Chuyên đề Mác – Lênin 2
GVHD: ThS Ngô Đức Hồng
LỜI MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa Trọng thương là một bộ phận đặc biệt quan trọng của kinh tế chính trị
tư sản cổ điển. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho những luận điểm của chủ
nghĩa trọng thương trở nên lỗi thời. Trọng tâm chú ý của các nhà kinh tế học ngày
càng chuyển từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Chủ nghĩa trọng thương
nhường chỗ cho chủ nghĩa trọng nông. Mặc dù là giai đoạn cao hơn so với chủ nghĩa
trọng thương, nhưng chủ nghĩa trọng nông còn nhiều hạn chế, đặc biệt là chỉ giới hạn
ở lĩnh vực sản xuất trong nông nghiệp và chưa có khái niệm đúng đắn về giá trị. Chủ
nghĩa trọng nông nhường chỗ cho kinh tế học chính trị tư sản cổ điển mà tiêu biểu là
kinh tế học chính trị tư sản cổ điển Anh. Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh mở đầu
từ W. Petty và kết thúc ở D. Ricardo. Lý thuyết giá trị lao động là một trong những lý
thuyết quan trọng của các nhà kinh tế tư sản cổ điển Anh. Qua đánh giá các điểm giá
trị khoa học và hạn chế của W. Petty, Adam Smith và Ricardo trong lý luận giá trị lao
động để ta thấy được Mác đã kế thừa và phát triển tư tưởng của họ như thế nào.
SVTH: Trần Văn Chương – MSSV: 6106603
Trang 1
Chuyên đề Mác – Lênin 2
GVHD: ThS Ngô Đức Hồng
NỘI DUNG
Chương 1:
LÝ LUẬN GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG CỦA
làm nghề thủ công. Ông là người học rộng, biết nhiều và có nhiều tài trên các lĩnh vực
hoạt động khoa học và thực tiễn. Nhờ có tài năng nên thu nhập lớn, ông bước vào hàng
ngũ các nhà địa chủ quý tộc và là một nhà tư bản công nghiệp lớn. Do hoạt động lý
luận gắn liền với hoạt động thực tiễn nên thế giới quan là phương pháp luận của ông
vượt xa những người trọng thương thời đó. Ông đi sâu vào tìm hiểu bản chất bên trong
các quá trình kinh tế và thừa nhận các quy luật kinh tế khách quan . Đó là một mốc
đánh dấu sự phát triển tư tưởng kinh tế trong lịch sử.
- Những tác phẩm chủ yếu của William Petty:
SVTH: Trần Văn Chương – MSSV: 6106603
Trang 2
Chuyên đề Mác – Lênin 2
GVHD: ThS Ngô Đức Hồng
+ Bàn về thuế khóa và lệ phí (Năm 162).
+ Giải phẫu học chính trị Ireland (Năm 1672).
+ Số học chính trị (Năm 1676).
+ Bàn về tiền tệ (Năm 1682).
Những tác phẩm đầu tay, William Petty còn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa trọng
thương, đến tác phẩm xuất bản năm 1682 ông mới hoàn toàn đoạt tuyệt với chủ nghĩa
trọng thương.
- Công lao lớn nhất của William Petty là đưa ra nguyên lý giá trị lao động, điều
đó làm cho ông xứng đáng là người sáng lập của kinh tế chính trị học.
1.2.1.2. Lý luận giá trị lao động của William Petty.
Công lao to lớn của W.Petty là ở chỗ, ông là người đầu tiên xây dựng học thuyết
về giá trị lao động. W. Petty đã có nhận xét đúng đắn khi vạch rõ vai trò của lao động
nhiên” giữa đất đai và lao động với nhau bằng việc xác định cần phải có bao nhiêu đất
để sản xuất “lương thực cho một người trong một ngày”, xem giá trị của sản lượng như
thế ngang bằng với giá trị lao động trong một ngày. Mục đích trong nỗ lực của
W.Petty là phải hình thành một đơn vị đánh giá qua đó nhằm giảm bớt số lượng giá trị
của hai yếu tố, đất đai và lao động, với số lượng đồng nhất của “sức sản xuất” sau đó
dùng những tiêu chuẩn giá trị tuyệt đối, nỗ lực này cũng chứng tỏ là ngõ cụt phân tích.
