Dánh giá cây TRỒNG, vật NUÔI bản địa có lợi THẾ HÀNG hóa đối với ĐỒNG bào dân tộc THIỂU số TỈNH ĐĂKLĂK - Pdf 35

NỘI DUNG 1. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI
BẢN ĐỊA CÓ LỢI THẾ HÀNG HÓA ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
THIỂU SỐ TỈNH ĐĂKLĂK
1. Khái quát thực trạng kinh tế- xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số
tỉnh Đắk Lắk
1.1. Thực trạng nhân khẩu và phân bố dân cư
1.1.1. Số lượng dân tộc trên địa bàn tỉnh.
Nằm ở vị trí trung tâm cao nguyên Nam Trung Bộ (còn gọi là Tây
Nguyên) Đăk Lăk có tổng diện tích tự nhiên là 1.953.546 ha, là tỉnh có quy mô
diện tích lớn nhất nước. Địa giới hành chính của tỉnh Đăk Lăk được xác định
bởi: Phía Bắc giáp tỉnh Gia lai, phía Tây giáp Cam pu chia với biên giới dài
240km, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Lâm
Đồng và Bình Phước. Toàn tỉnh được chia thành 18 đơn vị hành chính trực
thuộc bao gồm 17 huyện và một thành phố cấp tỉnh là Buôn Ma Thuột.
Hiện nay, dân số của tỉnh có trên 1.847 ngàn người người, mật độ dân số
đạt trên 137 người/km² với 47 dân tộc. Người Kinh chiếm trên 70%; các dân
tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Thái, Tày, Nùng... chiếm gần 30% dân số toàn
tỉnh trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc tại chỗ (cư dân bản địa) và đồng bào
dân tộc từ các tỉnh phía Bắc di cư tự do, ngoài ra còn một số dân tộc khác đến
làm ăn sinh sống, đi lẻ với số lượng không lớn. Trong số đồng bào dân tộc tại
chỗ có 3 dân tộc chiếm số lượng lớn là Ê đê, Giarai, M’nông, trong đó dân tộc
Ê đê chiếm 49%; dân tộc Nùng chiếm 9,2%; dân tộc Tày chiếm 9,0%, còn lại là
các dân tộc Cơ Ho, X’Tiêng, Phù Lá, Khơ Mú, Mạ, Giấy, La Hủ, Lự, Chút...
Dân số nông thôn ở Đăk Lăk chiếm trên 80% dân số toàn tỉnh. Đồng bào dân
tộc cư trú rải rác ở khắp các địa phương, trong đó cư trú chủ yếu ở nông thôn, ở
vùng sâu, vùng xa.
1.1.2. Dân tộc thiểu số, phân bố và đặc điểm tập quán của đồng bào dân
tộc
Thành phần dân tộc ở Đăk Lăk rất đa dạng và phức tạp, mỗi dân tộc ở
Đăk Lăk, kể cả dân tộc đông người, bao gồm từ nhiều nhóm địa phương hợp


khả năng tổ chức cho đồng bào sản xuất theo công nghệ tiên tiến, hiện đại còn
rất hạn chế. Điều đó cản trở việc khai thác những tiềm năng về cây trông vật
nuôi có lợi thế hàng hóa ở vùng đồng bào dân tộc tỉnh Đăk Lăk.


