PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp là ngành kinh tế đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ quốc
gia, vùng lãnh thổ nào. Nó là động lực cho sự phát triển của các ngành kinh
tế, là cơ sở của các ngành dịch vụ, thương mại, là yếu tố trung tâm của quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp góp phần tạo việc
làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho các quốc gia, nâng cao vị thế,
hình ảnh của các quốc gia. Tuy nhiên trong quá trình sản xuất nhiều đơn vị đã
không quan tâm đến bảo vệ môi trường do đó ô nhiễm môi trường là điều tất
yếu sẽ xảy ra. Ô nhiễm nguồn nước, đất không khí…là vấn đề nổi cộm khi
tăng trưởng quá nhanh mà bỏ qua khâu xử lý chất thải, đặc biệt là chất thải
công nghiêp.
Nước thải công nghiệp không chỉ là vấn đề bức xúc của từng quốc gia
nào mà là mối lo của toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Hiện nay ở Việt
Nam, mặc dù các cơ quan chức năng đã thực hiện rất nhiều biện pháp quản lý
nước thải công nghiệp nhưng các công tác này vẫn không thực sự có hiệu quả
và ô nhiễm môi trường nước vẫn là một vấn đề đáng lo ngại. Tốc độ tăng
trưởng quá nhanh và mức độ gia tăng dân số như hiện nay gây sức ép rất lớn
lên nguồn nước. Nguồn nước ở nhiều khu đô thị, khu công nghiệp và làng
nghề ngày càng ô nhiễm bởi nước thải công nghiệp.
Tình trạng sử dụng và xả nước thải công nghiệp bừa bãi do không có
cơ quan quản lý và giám sát đã ngày càng làm cho suy giảm về số lượng cũng
như chất lượng nước. Nguồn nước ngày càng chứa nhiều hàm lượng kim loại
nặng, chỉ tiêu BOD, COD ở nước thải gần khu công nghiệp các cơ sở sản xuất
công nghiệp…ngày càng vượt quá mức cho phép.
Để hạn chế tình trạng trên chính phủ đã đưa ra một số biện pháp kinh tế
đối với các doanh nghiệp công nghiệp và khu công nghiệp như: thu thuế ô
1
nhiễm môi trường, tiêu chuẩn thải, giấy phép xả thải, phí xả thải, phí nước
Hưng Yên.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nước thải, phí bảo vệ môi
trường đối với nước thải nói chung và nước thải công nghiệp nói riêng;
Tìm hiểu tình hình triển khai, thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối
với nước thải trên địa bàn huyện;
Đánh giá kết quả thực hiện công tác thu phí bảo vệ môi trường đối với
nước thải công nghiệp ở địa bàn nghiên cứu;
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu phí bảo vệ
môi trường đối với nước thải công nghiệp ở huyện Mỹ Hào – Hưng Yên.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: các doanh nghiệp, các khu công
nghiệp, phòng tài nguyên môi trường huyện ở địa bàn huyện Mỹ Hào.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi nội dung
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về các quy định thu phí môi
trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn huyện Mỹ Hào;
Đánh giá quá trình thực hiện và kết quả thực hiện quá trình thu phí bảo
vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm tăng cường hiệu quả công tác thu phí nước thải công nghiệp trên địa
bàn huyện.
1.4.2 Phạm vi không gian
Không gian nghiên cứu của đề tài là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên
1.4.3 Phạm vi thời gian
Thời gian thu thập số liệu: từ năm 2007 đến năm 2009;
Thời gian thực hiện đề tài: 1/1/2010-26/5/2010.
3
Nước hoà tan khí Ôxy nhiều hơn bất kỳ chất lỏng nào (1 lít nước ở 200C hoà
tan được 31 ml khí Ôxy). Vì thế, sự sống xuất hiện trong lòng ao, hồ, sông
ngòi, biển cả và đáy đại dương.
Nước có mặt trong các cơ thể sống và mang dinh dưỡng đến tất cả các
tế bào sống. Có thể nói, nước tham gia vào việc vận chuyển tất cả các chất tan
đi khắp sinh quyển.
Chu trình vận động của nước trong tự nhiên diễn ra theo một vòng tuần
hoàn. Hơi nước bốc lên từ đại dương được không khí mang vào đất liền hoà
cùng với hơi nước bốc lên từ ao, hồ, sông suối và sự thoát nước từ thực vật,
động vật đã ngưng tụ tạo thành mưa hoặc tuyết rơi xuống mặt đất, lượng nước
còn lại chủ yếu theo các nguồn nước mặt hoặc nước ngầm chảy ra biển và đại
dương.