1.2.2. Lý luận giá trị lao động của Adam Smith.
1.2.2.1. Khái lược về tiểu sử và các tác phẩm của Adam Smith.
Adam Smith (1723 – 1790) sinh tại Kieccondi, một thành phố nhỏ của Scotland.
Bố ông là một quan chức trong ngành thuế.
Ông đã học tập và có được một học vấn toàn diện tại các trường Đại học của
nước Anh. Năm 1748 Ông tốt nghiệp đại học, ông giảng dạy văn học và tu từ học ở
trường Đại học Edinbua. Từ năm 1751 trở đi, ông giảng dạy logic, triết học, đạo đức
tại Trường Đại học Glasgow và tích cực tham dự câu lạc bộ kinh tế chính trị.
Năm 1759, những bài giảng của ông được xuất bản. Cuốn Lý luận về những tình
cảm đạo đức đã làm ông nổi tiếng. Công tước Beclay đã mời ông làm giáo sư giảng
dạy cho mình.
Năm 1765, Ông sang Pháp, ở đây ông đã tiếp xúc và trao đổi với những người
theo trường phái trọng nông. Điều đó có ý nghĩa lớn trong quá trình hình thành các
quan điểm kinh tế ở ông. Sau một năm ở lại nước Pháp, Ông về nước Anh và xin thôi
việc giảng dạy. Suốt 12 năm, ông nghiên cứu và viết tác phẩm Nghiên cứu về bản chất
và nguyên nhân giàu có của các nước xuất bản năm 1776. Tác phẩm của ông bao gồm
5 quyển:
SVTH: Trần Văn Chương – MSSV: 6106603
Trang 4
cách dùng của từ “giá trị”: Giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Ông nói: từ “giá trị có
hai nghĩa khác nhau, có lúc nó biểu thị hiệu quả sử dụng như là một vật phẩm đặc
biệt, có lúc biểu thị sức mua do chỗ chiếm hữu một vật nào đó mà nó có được đối với
vật khác. Cái trước gọi là giá trị sử dụng, cái sau gọi là giá trị trao dổi. Tiếp đó ông
còn chứng minh rõ quan hệ giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi”.
SVTH: Trần Văn Chương – MSSV: 6106603
Trang 5
Chuyên đề Mác – Lênin 2
GVHD: ThS Ngô Đức Hồng
Những thứ có giá trị sử dụng rất lớn, thường có giá trị trao đổi cực nhỏ, thậm chí
không có. Ngược lại, những thứ có giá trị trao đổi rất lớn, thường có giá trị sử dụng
cực nhỏ, hoặc không có giá trị trao đổi. Việc phân biệt rõ ràng hai khái niệm giá trị sử
dụng và giá trị trao đổi này đồng thời giải thích rõ là giá trị trao đổi lớn hay nhỏ không
có liên quan gì đến giá trị sử dụng, đó là công lao của Adam Smith. Nhưng ông cho
rằng những thứ không có giá trị sử dụng có thể có giá trị trao đổi thì lại là sai lầm.
Khi xây dựng lý luận giá trị, trước hết ông giải quyết vấn đề “Thế nào là thước
đo thực sự của giá trị trao đổi”. Ông cho rằng trao đổi hàng hóa chẳng qua là trao đổi
lượng giá trị lao động thể hiện trong hàng hóa đó. Vì thế, giá trị trao đổi của hàng hóa
là do lao động quyết định. Điều đó là hoàn toàn tự nhiên. Lao động là thước đo thực sự
để xác định giá trị trao đổi của mọi loại hàng hóa. Việc xác nhận lao động quyết định
giá trị của hàng hóa là công lao và thành tích khoa học của ông. Nhưng ông không
hiểu được tính chất xã hội của loại lao động này. Vì thế, khi đi sâu tìm hiểu thêm xem
là lao động gì quyết định giá trị của hàng hóa, lao động xác định giá trị của hàng hóa
như thế nào thì ông rơi vào sự hỗn loạn. Một mặt ông cho rằng lao động quyết định giá
nhuận và địa tô tạo thành. Như vậy trên thực tế đã chuyển giá trị là do lao động quyết
định sang giá trị quýêt định bởi ba loại thu nhập. Vì vậy, ông nói “tiền lương, lợi
nhuận và địa tô là ba nguồn gốc cơ bản của mọi thu nhập và mọi giá trị có thể trao
đổi”. Quan điểm này của ông được các nhà kinh tế học tư sản sau đó phát triển thành
lý luận về chi phí sản xuất.