1.2. Thực trạng phát triển kinh tế
1.2.1. Tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân
Kinh tế của tỉnh trong thời gian qua duy trì được tốc độ tăng trưởng khá
cao và tương đối ổn định; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, song mức độ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành và trong nội bộ ngành chưa cao.
Tăng trưởng tổng giá trị sản phẩm bình quân hàng năm giai đoạn 2005 - 2012
đạt 12,1%. Riêng trong năm 2014, tổng sản phẩm xã hội đạt khoảng 37.700 tỷ
đồng, tăng 9,2% so với thực hiện năm 2013, đạt 99,4% KH. Trong đó: Giá trị
ngành nông, lâm, thủy sản 16.420 tỷ đồng; Giá trị ngành công nghiệp - xây
dựng 6.440 tỷ đồng; Giá trị ngành dịch vụ 14.840 tỷ đồng.
Cơ cấu kinh tế năm 2014 (theo giá hiện hành): Nông, lâm, thủy
sản 45%, công nghiệp - xây dựng 16,7% , dịch vụ 38,3%. Thu nhập bình quân
đầu người theo giá hiện hành 31,4 triệu đồng/năm; Huy động vốn đầu tư toàn
xã hội khoảng 13.500 tỷ đồng, bằng khoảng 23,3% tổng sản phẩm xã hội. Tổng
mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn 49.425 tỷ đồng, tăng 29,8% so với thực
hiện năm 2013. Về phát triển hạ tầng, thuỷ lợi bảo đảm tưới chủ động cho 76%
diện tích cây trồng có nhu cầu tưới, cải tạo, nâng cấp nhựa hoặc bê tông hóa
95% các tuyến đường tỉnh, 73% hệ thống đường huyện, 38% đường xã và liên
xã, có 95% số thôn, buôn có điện, trong đó có 96,8% số hộ được dùng điện.
1.2.2. Thực trạng nghèo đói và xóa đói giảm nghèo
a. Thực trạng nghèo đói ở tỉnh Đăk Lăk
Ở Đăk Lăk đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ khá cao (khoảng 30%) dân số,
các hộ nghèo nằm rải rác ở các huyện trên toàn tỉnh. Theo thống kê, tỷ lệ hộ nghèo
trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm nhanh trong mấy năm gần đây, giảm từ
48,26% năm (năm 2005) xuống còn 14,98%/năm (năm 2010), và khoảng 12,75%

Hộ
đồng
bào
DTTS
(hộ)

Hộ
ĐBDTTS
nghèo
(hộ)

Tỷ lệ hộ
nghèo
ĐBDTTS
(%)

Tổng số
hộ toàn
tỉnh
(hộ)

Hộ đồng
bào
DTTS
(hộ)

Hộ
ĐBDTTS
nghèo
(hộ)

13.941

6.424

1.954

30,4

21.688

6.373

1.327

20,8

1

TP. B.Mê
Thuột

2

TX Buôn Hồ

3

H.Buôn Đôn

4


3.311

37,9

26.795

10.423

813

7,8

7

H.Eakar

30.128

8.137

3.945

48,5

34.087

9.206

1.607

8.000

4.699

58,7

18.202

3.959

459

11,6

10

H.Krông
Bông

16.400

5.769

2.600

45,1

18.843

6.628


23.687

7.243

2.771

38,3

26.467

8.093

967

11,9

13

H.KrôngPắk

41.434

12.521

5.156

41,2

44.546


12.692

5.195

2.285

44,0

14.949

6.119

824

13,5

Tổng số

342.437

104.631

44.230

42,3

389.322

121.209

lớn về tỷ lệ hộ nghèo thì thực tế cho thấy trong số 47 dân tộc cũng có sự phân
cách khác biệt rõ rệt. Các dân tộc di cư từ ngoài Bắc vào có cuộc sống khá hơn,
tỷ lệ hộ nghèo của họ thấp hơn với các dân tộc tại chỗ như Ê đê, M’Nông.
Những dân tộc mới vào, một số hộ nghèo tự thoát ra cảnh nghèo đói, họ tìm
đến các nhóm dân tộc có trình độ sản xuất cao hơn, giỏi làm kinh tế để học hỏi
kinh nghiệm. Họ mạnh dạn vay vốn để phát triển sản xuất. Các dân tộc Ê đê,
M’Nông rất ít tham gia vào các hoạt động kinh tế thị trường, tâm lý của họ
quen sống dựa vào điều kiện tự nhiên, an phận, dễ thỏa mãn các nhu cầu. Tới
thời điểm này, tổng số hộ nghèo chung của tỉnh Đăk Lăk là 50.334 hộ, chiếm
12,26% dân số; hộ cận nghèo là 32.168 hộ, chiếm 7,83% số hộ. Trong đó hộ
nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số là 30.716 hộ, chiếm 61% số hộ
nghèo toàn tỉnh, hộ cận nghèo là 13.742 hộ, chiếm 42,71% số hộ nghèo chung.
Nhìn chung, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 – 2015 vẫn
còn khá cao so với cả nước, nguyên nhân của tình trạng này phải kể đến một số
nguyên nhân cơ bản như: thiếu nguồn lực cho sản xuất (đất đai, vốn, lao động,
kỹ thuật), thiếu các phương tiện sản xuất (máy gặt đập, công nông, máy bơm
nước, máy xay xát), lao động lành nghề ít, năng suất lao động thấp, thiếu nguồn
vốn vay, cơ sở hạ tầng kém phát triển…
b. Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Đăk Lăk


