựu
mới về dạy và học, từ cách dạy học mặt giáp mặt đến cách dạy học từ xa; 7)
Chú ý đến những quan điểm và mong ước của “khách hàng”, tức là của những
đối tác và SV khác nhau; 8) Hiểu được những tác động của những nhân tố
quốc tế và đa văn hóa đối với những chương trình đào tạo; 9) Có khả năng
dạy những loại SV khác nhau, thuộc những nhóm khác nhau về độ tuổi, môi
trường kinh tế - xã hội, dân tộc…và biết cách làm việc với số giờ nhiều hơn
trong ngày; 10) Có khả năng bảo đảm các giờ giảng chính khóa, xêmina hoặc
tại xưởng với một số lượng SV đông hơn; 11) Có khả năng hiểu được những
“chiến lược thích ứng” về nghề nghiệp của các cá nhân. GV đại học có thể
căn cứ vào những yêu cầu này mà chọn một số lĩnh vực cần thiết nhất đối với
mình để đi sâu. Khuyến cáo 21 điểm về chiến lược phát triển giáo dục hiện
đại của tổ chức UNESCO chỉ rõ: “Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành
những nhà giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức”
(điểm 18) và đặc biệt là chương trình đào tạo GV cần triệt để sử dụng các
thiết bị và phương pháp dạy học mới nhất” (điểm 16) [19, tr.162-163].
Nội dung nghiên cứu đã đề cập nhiều đến vai trò của người thầy giáo
Các công trình nghiên cứu về đội ngũ giảng viên, phát triển đội ngũ
giảng viên ở nước ta đã được công bố khá phong phú, đa dạng, gồm các sách
chuyên khảo, các bài tạp chí, luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học
công nghệ, các văn bản, chính sách của Đảng, Nhà nước… Có thể kể đến các
công trình nghiên cứu theo các chủ đề sau đây:
+ Nghiên cứu về vị trí, vai trò, chất lượng của ĐNGV
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có
giáo dục... Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế văn hóa” [29]. Do đó, xây dựng và phát triển ĐNGV là vấn đề mang tính lý
luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự phát triển giáo dục của nước ta. Tác giả
Trần Đình Tuấn trong bài nghiên cứu về vai trò của ĐNGV đã khẳng định:
Chất lượng đội ngũ nhà giáo nhân tố quyết định chất lượng giáo dục đại học
[66]. Tác giả Lê Đức Ngọc cho rằng: Có 2 lý do chính phải quan tâm hàng
27
đầu về phát triển ĐNGV các trường đại học đó là: (1) Trình độ đội ngũ quyết
định chất lượng và khả năng của một trường trong giảng dạy, nghiên cứu và
phục vụ xã hội trong nền kinh tế hàng hóa; (2) Chi phí lương và phụ cấp cho
đội ngũ này là khoản chi phí lớn nhất của mỗi trường đại học, nó gắn liền với
vấn đề chất lượng, hiệu quả và hiệu suất đào tạo [46]. Theo tác giả Phan Văn
Kha, nội dung đổi mới căn bản quản lí nhà nước về giáo dục và quản lí cơ sở
giáo dục là đổi mới căn bản về chính sách phát triển đội ngũ nhà giáo và
CBQL giáo dục; Đảng, Nhà nước cần có chính sách đặc biệt đối với đội ngũ
nhà giáo và CBQL giáo dục vì giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực phát
triển kinh tế xã hội, là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội, thực hiện sứ
mệnh nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nhân lực, đặc biệt là nhân
lực chất lượng cao cho đất nước, trong đó đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo
dục có vai trò quyết định đảm bảo chất lượng hiệu quả giáo dục; về đổi mới
căn bản và toàn diện hệ thống sư phạm, quy hoạch lại hệ thống đào tạo sư
Australia (tháng 6/2003), trong giáo dục Nhật Bản [86], Hàn Quốc [26] và
một số các nước khác đều nhấn mạnh vai trò của nhà giáo phải vừa là nhà
chuyên môn, vừa là người lãnh đạo (lãnh đạo hoạt động lớp học và lãnh đạo
chuyên môn). Trong giáo dục đại học vị trí, vai trò của GV được xác định và
diễn đạt: Giảng viên đại học = Nhà giáo + Nhà quản lý + Nhà cung ứng xã
hội [24].
