118 trình bày cơ bản những hậu quả pháp lý của trường hợp đơn phương chấm dứt hđlđ của NLĐ cũng như cả NSDLĐ - Pdf 35

BÀI LÀM
I, Mở bài
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động ngày càng trở nên phức tạp, vi
phạm pháp luật lao động diễn ra nhiều hơn, đặc biệt là việc đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Hành vi này có thể gây ảnh hưởng tiêu
cực đến người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động (NSDLĐ) và Nhà
nước, xã hội, chính vì thế pháp luật lao động đã có những quy định cụ thể về
hậu quả pháp lý đối với những trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động (HĐLĐ) trái pháp luật. Trong phạm vi bài viết của mình, em xin
trình bày cơ bản những hậu quả pháp lý của trường hợp đơn phương chấm dứt
HĐLĐ của NLĐ cũng như cả NSDLĐ.
II, Nội dung vấn đề
1, Khái quát về chấm dứt HĐLĐ và đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái
pháp luật
Chấm dứt HĐLĐ là sự kiện pháp lý rất quan trọng, bởi hậu quả pháp lí của nó
là sự kết thúc quan hệ lao động, nó ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của
NSDLĐ và NLĐ sau khi quan hệ lao động chấm dứt. Chấm dứt HĐLĐ là sự
kiện pháp lí mà một hoặc cả hai bên không tiếp tục thực hiện HĐLĐ, chấm
dứt quyền và nghĩa vụ của hai bên đã thỏa thuận trong HĐLĐ. Dựa trên tính
hợp pháp của sự kiện chấm dứt có chấm dứt HĐLĐ hợp pháp và chấm dứt
HĐLĐ trái pháp luật. Dựa trên cơ sở ý chí và biểu lộ ý chí thì có trường hợp
chấm dứt HĐLĐ do ý chí hai bên, ý chí người thứ ba và chấm dứt HĐLĐ do
ý chí một bên- tức là đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Chấm dứt HĐLĐ đơn
phương là những trường hợp chấm dứt chỉ phụ thuộc vào ý chí của một chủ
thể, nhưng được pháp luật bảo đảm và thực hiện. Như vậy trường hợp đơn
phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật là việc đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động trước thời hạn của NSDLĐ hoặc NLĐ trái với những quy định
của pháp luật về căn cứ, thủ tục chấm dứt… Theo quy định, các trường hợp
đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật bao gồm:
- NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật
- NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật

Đối với NSDLĐ, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đồng trái pháp luật
là hành vi tự ý phá vỡ quan hệ lao động trái ý muốn của NLĐ, vi phạm các
quy định của pháp luật. Nó làm NLĐ mất việc làm, mất thu nhập, ảnh hưởng
đến cuộc sống của họ và gia đình. Theo quy định tại khoản 1, Điều 41 BLLĐ
2


thì: NSDLĐ phải nhận NLĐ trở lại làm việc theo hợp đồng đã ký và phải bồi
thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương ( nếu có)
trong những ngày NLĐ không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền
lương và phụ cấp (nếu có). Trong trường hợp NLĐ không muốn trở lại làm
việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường quy định như đã nói và trợ cấp cho
NLĐ thì hai bên thoản thuận về khoản tiền bồi thường thêm cho NLĐ để
chấm dứt hợp đồng lao động. Cũng theo khoản 4 Điều 41 BLLĐ nếu NSDLĐ
còn vi phạm về quy định về thời hạn báo trước cho NLĐ thì phải bồi thường
cho NLĐ một khoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những
ngày không báo trước.
Quy định trên của pháp luật đã đảm bảo được trách nhiệm của NSDLĐ khi có
hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật đối với NLĐ: đó là sự
khôi phục trạng thái của quan hệ lao động, bù đắp sự thiệt hại cho NLĐ. Nếu
đặt trong sự so sánh với hậu quả pháp lý mà NLĐ phải gánh chịu khi đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì NLĐ không phải khôi
phục lại quan hệ lao động đã bị phá vỡ. Ngoài những hậu quả pháp lý trên,
NSDLĐ còn phải gánh chịu trách nhiệm hành chính hoặc tránh nhiệm hình sự
tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của mình. Với mục đích bảo vệ quyền lợi
của NLĐ- bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động, Nhà nước cân nhắc đến
tính lợi hại của các chế tài để áp dụng có hiệu quả.
III, Kết bài
Nhà nước xuất phát từ mục đích bình ổn quan hệ lao động trong nền kinh tế
thị trường, nên đã thiết lập những hành lang pháp lý cho hành vi của các chủ




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status