Những năm qua, công tác giảm nghèo đã đạt được nhiều kết quả đáng kể,
công cuộc giảm nghèo đã được nhân dân trong tỉnh ủng hộ và tích cực tham gia
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tỉ lệ hộ nghèo giảm khá nhanh, số hộ
tái nghèo hoặc cận nghèo không tăng. Riêng đối với các hộ đồng bào dân tộc
thiểu số, Đăk Lăk quan tâm đẩy nhanh việc thực hiện các chính sách, như:
Chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản
xuất; Chính sách cho vay vốn sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc
biệt khó khăn theo Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg; Chính sách hỗ trợ trực tiếp
cho người dân thuộc hộ nghèo vùng khó khăn theo Quyết định số

tổng số tiền 5,9 tỷ đồng; hỗ trợ vệ sinh môi trường, trợ giúp pháp lý, đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ cộng đồng với số tiền trên 6,9 tỷ đồng. Đáng chú ý, huyện đã
hoàn thành việc cấp đất ở cho 185 hộ, cấp đất sản xuất cho 664 hộ và cấp nước
sinh hoạt cho 1.356 hộ. Với rất nhiều nỗ lực, lệ hộ nghèo trong đồng bào dân
tộc thiểu số tại huyện M’Đrăk từ 49,24% đầu năm 2011, xuống còn 27,84 %
cuối năm 2014 (bình quân giảm 5,35%/năm).
Tại huyện Ea H’leo, công tác xóa đói giảm nghèo được triển khai đồng
bộ, bài bản, với sự tham gia của cả hệ thống chính trị. Cho tới hết năm 2014,
toàn huyện còn 2.424 hộ nghèo. Như vậy trong vòng 10 năm huyện đã giảm
được gần 9.000 hộ nghèo. Riêng trong 4 năm (2010-2014), giảm 3.601 hộ đưa
tỷ lệ hộ nghèo từ 22,48% đầu năm 2011 xuống còn 8,26% vào cuối năm 2014,
bình quân mỗi năm giảm 3,6% hộ nghèo (chỉ tiêu là 3%). Toàn huyện phấn đấu
cuối năm 2015 số hộ nghèo giảm dưới 7%. Tổng kết 10 năm thực hiện công tác
giảm nghèo (2006-2015), huyện M’Đrăk đã đề ra giải pháp nhằm đạt mục tiêu
đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 2% vào cuối năm 2020 (theo tiêu chuẩn
nghèo hiện nay) và dự kiến xuống dưới 7% (theo chuẩn nghèo mới).
Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện tại, công tác xóa đói giảm nghèo
của tỉnh vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, tỷ
lệ hộ nghèo vẫn còn rất cao so với bình quân chung của cả nước (tỉ lệ nghèo đói
của cả nước trong năm 2015 dưới 5%), tỷ lệ hộ thoát nghèo hàng năm thấp và
số hộ tái nghèo, cận nghèo còn ở mức cao. Đặc biệt, tỉ lệ chênh lệch giàu
nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là các xã có người
đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ hộ nghèo người dân
tộc thiểu số và vùng nông thôn giảm chậm. Để khắc phục tình trạng này, bên
cạnh việc triển khai đồng bộ các chính sách xóa đói giảm nghèo thì tỉnh cũng
cần tập trung hỗ trợ và hướng dẫn các đồng bào dân tộc phát triển các tiềm
năng và thế mạnh sẵn có nhất là trong việc sản xuất các cây trồng, vật nuôi bản
địa có lợi thế hàng hóa trên địa bản tỉnh.