Tóm lại: Những công trình nghiên cứu trên đã khẳng định vị trí, vai trò
quyết định chất lượng giáo dục đào tạo của ĐNGV, nghiên cứu về quy hoạch,
đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng giảng viên và cán bộ quản lý; nghiên cứu thực
trạng, đánh giá giảng viên theo chuẩn hóa. Kết quả nghiên cứu của những
công trình này có giá trị làm tư liệu khoa học để chúng tôi tham khảo.
+ Nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên
Theo tác giả Nguyễn Thị Bình, bàn về các giải pháp đổi mới giáo dục
toàn diện, các chuyên gia giáo dục có chung một đề xuất: Công tác xây dựng
đội ngũ giáo viên phải được xem là giải pháp cốt lõi, quan trọng nhất. Theo
các tác giả phải tập trung sửa đổi chính sách đối với nhà giáo và cải cách công
29
tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Tập
thể các nhà giáo, nhà khoa học tham gia đề tài nghiên cứu về giáo dục do Quỹ
Hòa bình và Phát triển Việt Nam tổ chức đã đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1)
Đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển nhân lực của ngành giáo dục
theo hướng đại học hóa giáo viên phổ thông và nâng cao chất lượng tuyển
sinh vào ngành sư phạm; (2) Sắp xếp lại các trường đại học sư phạm thành
một hệ thống có chung chiến lược phát triển; (3) Đổi mới nội dung và phương
pháp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phổ thông theo hướng chuyển từ đào tạo
một lần sang đào tạo căn bản; (4) Sửa đổi chính sách về tiền lương và phụ
cấp, bảo đảm để giáo viên dạy ở trường công và gia đình họ có mức sống cao
trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục của tác giả Võ Thành Đạt đã
phân tích khá sâu sắc về thực trạng quản lý ĐNGV các trường đại học công
an nhân dân, luận án xây dựng được 6 giải pháp đề xuất mang tính toàn diện
và hệ thống cao, trong đó giải pháp “đổi mới quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ giảng viên” là đột phá của ngành công an nhân dân [16]. Cũng nghiên
cứu về phát triển ĐNGV, luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thanh Xuân: “Phát
triển đội ngũ giảng viên các trường đào tạo, bồi dưỡng Bộ Nội vụ đáp ứng
yêu cầu nguồn nhân lực ngành nội vụ hiện nay” đã đề xuất áp dụng 7 giải
pháp phát triển ĐNGV các trường đào tạo, bồi dưỡng Bộ Nội vụ đáp ứng về
số lượng, cơ cấu, chất lượng ĐNGV và yêu cầu nguồn nhân lực ngành Nội vụ
hiện nay [71].
Nghiên cứu đánh giá thực trạng đội ngũ nhà giáo Việt Nam, GV giảng
dạy đại học: Tỷ lệ SV/GV của nước ta là khá cao (gần 28 SV/GV) và tới đây
lại tăng quy mô SV cỡ 10%, dẫn tới sự thiếu hụt nghiêm trọng ĐNGV đại học
và cao đẳng. Cơ cấu trình độ của ĐNGV các trường đại học và cao đẳng chỉ
có 13% có trình độ tiến sĩ khoa học và tiến sĩ, có 55% có trình độ từ đại học
trở xuống. Ngoài việc khuyến khích đào tạo các giảng viên đại học đạt trình
độ thạc sĩ và tiến sĩ, những khía cạnh cần được đặc biệt quan tâm nhằm nâng
cao năng lực chuyên môn cho ĐNGV như: (-) Khả năng sử dụng ngoại ngữ
31
để hỗ trợ cho hoạt động nghề nghiệp; (-) Khả năng gắn kết giảng dạy, NCKH
với thực tiễn lao động sản xuất; (-) Khả năng biết và ứng dụng công nghệ
thông tin vào giảng dạy; (-) Sự am hiểu về các vấn đề văn hóa, xã hội. Những
nội dung cần được đặc biệt quan tâm đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao
năng lực sư phạm cho ĐNGV: (-) Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và
truyền thông vào giảng dạy; (-) Thiết kế và phối hợp các công cụ để kiểm tra
đào tạo đa ngành của các trường ĐHSPKT.