Bảng 2.1: Phân bố và dạng của nước trên Trái đất
Tổng thể tích
Tổng lượng
nước (km3)
nước (%)
361.000.000
1.230.000.000
97.2000
510.000.000
12.700
Các đại dương và biển (nước mặn)
Khí quyển (hơi nước)
Sông, rạch
Nước ngầm (đến độ sâu 0,8 km)
Hồ nước ngọt
Tảng băng và băng hà
(Nguồn: US Geological Survey)
Nước là nguyên liệu đặc biệt, không chất nào có thể thay thế được.
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Tổng trữ lượng
nước trên trái đất rất lớn (1.386 triệu km 3, nhưng nước ngọt và nước sạch
dùng cho con người thì có hạn vì sự tái tạo lại dường như phân bố không đều
5
và không kịp cho nhu cầu sử dụng. Nước ngọt chỉ chiếm khoảng 2,7% tổng
lượng nước trên trái đất; trong đó nằm dạng băng 77,22%, nước ngầm
22,42%, hồ đầm 0,35%, sông suối 0,01% lượng nước ngọt. Nguồn nước
ngầm thường có xu hướng giảm do khai thác nhiều mà không được bổ sung
kịp thời.
Con người phải dùng nước cho sinh hoạt và sản xuất. Trong đời sống,
động vật có thể chết nếu bị mất từ 10% đến 20% lượng nước trong cơ thể.
Trung bình mỗi ngày, một người cần đưa vào cơ thể (qua ăn, uống nước) từ
2,5 đến 4 lít nước, còn nước dùng cho sinh hoạt của một người lại lớn hơn
nhiều. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu nước cho sinh hoạt càng tăng lên.
Nhu cầu nước dùng để sản xuất ra một tấn bún hoặc bánh phở trung bình cần
10 m3 nước, sản xuất một tấn thép cần khoảng 25 m 3, còn sản xuất 1 tấn giấy
cần tới 100 m3 nước.
tiện sản xuất (nước cho các quá trình) và phục vụ cho các mục đích truyền
nhiệt. Nước cấp cho sản xuất có thể lấy từ mạng cấp nước sinh hoạt chung
hoặc lấy trực tiếp từ nguồn nước ngầm hay nước mặt nếu xí nghiệp có hệ
thống xử lý riêng. Nhu cầu về cấp nước và lưu lượng nước thải trong sản xuất
phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Lưu lượng nước thải của các xí nghiệp công
nghiệp được xác định chủ yếu bởi đặc tính sản phẩm được sản xuất.
2.1.1.1.4 Quản lý nước thải
Là toàn bộ quá trình các hoạt động liên quan đến quy hoạch, lãnh đạo,
tổ chức và kiểm soát đầu tư, vận hành và bảo dưỡng, sửa chữa và thay thế các
tài sản về xử lý nước thải, nhằm đảm bảo việc thu gom và xử lý theo đúng các
luật pháp và quy định hiện hành.
Trong lịch sử phát triển kinh tế của toàn cầu đã cho thấy rằng, giữa phát
triển kinh tế và bảo vệ môi trường có mối quan hệ khăng khít gắn bó không
thể tách rời. Hay nói cách khác hệ thống môi trường và hệ thống kinh tế là
hai bộ phận của một thực thể không thể tách rời. Nền kinh tế không thể hoạt
7
động nếu tách khỏi hệ thống môi trường, hệ thống môi trường đóng vai trò là
đầu vào quan trọng cho quá trình hoạt động sản xuất và nó là nơi tiếp nhận
mọi đầu ra của hệ kinh tế. Mối quan hệ trên được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hệ Kinh tế
Hãng
Hộ gia đình
Hệ Môi trường
(Đất, nước, không khí, sinh vật)
và được áp dụng rộng rãi nhất trên toàn cầu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
nói chung và lĩnh vực quản lý kinh tế nói chung. Thuế và phí môi trường
mang tính pháp lý cao được đảm bảo thực hiện bằng pháp luật. Bản chất của
tiền thuế và tiền phí là làm tăng thêm cái giá phải trả cho những hoạt động
mà chúng tham gia vào việc cản trở mục tiêu bảo vệ môi trường và thu nhập
của xã hội. Trong tiền thuế và tiền phí có thể chia chi tiết thành các khoản
thuế và phí khác nhau ví dụ: thuế cho sản phẩm đầu vào, thuế cho sản phẩm
đầu ra, thuế đánh vào người sản xuất hay người tiêu dùng. Trong thực tế thì
tiền thuế và tiền phí là hai công cụ kinh tế hữu hiệu nhất trong quản lý môi
trường. Đồng thời đây cũng là một trong các nguồn thu chủ yếu cho quỹ bảo
vệ môi trường của các quốc gia. Khi các công cụ thuế và phí môi trường
được áp dụng sẽ có hiệu quả răn đe và mang tính giáo dục cao đối với các
chủ thể gây ô nhiễm môi trường. Tuỳ thuộc vào mức thuế suất cao hay thấp
9
mà mức độ điều chỉnh hành vi gây ô nhiễm của các chủ thể hành động là
nhiều hay ít theo sự mong muốn của các nhà quản lý.