Năm
2011

Năm
2012

Năm
2013

Sơ bộ
năm
2014

Năm
2010

Năm
2011

Năm
2012

Năm
2013

Sơ bộ
năm
2014

Cà phê


1134,8

12,9

16,1

16,1

17,6

17,1

Sắn

479,0

610,0

472,8

571,3

642,2

25,9

32,0

25,7


207,7

208,3

212,4

216,6

115,7

116,0

119,6

123,0

121,1

Lúa

450,7

474,3

490,6

514,1

575,3

gốc mỗi lần tưới từ 200 đến 300 lít nước, mỗi mùa cây cà phê được tưới ít nhất 5
lần trong khi ở Đăk Lăk thường xảy ra tình trạng hạn hán keo dài. Như vậy, việc
trồng cây cà phê đòi hỏi chi phi đầu tư cho sản xuất cao, do vậy các đồng bào dân
tộc, nhất là các hộ nghèo sẽ gặp khó khăn trong việc huy động vốn trong việc sản
xuất và kinh doanh giống cây này.
- Cây mía: Mía là nguồn nguyên liệu liệu chính của ngành công nghiệp chế
biến đường. Mía là cây đa dụng, ngoài sản phẩm chính là đường, cây mía còn là
nguyên liệu hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp của nhiều ngành công nghiệp, thực phẩm,
dược phẩm…Cây mía đã gắn bó và phát triển trên vùng Đăk Lăk từ những
năm 1990 và được xem là cây trồng thoát nghèo, giúp nhiều hộ nông dân vươn lên
làm giàu bởi hiệu quả kinh tế mà nó mang lại. Hàng năm, sản lượng mía ở Đăk
Lăk đạt trên 1.100 nghìn tấn mía với diện tích là 17,1 nghìn ha. Tuy nhiên việc
trồng mía gặp rất nhiều rủi ro như như hạn hán, sâu bệnh làm cho năng suất, sản
lượng mía ngày càng sụt giảm khiến người trồng gặp khó khăn. Đặc biệt
khoảng 4 năm trở lại đây, khâu tiêu thụ mía còn tồn tại nhiều bất cập, thiếu đầu ra
trong khi giá mía liên tục giảm khiến việc sản xuất kinh doanh mía của các hộ dân
tại Tây nguyên đang lâm vào tình trạng khó khăn. Do vậy, trong thời gian tới, tỉnh
Đăk Lăk cần tăng cường hơn nữa việc kiểm soát số diện tích mía trên địa bàn, hạn
chế việc người dân mở rộng khi chưa tìm được đầu ra cho sản phẩm; bên cạnh đó
cần có chính sách hỗ trợ trong khâu tiêu thụ sản phẩm mía trên địa bàn tỉnh.
- Cây sắn: Sắn là loại cây dễ trồng, không kén đất và chịu hạn tốt rất thích
hợp canh tác tại các vùng chưa có thủy lợi đặc biệt ở các vùng đồi dốc. Mặt khác
dù giá sắn lúc trầm lúc bổng nhưng vẫn hiệu quả hơn cây mía do đầu tư chi phí


thấp. Chính vì vậy, cũng như nhiều địa phương trong cả nước, những năm qua tại
tỉnh Đăk Lăk diện tích cây sắn không ngừng được mở rộng, từ chỗ chỉ hơn chục
ngàn ha mỗi năm, đến nay đã đạt 31,4 nghìn ha. Tính bình quân trong 5 năm qua
(2010 – 2014) diện tích sắn trung bình hàng năm đạt khoảng 27 nghìn ha, tổng sản
lượng trung bình mỗi năm 554,8 nghìn tấn, trong đó năm 2014 diện tích sắn của