Ông cho rằng giá trị hàng hóa được chia thành ba loại thu nhập là sai lầm. Ở đây
ông lẫn lộn giá trị hàng hóa với giá trị sáng tạo mới của lao động.
Vấn đề thứ ba trong lý luận giá trị của ông là nghiên cứu quy luật giá trị và tác
dụng của nó. Ông đã phân biệt giá cả thị trường và giá cả tự nhiên. Giá cả tự nhiên là
chỉ giá cả cấu tạo nên theo mức tự nhiên, tức là tiền lương, lợi nhuận và địa tô chi trả
theo mức bình quân. Giá cả thực tế là chỉ giá cả sản xuất thống nhất với giá trị. Giá cả
thị trường do sự thay đổi quan hệ cung cầu của hàng hóa, nên có lúc cao hơn có lúc
thấp hơn giá cả tự nhiên, nhưng do tự do cạnh tranh, giá cả thị trường thường có xu thế
tự nhiên nhất trí với giá cả tự nhiên. Có thể thấy rằng, không những ông coi giá cả dao
động xoay quanh giá trị là một hiện tượng có tính quy luật, mà còn chứng minh rõ tác
dụng điều tiết của quy luật giá trị đối với sản xuất hàng hoá. Nhưng do chỗ không hiểu
được mối liên hệ nội tại giữa giá trị và giá cả, ông không giải thích được sự xa rời giá
cả khỏi giá trị chính là hình thức tác dụng của quy luật giá trị.
Nguyên tắc của trao đổi hàng hóa là ngang giá: Hai hàng hóa đựơc trao đổi
ngang bằng nhau vì số lao động đã chi phí để sản xuất ra chúng là ngang nhau. Người
sản xấut hàng hóa này mua hàng hóa khác, nghĩa là, lao động hao phí của anh ta đã
ngang bằng với hao phí lao động của ngừơi bán. Ông cho rằng, trong xã hội trước chủ
nghĩa tư bản thì toàn bộ giá trị do người lao động tiêu dùng hết. Nó bằng tiền lương
của người lao động. Nhự vậy, giá trị do lao động tạo ra chỉ đúng trong nền kinh tế
hàng hóa giản đơn.
A. Smith cho rằng, trong chủ nghĩa tư bản, quy luật giá trị đã bị vi phạm, nguyên
tắc ngang giá đã không được tuân thủ giữa người công nhân và nhà tư bản . Ông thấy
rằng nhà tư bản chỉ trả cho người công nhân một phần giá trị, phần khác của giá trị
SVTH: Trần Văn Chương – MSSV: 6106603
cơ bản mà sở thích của ông là kinh tế chính trị. Từ năm 1807,
ông chuyên nghiên cứu về kinh tế chính trị và công bố nhiều tác
phẩm về tiền tệ. Tác phẩm Giá cả cao của thoi nén là bằng chứng của việc giảm giá
ngân phiếu công bố năm 1811, với quan điểm “Giá trị tiền tệ quyết định số lượng tiền
tệ” đã gây chấn động trong khoa học cũng như các tầng lớp tư sản. Năm 1815, ông
xuất bản cuốn Bàn về giá của lúa mì. Ông đã luận chứng sự cần thiết phải bãi bỏ thuế
quan về lúa mì và lên án các đạo luật bảo vệ lợi ích người thu tô.
Năm 1817, ông xuất bản tác phẩm Những nguyên lý khoa kinh tế chính trị hay
Những nguyên lý cơ bản của chính sách kinh tế và thuế khóa. Tác phẩm này đã làm
ông nổi tiếng trên toàn thế giới.
SVTH: Trần Văn Chương – MSSV: 6106603
Trang 8
Chuyên đề Mác – Lênin 2
GVHD: ThS Ngô Đức Hồng
1.2.3.2. Lý thuyết giá trị lao động của David Ricardo.
Ông là người kế thừa và phát triển lý luận của Adam Smith, đã đứng vững trên
quan điểm giá trị lao động:
- Phân biệt giá trị và của cải (giá trị sử dụng), giá trị khác xa của cải, giá trị
không phụ thuộc có nhiều hay ít của cải mà phụ thuộc vào điều kiện sản xuất khó khăn
hay dễ dàng. Tức là ông đã phân biệt hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và
giá trị trao đổi. Ông cho rằng giá trị sử dụng rất cần thiết nhưng không quyết định giá
trị trao đổi. Giá trị trao đổi do lao động quyết định.