Ví dụ về một số loại phí và thuế thường được sử dụng:
+ Tiền phí trả cho mỗi tấn BOD hoặc SO2 thải ra môi trường.
+ Tiền thuế cacbon
+ Tiền thuế đánh vào việc sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu.
+ Lệ phí sử dụng nước,
+ Lệ phí lấp hố rác…
2.1.1.1.6 Hệ thống đặt cọc hoàn trả
Hệ thống đặt cọc hoàn trả là việc ký quỹ một số tiền cho các sản phẩm
có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường, hoặc là đặt cọc cho một hoạt động
kinh tế có khả năng ảnh hưởng lớn tới môi trường. Nếu các sản phẩm được
đưa trả các điểm thu hồi quy định theo pháp luật hoặc hoàn trả lại các nhà
Để đảm bảo nguồn nước khỏi sự ô nhiễm bẩn do nước thải sinh hoạt và
nước thải công nghiệp cũng như để tránh sự ô nhiễm tự nhiên, các cơ quan
chức năng có trách nhiệm theo dõi việc xả các loại nước thải vào nguồn đặt ra
các tiêu chuẩn để kiểm tra.
Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép được
quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường. Nhà nước cấm các hoạt
động sản xuất có tác động đến môi trường vượt quá tiêu chuẩn môi trường
quy định. Đây là một dạng của phương pháp mệnh lệnh và kiểm soát, theo đó
để có được những hành vi mong muốn từ giác ngộ xã hội, các nhà quản lý chỉ
cần quy định các hành vi đó trong luật và sử dụng bộ máy thức thi cần thiết –
tòa án, cảnh sát, hình phát – để buộc mọi người tuân theo luật.
Có thể áp dụng tiêu chuẩn cho bất kỳ hoạt động nào, nhưng với vấn đề
môi trường có ba loại tiêu chuẩn chính: tiêu chuẩn môi trường xung quanh,
tiêu chuẩn phát thải và tiêu chuẩn công nghệ.
Tiêu chuẩn môi trường xunh quanh là mức độ chất ô nhiễm của môi
trường xung quanh không được phép vượt quá. Tuy nhiên không thể cưỡng
11
chế thi hành một cách trực tiếp tiêu chuẩn môi trường xung quanh mà chỉ có
thể kiểm soát được những mức phát thải khác nhau cho phép đạt được tiêu
chuẩn môi trường xung quanh.
Tiêu chuẩn phát thải là mức phát thải từ nguồn gây ô nhiễm không
được phép vượt quá. Tiêu chuẩn phát thải có thể xác định được trên nhiều cơ
sở khác nhau, chẳng hạn như tốc độ thải (kg chất thải/giờ), hàm lượng chất
thải (nồng độ BOD trong nước thải), tổng khối lượng chất thải, lượng chất
thải cho mỗi đơn vị sản phẩm (CO 2 tính trên 1 Kwh được sản xuất ra), lượng
chất thải cho mỗi đơn vị đầu vào (lượng sulfur của than dùng để sản xuất điện).