khoảng 40- 50 tấn/ha vụ, với giá 2.000 đ/kg thì nông dân có thể thu 100 triệu
đồng/ha vụ, nếu làm 2- 3 vụ/năm, có thể thu 200- 300 triệu/ha/năm. Với khoai lang
tinh bột, năng suất 70- 80 tấn/ha/vụ, với giá 1.000 đ/kg thì nông dân có thể thu 7080 triệu đồng/ha/vụ, nếu làm 2- 3 vụ, có thể thu 150- 300 triệu đồng/ha/năm. Khoai
lang đầu tư ít, bán được giá, lợi nhuận đem lại cho nông dân chắc chắn cao hơn
hẳn những cây trồng ngắn ngày khác ở nước ta.
Khoai lang có thể trồng ở khắp cả nước ta, từ vùng đồng bằng đến trung du
miền núi, từ Bắc vào Nam, thích hợp mọi loại đất, mọi thời vụ, chỉ cần đất trồng
không úng nước. Trồng 100 ngày có thể thu hoạch, nhân giống rất đơn giản, bón
phân chuồng và phân khác chỉ tốn khoảng 5 triệu đồng/ha, tốn rất ít công chăm sóc
và thu hoạch, doanh thu đạt trên 100 triệu đồng/ha vụ. Bên cạnh đó, khoai lang còn
có thị trường tiêu thụ lớn, khoai lang thực phẩm cung cấp cho bữa ăn hàng ngày
của thị trường nội địa, có thể xuất khẩu sang các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu
Âu và Đông Nam Á. Việc trông khoai lang sẽ tạo ra cơ hội lớn về việc làm và nâng
cao thu nhập cho nông dân. Tại Đăk Lăk, trong 5 năm gần đây (từ 2010 – 2015),
trung bình mỗi năm sản xuất được khoảng 34 nghìn tấn, trên tổng diện tích 31
nghìn ha. Cũng giống như một số cây trồng, vật nuôi khác hiện tại việc trồng cây
khoai lang ở Đăk Lăk cũng đang gặp phải tỉnh trạng khó khăn trong việc tìm thị
trường đầu ra cũng như đối mặt với tình trạng giá bán thấp, thu nhập không bù đáp
đù chi phí, gây khó khăn lớn cho các hộ nông dân trong việc triển khai trồng giống
cây này.
- Cây ngô: Ngô là một trong những loại cây lương thực quan trọng của nước
ta và thế giới. Nhờ giá trị dinh dưỡng cao có nơi ngô đã thay thế gạo trong bữa ăn
hàng ngày của người dân. Bên cạnh vai trò cung cấp lương thực cho con người ngô
còn là nguyên liệu quan trọng của công nghiệp chế biến thức ăn gia súc và công
nghệ sinh học nhiều nước đang sử dụng ngô để chế biến ethanol - năng lượng sạch
của tương lai. Từ lâu cây ngô đã gắn bó với người dân đặc biệt là đồng bào miền
núi. Đây là một trong ba loại cây lương thực quan trọng (lúa, ngô, sắn) đã giúp
đồng bào vùng cao vượt qua khó khăn để đứng vững và tồn tại giữa một vùng thiên
nhiên khắc nghiệt. Cây ngô rất dễ trồng lại thích nghi nhanh với vùng núi cao chỉ
cần có đủ nước trời và ẩm độ phù hợp là có thể phát triển và cho năng suất cao.

Như vậy, bên cạnh những cây trồng là thế mạnh của khu vực Tây Nguyên
như cà phê, tiêu, điều, mía thì ở tỉnh Đăk Lăk hiện nay cũng nên nghiên cứu và
ứng dụng phát triển một số loại cây trồng bản địa có lợi thế hàng hóa của các vùng
đồng bào dân tộc. So với các cây đậu tương, khoai lang … thì cây ngô và cây lúa là
có diện tích, sản lượng và năng suất cao hơn hẳn. Đồng thời, cây lúa nương và cây
khoai lang có chi phí đầu tư thấp, phù hợp với điều kiện khí hậu ở khu vực Tây
Nguyên thêm vào đó lại có thị trường tiêu thụ lớn trong tương lai sẽ là những cây


trồng bản địa có lợi thế hàng hóa, góp phần giúp các đồng bào dân tộc tại tỉnh có
thể xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.
2.2.1. Điều tra, đánh giá và xác định những con bản địa có lợi thế hàng
hóa.
Theo Tổng cục thống kê, hiện tại trên địa bàn tỉnh Đăklăk có một số vật nuôi
bản địa phổ biến và sản lượng cao gồm:
Bảng 2: Bảng số lượng vật nuôi bản địa ở Đăk Lăk
giai đoạn 2010 – 2014
Đơn vị: nghìn con
Vật nuôi