- Đã gạt bỏ sai lầm của A .Smith về giá trị và cho rằng giá trị hàng hóa do lao
động hao phí quyết định không chỉ dungd trong kinht ế hàng hóa giản đơn, mà còn
đúng trong nền kinh tế hàng hóa phát triển (kinh tế hàng hóa TBCN).
đến lượng giá trị hàng hóa .
- Chưa nghiên cứu hệ thống các hình thái giá trị, nên chưa thấy được nguồn gốc
và bản chất của tiền.
- Lý luận của David Ricardo còn mang tính siêu hình, phi lịch sử cho rằng giá trị
là phạm trù vĩnh viễn, là thuộc tính của mọi vật.
1.2.4. Đánh giá chung.
Nhìn chung, lý luận giá trị của trường phái cổ điển đã có những đóng góp đáng
kể, tạo tiền đề cho lý luận của Các Mác. Tuy nhiên, học không thể giải quyết triệt để
những vấn đề của lý luận giá trị lao động như: Giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa
được tạo ra như thế nào, chưa thấy được vai trò của máy móc, thiết bị trong việc hinh
thành giá trị do đó chưa phân tích đủ lược giá trị của hàng hóa. Chính điều đó đã làm
cho trường phái kinh tế chính trị cổ điển Anh không thể tiến sâu tới chân lý khoa học,
chưa khái quát thành những quy luật kinh tế chi phối sự vận động của nền sản xuất
hàng hóa.
1.2.5. Những tiến bộ trong lý luận giá trị lao động của David Ricardo so với
Adam Smith.
- Chiếm vị trí trung tâm trong học thuyết kinh tế của D.Ricardo là lý luận giá trị
-lao động. Ông đã kế thừa và phát triển tư tưởng của A.Smith. Ông gạt bỏ những sai
lầm và mâu thuẫn trong lý luận của A.Smith.
- Ông cho rằng, “Giá trị sử dụng không là thước đo của giá trị trao đổi, mặc dù
nó rất cần thiết cho giá trị trao đổi. Nếu đối tương không cần thiết cho chúng ta nó sẽ
mất đi giá trị trao đổi”. Như vậy, ông đã thấy được sự khác biệt giữa giá trị sử dụng và
giá trị trao đổi. Giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi. Trên thị trương số
lượng hàng hóa dựa vào tính chất khan hiếm của mình để có giá trị cao là rất ít. Chủ
yếu giá trị hàng hóa là do lao động của người sản xuất quyết định.
- Ông ủng hộ lý luận giá trị lao động của A.Smith. Ông cho rằng, trong định
nghĩa về giá trị của A.Smith thì định nghĩa “giá trị do hao phí lao động quyết định” là
đúng và định nghĩa còn lại là sai. Đây là một tiến bộ của ông so với A.Smith. Với
khẳng định này thì K.Marx gần với D.Ricardo nhất.
học BecLin. Năm 1841, ông nhận học vị Tiến sĩ, năm 1842 oonh bắt đầu nghiên cứu
khoa học và hoạt động cách mạng. Cuốn sách nổi tiếng ông viết và được cả thế giới
biết đến là “Bộ Tư bản”.
2.2. Lý luận giá trị lao động của Các Mác.
2.2.1. C. Mác đã phân tích đầy đủ hai thuộc tính của hàng hóa.
Giá trị sử dụng:
Mỗi hàng hóa đều có một hoặc một số công dụng nhất định có thể thỏa mãn nhu
cầu nào đó của con người. Chính những công dụng này làm cho hàng hóa có giá trị sử
dụng. Như vậy, giá trị sử dụng chính là công cụ của hàng hóa đó để thỏa mãn nhu cầu
của con người. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là giá trị sử dụng mang tính chủ
SVTH: Trần Văn Chương – MSSV: 6106603
Trang 11
Chuyên đề Mác – Lênin 2
GVHD: ThS Ngô Đức Hồng
quan phụ thuộc vào những thuộc tính tự nhiên cấu tạo nên hàng hóa. Đồng thời, do giá
trị sử dụng phụ thuộc vào thuộc tính tự nhiên nên nó là phạm trù vĩnh viễn.