Tiêu chuẩn công nghệ là những tiêu chuẩn không chỉ rõ kết quả cuối
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
Thông số
pH
BOD5 (20oC)
COD
Oxy hòa tan (DO)
Chất rắn lơ lửng (SS)
Arsen
Bari
Cadimi
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
MPN/100mL
mg/L
mg/L
Bq/L
Bq/L
Giá trị tới hạn
A
B
6 -8,5
2
0,001
0,002
1
2
0,05
1
1
1,5
10
15
0,01
0,05
0,01
0,05
0,001
0,02
Khoõng
0,3
0,5
0,5
5000
10000
0,15
0,15
0,01
0,01
0,1
0,1
1,0
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
Nhiệt độ
pH
BOD5 (20oC)
COD
Chất rắn lơ lửng (SS)
Arsen
Cadmi
Chì
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
MPN/100 mL
0,1
0,05
0,001
0,05
0,2
5000
0,1
1,0
B
40
5,5 – 9
50
100
100
0,1
0,02
0,5
2
0,1
1
1
10
1
2
1
1
0,5
6
5
5
2
1
8
10
0,01
5
0,1
5
60
10
0,2
1
0,3
1
-
(Nguồn: TCVN 5945-1995)
Ghi chú:
A các nguồn nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt
B dùng cho giao thông thủy, tưới tiêu, bơi lội, thủy sản, trồng trọt...
> B và ≤ C chỉ đổ vào các nơi quy định
14
> C không được thải ra môi trường
2.1.1.4 Các chỉ tiêu phân loại nước thải công nghiệp
2.1.1.4.1 Phân loại nước thải theo nguồn gốc
Nước thải công nghiệp quy ước sạch: là loại nước thải sau khi sử dụng
để làm nguội sản phẩm, làm mát thiết bị, làm vệ sinh sàn nhà.
các oxit axít (NxOy, CO2, SO2) từ khí quyển và từ nước thải công nghiệp đã
tan trong nước làm cho độ pH của nước thải giảm xuống. Vị nồng là biểu hiện
của kiềm (pH>7). Các cơ sở công nghiệp dùng Bazơ thì lại đẩy độ pH trong
nước lên cao. Lượng Amôniac sinh ra do quá trình phân giải Prôtêin cũng làm
cho pH tăng lên. Vị mặn chát là do một số muối vô cơ hoà tan, điển hình là
muối ăn (NaCl) có vị mặn.
2.1.1.4.3 Phân loại nước thải theo tính chất hóa học
Nhiệt độ: Nhiệt độ của nước sẽ thay đổi theo từng mùa trong năm.
Nước bề mặt ở Việt Nam dao động từ 14,3-33,50C. Nguồn gốc gây ô nhiễm
nhiệt độ chính là nhiệt của các nguồn nước thải từ bộ phận làm lạnh của các
nhà máy, khi nhiệt độ tăng lên còn làm giảm hàm lượng oxy hoà tan trong nước.
Độ dẫn điện: Các muối tan trong nước phân li thành các ion làm cho
nước có khả năng dẫn điện. Độ dẫn điện phụ thuộc vào nồng độ và độ linh
động của các ion. Do vậy, độ dẫn điện cũng là một yếu tố đánh giá mức độ ô
nhiễm nước.
DO (lượng Ôxy hoà tan): DO là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết
cho sự hô hấp của các sinh vật sống dưới nước (cá, lưỡng thể, thuỷ sinh, côn
trùng). DO thường được tạo ra do sự hoà tan từ khí quyển hoặc do quang hợp
của tảo. Nồng độ oxy tự do trong nước nằm khoảng 8-10 mg/l và dao động
mạnh phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, sự phân huỷ hoá chất, sự quang hợp của
tảo… Khi nồng độ DO thấp, các loài sinh vật trong nước giảm hoạt động hoặc
chết. Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của
các thuỷ vực.
16
Chỉ tiêu vi sinh vật: Nước thải chứa một lượng lớn các vi khuẩn, vi rút,
nấm, rêu tảo, giun sán... Để đánh giá mức độ nhiễm bẩn bởi vi khuẩn, người
ta đánh giá qua một loại vi khuẩn đường ruột hình đũa điển hình có tên là Côli
- Phí bảo vệ môi trường
- Phí thẩm định báo cáo tác động môi trường
- Phí vệ sinh.
- Phí phòng chống thiên tai.
- Phí sử dụng an toàn bức xạ.
- Phí thẩm định an toàn bức .
Riêng phí bảo vệ môi trường được tại nghị định số 57/2002NĐ-CP
ngày 3/6/2002 của chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh phí và lệ phí
quy định thành 6 loại như sau.
- Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
- Phí bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, khí thải từ việc sử dụng than đá và
các nguyên liệu khác.
- Phí bảo vệ môi trường với chất thải rắn.
- Phí bảo vệ môi trường tiếng ồn.
- Phí bảo vệ môi trường đối với sân bay, nhà ga bến cảng, phí bảo vệ
môi trường với viêc khai thác dầu mỏ, khí đốt và khoảng sản khác.