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Sơ bộ năm
2014


390,0

400,2

406,9



333,0

344,1

347,6

351,1

355,1

Trâu

33,2

31,7

32,1

33,0

32,5

giải pháp chủ yếu để duy trì và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, do vậy tỉnh
đã tiến hành rà soát lại thực trạng chăn nuôi và đưa ra phương án điều chỉnh, bổ
sung cho quy hoạch chăn nuôi giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.
Theo đó, đến năm 2014 số lượng đàn bò trên tỉnh đạt 355,1 nghìn con, lợn đạt
406,9 nghìn con, trâu đạt 32,5 nghìn con, gia cầm đạt 1.929 nghìn con trong đó đàn
gà chiếm 85%, vịt 11,3% còn lại là các loại gia cầm khác.
Tỉnh cũng xác định vùng nuôi trâu, bò tập trung chủ yếu trên địa bàn các
huyện có tiềm năng về đồng cỏ tự nhiên, điều kiện trồng cỏ, có kinh nghiệm chăm
sóc và phòng chống dịch bệnh tốt như: Ea Kar, M’Drak, Krông Pak, Krông Bông,
Ea Súp, Buôn Đôn... Phát triển đàn lợn hướng nạc theo mô hình chăn nuôi trang
trại với quy mô phù hợp tại vùng ven các đô thị: TP.Buôn Ma Thuột, Krông Pak,
Ea Kar, Cư M’gar, Ea H’leo… Phát triển đàn gia cầm theo mô hình chăn nuôi tập
trung kết hợp với quy mô gia đình để quản lý tốt dịch bệnh, bảo đảm vệ sinh môi
trường và tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, để ngành chăn nuôi gia súc gia
cầm trở thành thế mạnh của vùng, góp phần tích cực trong việc xóa đói, giảm
nghèo cho các đồng bào dân tộc thì đòi hỏi cần quan tâm đầu tư mạnh hơn cho
ngành chăn nuôi, đặc biệt là có chính sách tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi,
trong đó, các địa phương cần quan tâm đẩy mạnh công tác quy hoạch chăn nuôi
trên địa bàn cũng như xây dựng các mô hình chăn nuôi gà, lợn có hiệu quả kinh tế
cao, phù hợp với điều kiện kinh tế của các đồng bào dân tộc.
2.3. Xác định số cây trồng, vật nuôi bản địa đã xây dựng thành mô hình
2.3.1. Cây trồng bản địa đã xây dựng thành mô hình
- Xây dựng mô hình trồng lúa cạn ở huyện Lăk


Nhằm khôi phục một số giống lúa cạn có chất lượng gạo ngon mà những
năm gần đây đang bị mai một dần do nông dân chuyển sang trồng các giống khác
có năng suất cao hơn, vụ Hè thu năm 2015 trạm Khuyến nông huyện Lăk phối hợp
với Sở Khoa học-Công nghệ tỉnh Đăk Lăk triển khai mô hình trồng lúa cạn bản địa
có chất lượng cao thuộc đề tài "Xây dựng một số mô hình cây trồng, vật nuôi bản

chuyển giao KHKT tốt có sự đầu tư thích hợp thì các sản phẩm mang tính đặc sản
của từng địa phương có thể sản xuất thành hàng hoá phục vụ thị trường từ đó nâng
cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ và bảo tồn các nguồn gen quý hiếm