Mỗi hàng hóa có công dụng khác nhau. Do đó, xã hội sản xuất được càng nhiều
loại hàng hóa thì càng có nhiều giá trị sử dụng.
Do hàng hóa là một phạm trù mang tính xã hội nên giá trị sử dụng của hàng hóa
cũng mang tính xã hội vì nó nhằm phục vụ cho nhu cầu của xã hội chứ không phải là
nhu cầu của người sản xuất.
Giá trị:
Khi tiến hành trao đổi những giá trị sử dụng với nhau thì hàng hóa có giá trị trao
đổi. Giá trị trao đổi trước hết nó biểu hiện thành những tỷ lệ trao đổi giữa những giá trị
C.Mác đã phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa là lao động
cụ thể và lao động trừu tượng. Nhờ phát hiện này mà C.Mac đã:
- Chỉ rõ lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng còn lao động trừu tượng tạo ra giá
trị hàng hóa.
- Phát hiện ra mâu thuẫn giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa và mâu thuẫn cơ bản
của nền sản xuất hàng hóa.
- Khẳng định khi phân tích các quy luật chi phối nền sản xuất hàng hóa tư bản
chủ nghĩa phải bắt đầu từ việc phân tích hàng hóa và coi hàng hóa là tế bào cấu tạo nên
phương thức sản xuất này. K.Marx cho rằng: “Trong những xã hội do phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối thì của cải biểu hiện ra là một đống hàng hóa
khổng lồ còn từng hàng hóa một thì biểu thị ra hình thái nguyên tố của cải ấy”.
- Tạo tiền đề phát hiện ra hàng hóa sức lao động, đưa sức lao động trở lại thế giới
sản xuất hàng hóa với hai thuộc tính đặc biệt, trên cơ sở đó phát hiện ra tư bản bất biến
và tư bản khả biến làm cơ sở để xây dựng thành công học thuyết giá trị thặng dư –hòn
đá tảng của chủ nghĩa Marx sau này.
- Nhờ phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, K.Marx đãvượt
qua D.Ricardo trong việc phân tích một cách khoa học giá trị của hàng hóa. Theo đó là
lượng thời gian lao động xã hôi cần thiết kết tinh, nó được đo bằng cường độ lao động
trung bình, trình độ thành thạo trung bình trong điều kiện bình thường của xã hội chứ
không phải trong điều kiện lao động xấu như D.Ricardo.
- K.Marx đã phân biệt được rõ giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị
hàng hóa và ông đã trình bày một cách khoa học bốn hình thái biểu hiện của giá trị
trao đổi trong lịch sử sản xuất và trao đổi hàng hóa là hình thái giản đơn ngẫu nhiên,
hình thái mở rộng, hình thái chung và cuối cùng cố định ở hình thái tiền tệ, với năm
chức năng cơ bản của nó.
- Dựa vào tính chất của giá trị hàng hóa là lao động kết tinh, lao động trừu
tượng, lao động xã hội kết tinh vào lượng giá tri hàng hóa là lượng thời gian lao động
cần thiết kết tinh, K.Marx đã trình bày một cách khoa học quy luật giá trị, quy luật cơ
bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa từ đó hoàn chỉnh lí luận giá trị-lao động.
2.2.4. Giá cả thị trường và giá cả sản xuất.
Giá cả thị trường chính là giá trị xã hội của hàng hóa, là giá trị bình quan củ
hàng hóa được sản xuất ra trong một khu vực nhất định. Trong nền sản xuất hàng hóa,
sựu cạnh tranh giữa những người sản xuất trong cùng một ngành không ngừng diễn ra.
Chính sự cạnh tranh này dẫn đến sự hình thành thị trường của hàng hóa.
Khi nền sản xuất hàng hóa phát triển đến một giai đoạn nhất định, sự cạnh tranh
không những chỉ diễn ra trong nội bộ ngành mà còn diễn ra giữa các ngành. Tình hình
đó làm cho giá trị hàng hóa chuyển hóa thành giá cả sản xuất.
Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân thì giá trị hàng hóa chuyển hóa thành
giá cả sản xuất.