Như vậy phí bảo vệ môi trường nói chung và phí nước thải nói riêng có
thể được hiểu là một khoản nghĩa vụ tài chính mà các tổ chức, cá nhân phải
trả khi được hưởng một dịch vụ về môi trường. Có thể nói đây là một công cụ
quản lý cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý
nhằm đạt được các mục tiêu môi trường. Và đây cũng là nghĩa vụ của các
doanh nghiệp, các tổ chức và là một nhu cầu tất yếu của xã hội nhằm đảm bảo
vệ môi trường.
18
2.1.2.2 Căn cứ thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, hoà nhập với các hoạt
động BVMT trong khu vực và trên toàn cầu. Quốc hôi thông qua luật bảo vệ
thải. Còn thông tư 125 hướng dẫn thi hành nghị định 67. trong đó quy định rõ
đối tượng phải chịu phí bảo vệ môi trường với nước thải và cách tính phí.
Đối với nước thải công nghiệp cách tính phí được tính:
Số phí = tổng lượng nước thải * hàm lượng chất gây ô nhiễm trong
nước thải(mg/l)*10-3 * mức thu đối với chât gây ô nhiễm ra MT(đồng/kg)
Qua các văn bản pháp luật có thể thấy phí nước thải nước ta được tính
dựa vào các tiêu chí:
+ Tổng lượng thải
+ Hàm lượng các chất gây ô nhiễm có trong nước tính bằng mg/l
+ Đặc tính các chất gây ô nhiễm. Mỗi chất gây ô nhiễm khác nhau có
một mức thu phí tối đa và tối thiểu khác nhau, tuỳ theo mức độ độc hại của
mỗi loại chất và được quy đinh tại nghị định 67. Các chất gây ô nhiễm chủ
yếu được quy đinh trong luật là: BOD, COD, TSS, Hg, Pb, As, Cd.
Bảng 2.4: Mức thu phí nước thải công nghiệp
STT
Chất gây ô nhiễm
Mức thu
có trong nước thải
(đồng/kg chất gây ô nhiễm có trong nước thải)
Tên gọi
Ký
Môi trường
100
100
200
10.000.000
1
2
3
4
Nhu cầu oxy sinh hóa
Nhu cầu oxy hóa học
Chất rắn lơ lửng
Thủy ngân
ABOD
ACOD
ATSS
AHg
5
Chì
APb
500.000
450.000
20
Môi trường tiếp nhận loại B gồm: nội thành, nội thị của các đô thị loại
IV, loại V và ngoại thành, ngoại thị của các đô thị loại đặc biệt, loại I, loại II,
loại III;
Môi trường tiếp nhận loại C gồm: ngoại thành, ngoại thị của các đô thị
loại IV và các xã không thuộc đô thị, trừ các xã không thuộc môi trường tiếp
nhận loại D;
Môi trường tiếp nhận loại D bao gồm: các xã biên giới, miền núi, vùng
cao, vùng sâu, và vùng xa.
Trường hợp nước thải công nghiệp của một cơ sở có nhiều chất gây ô
nhiễm thì phí bảo vệ môi trường là tổng số phí bảo vệ môi trường đối với
nước thải công nghiệp phải nộp của từng chất gây ô nhiễm.
Nhìn chung cách tiếp cận trên đã nhận được sự đồng thuận cao của
cộng đồng các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý và người dân vì về mặt lý
thuyết nó đảm bảo được nguyên tắc “ Người gây ô nhiễm phải trả tiền” và ai
gây ô nhiễm nhiều hơn sẽ phải trả phí bảo vệ môi trường cao hơn và
ngược lại.
2.1.2.4 Cơ sở xác định phí nước thải công nghiệp
2.1.2.4.1 Dựa vào tổng lượng nước thải
Tổng lượng chất thải là một trong các căn cứ quan trọng để xác định
tổng chi phí mà các doanh nghiệp phải đóng cho cơ quan quản lý môi trường,
đó là cơ sở để cho các cơ quan quản lý này thu phí bảo vệ môi trường.
Thông qua việc xác định tổng lượng chất thải (ở đây là tổng lượng nước thải )
của từng doanh nghiệp mà chúng ta có thể biết được lưu lượng nước thải của
các doanh nghiệp này lớn hay nhỏ từ đó xác định được mức độ nghiêm trọng
của hành vi xả thải đối với môi trường của các doanh nghiệp này.