đang dần bị mất.
2.3.2. Vật nuôi bản địa đã xây dựng thành mô hình
- Mô hình nuôi gà bản địa tại huyện Buôn Đôn:
Mô hình được triển khai tại Buôn Jang Lành xã Krông Na huyện Buôn Đôn,
Tỉnh Đắk Lắk với quy mô 50 con gà và 1 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trực
tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ trạm khuyến nông huyện
bằng giống gà bản địa.
Qua kết quả của mô hình cho thấy: Thời gian 4 tháng, tổng chi phí chăn nuôi
là 4.487.000 đồng, tổng thu là 6.540.000 đồng, lãi là 2.053.000 đồng. Theo đánh
giá sơ bộ, khi áp dụng các phương pháp chăn nuôi và nguồn thức ăn theo đúng
hướng dẫn, giống gà bản địa có những đặc tính tốt sẽ được bảo tồn cũng như có lợi
thế về hàng hoá trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với kết quả này chúng ta
khẳng định, nếu công tác chuyển giao KHKT tốt có sự đầu tư thích hợp thì các sản
phẩm mang tính đặc sản của từng địa phương có thể sản xuất thành hàng hoá phục
vụ thị trường từ đó nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ và bảo tồn
các nguồn gen quý hiếm đang dần bị mất.
- Mô hình nuôi lợn sóc tại huyện Ea Soup
Mô hình được triển khai tại thị trấn Ea Soup - huyệ Ea Soup - Đăk Lăk với
quy mô 40 con và 4 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trực tiếp thực hiện dưới
sự hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ trạm khuyến nông huyện bằng giống gà bản địa.
Qua kết quả của mô hình cho thấy: Theo kết quả điều tra cho thấy khả năng
kháng bệnh của lợn. Xét về hiệu quả kinh tế của mô hình: Bình quân 1con tăng
trọng 4kg/ con /tháng, ngày đầu triển khai 3- 4kg/ con đến thu hoạch trung bình
25,3 kg/ con. Tổng thu mô hình lợn sóc: 25,3kg/con x 40 con = 1000kg X
65.000đ/kg= 65.780.000 đồng, chi phí thức ăn: 36.000.000 đồng, Lợi nhuận đạt

3.1. Số lượng (diện tích đối với cây trồng, số lượng đầu con đối với vật
nuôi), phân bố của chúng
3.1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng của các loại cây trồng bản địa có khả
năng phát triển thành hàng hóa
Đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Đăk Lăk, cây trồng bản địa có năng suất
cao, chi phí đầu tư thấp có khả năng phát triển thành hàng hóa phải kể đến là hai
loại cây là cây ngô tím và cây lúa cạn.
- Diện tích, năng suất, sản lượng của cây ngô


Theo nguồn số liệu thống kê, diện tích, năng suất, sản lượng của hai loại cây
này ở tỉnh như sau:
Bảng 3: Diện tích, sản lượng, năng suất cây ngô tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2010 – 2014
Năm
TT

Chỉ tiêu

1
2
3

Diện tích (ĐVT: nghìn ha)

Sản lượng (nghìn tấn)
Năng suất (tấn/ha)

Tính trung
bình giai


54,9

- 2014
119,14
212,74
53,84

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2014
Về diện tích trồng ngô, diện tích gieo trồng ngô của các tỉnh Tây Nguyên
hiện đạt khoảng 248,2 nghìn ha, trong đó Đắk Lắk được đánh giá là địa phương có
diện tích bắp lai lớn nhất vùng. Diện tích trồng ngô có tăng trong 2 năm 2012 và
năm 2012, từ 119,6 nghìn ha lên đến 123,0 nghìn ha, trung bình mỗi năm tăng
được khoảng 0,3% diện tích. Tuy nhiên đến năm 2013 diện tích trồng ngô có giảm
nhẹ và 2014 thì giảm mạnh chỉ còn 116,0 nghìn ha. Tính trung toàn giai đoạn 2010
– 2014 diện tích trồng ngô giảm 0,38% diện tích. Nguyên nhân của việc sụt giảm
như vậy là do tình trạng thời tiết hạn hán, lượng mưa ít nên sản lượng cây trồng
giảm, năng suất thấp hơn. Đồng thời giá ngô cũng liên tục giảm mạnh so với cùng
kỳ năm trước. Nếu như năm 2014 giá bắp trên thị trường là 4.200-4.500đồng/kg thì
năm 2015 chỉ còn 3.700 -3.900/kg.
Như vậy diện tích ngô của Đăk Lăk sau thời gian ổn định và mở rộng 2 năm
trở lại đây đang có xu hướng giảm. Nguyên nhân chủ yếu do giá ngô trong những
năm qua giảm mạnh, cung đã vượt cầu đối với thị trường trong nước thể hiện trong
việc tăng xuất siêu ngô của Việt Nam trong 2 năm trở lại đây.
Về năng suất, năng suất ngô đã có bước tăng trưởng khá trong 5 năm trở lại
đây, năm 2010 đạt 53,4 tấn/ha, năm 2014 tăng lên 54,9 ha, trung bình hàng năm
giai đoạn 2010 – 2014 đạt khoảng 53,84 tấn/ha. Mức năng suất này tuy không cao
nhưng so với các huyện khác thuộc khu vực Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Lâm
Đồng) thì lại cao hơn, điều này thể hiện sự quan tâm đầu tư của địa phương về tăng
cường thâm canh, áp dụng cơ giới hóa và nghiên cứu sử dụng những giống ngô có