Như vậy, có thể thấy những nghiên cứu của các tác giả ngoài nước và
trong nước đã chỉ ra được cách tiếp cận trong quản lý, phát triển ĐNGV,
những giải pháp phát triển ĐNGV để nâng cao chất lượng đào tạo trong các
cơ sở giáo dục đại học.
1.1.2. Nghiên cứu về phát triển đội ngũ GV theo tiếp cận năng lực
- Những nghiên cứu ở ngoài nước
Năng lực là một vấn đề được các nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu.
Bởi lẽ nó là yếu tố quan trọng nhất tạo nên nhân cách. A.V.Petrovski coi năng
lực là một thành tố cấu tạo nên nhân cách. Năng lực luôn gắn liền với những
yêu cầu đặt ra của một hoạt động nhất định. Ông nghiên cứu năng lực sư
phạm cho rằng năng lực sư phạm là một tổ hợp xác định các phẩm chất tâm lý
của nhân cách, những phẩm chất này là điều kiện để đạt được kết quả cao
trong việc dạy học và giáo dục trẻ em. Sự phát triển các năng lực sư phạm gắn
liền với nắm các kỹ năng, kỹ xảo sư phạm, là những cấu thành nhân cách đảm
bảo cho hoạt động của giáo viên thu được kết quả [48]
Theo F.N.Gonobolin [23], trong khoa học tâm lý, người ta coi năng lực
là những thuộc tính tâm lý riêng lẻ của cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà
con người hoàn thành tốt đẹp một hoạt động nào đó. Điều đó có nghĩa là
người đó có năng lực. Năng lực khác với tri thức, kỹ năng, kĩ xảo, kinh
nghiệm và trình độ đào tạo. Giữa năng lực, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh
nghiệm có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau. Theo tâm lý học, năng lực
được hình thành và phát triển thông qua hoạt động. Trong mỗi nghề nhất
định, con người cần phải có năng lực mới làm tốt được. Người làm nghề sư
33
phạm phải có năng lực sư phạm mới làm tốt nghề sư phạm. Năng lực nghề
nghiệp của cá nhân là điều kiện, phương tiện để thực hiện hóa xu hướng nghề
“Tầm nhìn và hành động” (1998), đã nêu lên những năng lực cần có của một
giảng viên đại học mẫu mực như sau: (-) Có kiến thức và sự thông hiểu về các
cách học khác nhau của SV; (-) Có kiến thức, năng lực và thái độ về mặt theo
dõi và đánh giá SV nhằm giúp họ tiến bộ; (-) Tự nguyện hoàn thiện bản thân
trong ngành nghề của mình; biết ứng dụng những tiêu chí nghề nghiệp và
luôn luôn cập nhật những thành tựu mới nhất; (-) Biết ứng dụng những kiến
thức về CNTT vào môn học, ngành học của mình; (-) Có khả năng nhận biết
được những tín hiệu của “thị trường” bên ngoài về nhu cầu của giới chủ đối
với những người tốt nghiệp; (-) Làm chủ được những thành tựu mới về dạy và
học, từ cách dạy học mặt giáp mặt đến cách dạy học từ xa; (-) Chú ý đến
những quan điểm và mong ước của “khách hàng”, tức là của những đối tác và
SV khác nhau; (-) Hiểu được những tác động của những nhân tố quốc tế và đa
văn hóa đối với những chương trình đào tạo; (-) Có khả năng dạy những loại
SV khác nhau, thuộc những nhóm khác nhau về độ tuổi, môi trường kinh tếxã hội, dân tộc… và biết cách làm việc với số giờ nhiều hơn trong một ngày;
(-) Có khả năng bảo đảm các giờ giảng chính khóa, xêmina hoặc tại xưởng
với một số lượng SV đông hơn; (-) Có khả năng hiểu được những “chiến lược
thích ứng” về nghề nghiệp của các cá nhân. GV đại học có thể căn cứ vào
những yêu cầu này mà chọn một số lĩnh vực cần thiết nhất đối với mình để đi
sâu [19, tr.162-163].
Cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 ở Mỹ và Canada, giáo dục, đào tạo dựa
trên năng lực thực hiện được ứng dụng rộng rãi trong dạy nghề. Bộ Giáo dục
Mỹ đã thành lập tổ chức liên kết quốc gia của các trung tâm giáo dục dựa trên
năng lực thực hiện. Tổ chức liên kết này đã cấp vốn giúp đỡ việc phổ biến
rộng rãi quan niệm mới và đẩy mạnh, phát triển vận dụng phương thức đào
tạo mới. Chính quyền Mỹ đã chi những khoản tiền rất lớn cho việc phát triển
phương thức này, các trung tâm giáo dục quốc gia về nghiên cứu giáo dục
35
nghiên cứu cụ thể nào về phát triển đội ngũ giảng viên ĐHSPKT theo tiếp cận
năng lực.
- Những nghiên cứu ở trong nước
+ Nghiên cứu về mô hình năng lực của đội ngũ giảng viên
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Sự thành công trong dạy học, giáo dục
học sinh đòi hỏi thầy giáo phải có thế giới quan tiên tiến, phẩm chất đạo đức
cao quý, trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cao. Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
là chất liệu để tạo thành năng lực. Ông cho rằng năng lực sư phạm là năng lực
chung, bao gồm các thành tố cơ bản là những năng lực riêng được chia thành
các nhóm: a) Các năng lực thuộc về nhân cách như: năng lực kiềm chế, tự
chủ, năng lực điều khiển được tâm lý; b) Các năng lực dạy học: năng lực khoa
học, năng lực ngôn ngữ; c) Các năng lực tổ chức giao tiếp: óc quan sát sư
phạm, sự khéo léo sư phạm, năng lực phân phối sự chú ý, năng lực tổ chức,
năng lực giao tiếp. Các năng lực này đều là năng lực chung của giáo viên, còn
những năng lực chuyên biệt, gắn liền với giảng dạy từng bộ môn khác nhau
[25]. Tác giả Trần Bá Hoành [30], Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn
Thàng đều thống nhất cấu trúc nhân cách người giáo viên gồm phẩm chất và
năng lực, gọi là đức và tài. Phẩm chất của người giáo viên gồm 3 thành tố: a)
Thế giới quan; b) lòng yêu trẻ; c) lòng yêu nghề. Năng lực bộc lộ trong hoạt
động và gắn liền với một số kỹ năng tương ứng [31]. Theo tác giả Trần Bá
Hoành: Năng lực người giáo viên là khả năng thực hiện các hoạt động dạy
học/giáo dục với chất lượng cao. Kỹ năng và năng lực đều là sản phẩm của
quá trình đào tạo, rèn luyện. Kỹ năng đạt mức thành thạo thì thành kĩ xảo;
năng lực đạt mức cao được gọi là tinh thông nghề nghiệp; lao động sư phạm
mang tính sáng tạo. Giáo viên phải biết vận dụng, lựa chọn phối hợp các kỹ
năng thích hợp để hoàn thành nhiệm vụ dạy học/giáo dục. Năng lực của giáo
viên có 4 loại: (1) Năng lực chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy
học/giáo dục, thiết kế hoạch động dạy học/giáo dục; (2) Năng lực tổ chức
chí đánh giá năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm của ĐNGV. Tuy nhiên,