Giá cả sản xuất = k + p’
Khi hình thành giá cả sản xuất thì giá cả thị trường của hàng hóa được bán dựa
trên cơ sở là giá cả sản xuất.
SVTH: Trần Văn Chương – MSSV: 6106603
Trang 14
Chuyên đề Mác – Lênin 2
GVHD: ThS Ngô Đức Hồng
2.2.5. Những kế thừa, phát triển và phê phán về lý luận giá trị của cá Mác đối
với William Petty, Adam Smith và David Ricardo.
2.2.5.1.Những kế thừa và phát triển của Karl Marx:
- Phân biệt hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị, khẳng định
hai thuộc tính này không chỉ đơn thuần có quan hệ với nhau mà đó là một quan hệ biện
chứng vừa thống nhất vừa mâu thuẫn nhau.
- Đứng vững trên quan điểm của các nhà cổ điển về nguoond gốc của giá trị hàng
hóa là lao động và trên cơ sở phát hiện tích chất hai mặt của lao động sản xuất hàng
trường, trong đó có học thuyết giá trịlao động với những ý nghĩa to lớn của nó.
Bên cạnh những thành tựu mà những nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh đã
đóng góp thì cũng có rất nhiều những hạn chế to lớn cần phải xóa bỏ. Kế thừa những
tư tưởng từ William Petty cho đến David Ricardo, C. Mác đã lần lượt giải đáp được
những vấn đề còn vướng mắc trong thời kỳ trước đó. Đây là tiền đề phát triển mạnh
mẽ cho kinh tế chính trị sau này.
Qua đó, Karl Marx đã hệ thống, kế thừa, chọn lọc các nhân tố khoa học trong lí
luận giá trị của các bậc tiền bối mà trực tiếp là từ D.Ricardo để hình thành học thuyết
giá trị của mình.
Công trình nghiên cứu của những nhà kinh tế chính trị học nói trên đã để lại cho
đời sau những giá trị to lớn, tuy còn có những hạn chế riêng nhưng đó là các học
SVTH: Trần Văn Chương – MSSV: 6106603
Trang 16
Chuyên đề Mác – Lênin 2
GVHD: ThS Ngô Đức Hồng
thuyết kinh tế mà tất cả những ai muốn trở thành một nhà kinh tế cần phải học tập và
nghiên cứu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2010) “Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – LêNin” Nxb Chính trị quốc gia.
2. GS. PTS Chu Văn Cấp (1997) “Lịch sử các học thuyết kinh tế” (Tập bài
giảng) Nxb Chính trị quốc gia.
3. Ths. Ngô Đức Hồng, Ths Phan Văn Phúc (2009) “Giáo trình chuyên đề kinh
1.2.2.2. Lý thuyết giá trị lao động của Adam Smith.............................................5
1.2.3. Lý luận giá trị lao động của David Ricardo..............................................8
SVTH: Trần Văn Chương – MSSV: 6106603
Trang 18
Chuyên đề Mác – Lênin 2
GVHD: ThS Ngô Đức Hồng
1.2.3.1. Khái lược về tiểu sử và các tác phẩm của David Ricardo......................8
1.2.3.2. Lý thuyết giá trị lao động của David Ricardo.........................................9
1.2.4. Đánh giá chung........................................................................................10
1.2.5. Những tiến bộ trong lý luận giá trị lao động của David Ricardo so với
Adam Smith........................................................................................................11
Chương 2:
LÝ LUẬN GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG CỦA CÁC MÁC (KARL MARX)..........12
2.1. Khái quát chung về tiểu sử và tác phẩm của Các Mác............................12
2.2. Lý luận giá trị lao động của Các Mác........................................................12
2.2.1. C. Mác đã phân tích đầy đủ hai thuộc tính của hàng hóa........................12
2.2.2. Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa..................................13
2.2.3. Lượng giá trị hàng hóa.............................................................................14
2.2.4. Giá cả thị trường và giá cả sản xuất........................................................15
2.2.5. . Những kế thừa, phát triển và phê phán về lý luận giá trị của cá Mác đối
với William Petty, Adam Smith và David Ricardo.......................................................15
2.2.5.1.Những kế thừa và phát triển của Karl Marx...........................................15
2.2.5.2. Những phê phán của Karl Marx............................................................16
KẾT LUẬN. ..................................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................18