21
22
hại nhiều hơn thì mức phí phải đóng sẽ cao hơn. Cũng có các thành phần các
chất thải như nhau nhưng nguồn thải của một doanh nghiệp sản xuất A lại có
hàm lượng các chất độc hại cao hơn xí nghiệp sản xuất B như vậy chứng tỏ
rằng mức độ gây ô nhiễm môi trường của xí nghiệp A là lớn hơn xí nghiệp B
do đó A sẽ phải chịu một mức phí lớn hơn B.
2.1.2.4.4.Dựa vào hệ số chịu tải môi trường.
Hệ số này biểu thị mức độ chịu tải của môi trường của một vùng phụ
thuộc vào thực trạng môi trường, tình hình kinh tế xã hội của vùng đó và nó
cũng phản ánh mức độ thiệt hại tiềm tàng tương ứng do ô nhiễm gây ra. Khả
năng chịu tải của vùng nông thôn, vùng núi, những vùng không có khu công
nghiệp khác với các vùng thành phố lớn và các khu công nghiệp. Hệ số chịu
tải của môi trường sẽ làm tăng hay giảm phí ô nhiễm tuỳ thuộc vào mức độ
chịu tải của môi trường đó.
Chúng ta có thể xác định hệ số chịu tải môi trưòng thông qua việc xác
định mật độ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và các cơ quan có nguồn
thải gây ô nhiễm môi trường tiềm tàng trên 1 km 2 và mật độ dân số tại khu
vực hay đơn vị hành chính đó. Thứ hai ta có thể xác định hệ số chịu tải dựa
vào tiêu chuẩn môi trường quốc gia. Thứ ba chúng ta có thể xác định theo các
thành phố, khu vực công nghiệp, khu chế xuất.
2.1.2.4.5.Dựa vào chi phí biên bỏ ra lắp đặt hệ thống giảm thải.
Việc xác định phí gây ô nhiễm nước thường dựa trên cơ sở tính toán
chi phí cho các biện pháp xử lý nước thải ra môi trường. Cách này trên thực tế
rất khó thực hiện do chi phí biên để giảm thải thêm một đơn vị chất thải rất
khác nhau, và là một hàm số phụ thuộc vào nhiều biến số như tuổi đời, chất
lượng của thiết bị, hệ số hiệu quả của thiết bị. Hơn nữa đa số các doanh
nghiệp Việt Nam có quy trình công nghệ sản xuất cũ và thiết bị máy móc của
- Cơ sở chế biến thực phẩm nông, lâm, thủy, hai sản: cơ sở hoạt độg giết
mổ gia súc;
- Cơ sở sản xuất rượu bia, nước giải khát: cơ sỏ thuộc da, tái chế da;
- Cơ sở sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề;
24
- Cơ sở chăn nuôi công nghiệp tập trung;
- Cơ sở cơ khí, sửa chữa ô tô xe máy tập trung;
- Cơ sở khai thác chế biến khoáng sản;
- Cơ sở nuôi tôm công nghiệp, cơ sở sản xuất và ươm tôm giống;
- Nhà máy cấp nước sạch; hệ thống xử lý nước thải tập trung.
2.1.2.5.2 Mục tiêu của việc thu phí bảo vệ môi trường
Chính sách thu phí bảo vệ môi trường với nước thải công nghiệp đã
được chính phủ ban hành thông qua nghị định 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ
môi trường với nước thải (bao gồm nước thải sinh hoạt và nước thải công
nghiệp) ngày 13/6/2003 và chính thức có hiệu lực vào ngày 1/1/2004. Bên
cạnh đó ngày 18/12/2003, Bộ tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã
ban hành thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNTN để hướng dẫn
thực hiện Nghị định này. Tuy nhiên cho đến tháng 4/2004 vẫn chưa có địa
phương nào trên cả nước thực hiện thu phí bảo vệ môi trường và phí nước thải
với công nghiệp. Và mãi tới tháng 9/2004 mới có tin tức về việc thu phí nước
thải của một số địa phương.
Mục tiêu hàng đầu của chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với
nước thải công nghiệp là làm cho doanh nghiệp thay đổi hành vi theo hướng
thân thiện với môi trường; nghĩa là Chính phủ mong muốn doanh nghiệp
giảm ô nhiễm, chứ không đơn thuần là thu được nhiều phí từ phía doanh
nghiệp. Tổ chức thực hiện chính sánh thành công, chính chỉ là nhằm đạt được
những mục tiêu đó.