Ngành chăn nuôi của tỉnh trước đây chỉ là một nghề sản xuất truyền thống
quảng canh, nhưng ngày nay ngành chăn nuôi đã nhanh chóng chuyển đổi thành
sản xuất hàng hoá. Sản phẩm không những đủ đáp ứng được nhu cầu trong nước
mà còn từng bước xuất khẩu sang thị trường khu vực và quốc tế, trong số đó có
chăn nuôi gà và chăn nuôi lợn sóc đang ngày càng chiếm ưu thế, góp phần xóa đói
giảm nghèo ở các huyện của Tây Nguyên.
a. Số lượng, vùng phân bố và sản lượng sản phẩm của lợn sóc
Lợn Sóc Tây nguyên là giống lợn bản địa, là một trong những vật nuôi quan
trọng hàng đầu trong mỗi gia đình đồng bào Ê Đê, Gia Rai, Mơ Nông. Tuy nhiên,
trong vài thập kỷ đến nay, lợn Sóc có xu thế giảm dần về cả số lượng và chất lượng
do sự thay thế dần của các giống lợn cao sản, do tạp giao và giao phối cận huyết...
Về số lượng, theo các nghiên cứu gần đây của TS.Nguyễn Tuấn Hùng,
Trường Đại học Tây Nguyên thì số lượng lợn Sóc riêng ở Đắk Lắk còn ít nhất là
16.000 con. Nuôi lợn Sóc vẫn còn có ý nghĩa kinh tế quan trọng trong khu vực
đồng bào các dân tộc ít người vùng sâu, vùng xa.
Bảng 4. Số lượng lợn Sóc phân bố theo các huyện của tỉnh Đăk lăk
Huyện
Buôn Đôn
Ea Kar
Cư M’gar
Cư Kuin
M’ Đrăk
Tổng cộng

Số hộ điều tra

Số lợn Sóc (con)


chăn nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Đây chính là khó khăn để phát triển chăn
nuôi lợn Sóc theo hướng hàng hóa tập trung.


Xu thế thị trường lợn sóc có sự thay đổi theo hướng có lợi cho phát triển, lợn
sóc đã và đang xuất hiện trong ẩm thực đặc biệt của khách hàng cao cấp dưới dạng
lợn Mini ở các thành phố, nhà hàng với giá khá cao. Tuy nhiên, lợn sóc thật sự có
nguy cơ bị đào thải ra khỏi hệ thống sản xuất của cộng đồng, số lượng và chất
lượng phẩm giống đang giảm nhanh trong các hệ thống sản xuất do:
+ Lợn sóc sinh trưởng thấp, lợi nhuận từ chăn nuôi thấp;
+ Mất vệ sinh công cộng và phá hoại hoa màu do nuôi thả rông;
+ Khó khống chế dịch bệnh do tỷ lệ tiêm phòng thấp, nguy cơ lây truyền
bệnh cao…
Về vùng phân bố, Lợn sóc chủ yếu được nuôi trong khu vực đồng bào các
dân tộc ít người, chủ yếu trong nông hộ là đồng bào các dân tộc Ê Đê, Gia Rai, M
Nông... sống trong tỉnh. Trong những năm gần đây, một lượng đáng kể lợn sóc
được nuôi trong các trang trại có quy mô khá lớn từ 20-500 con để sản xuất lợn thịt
đặc sản “lợn Mini” cung cấp cho các nhà hàng thành phố. Kết quả bảng 4 cho thấy
số lượng lợn Sóc được nuôi trong các huyện khác nhau và huyện nuôi nhiều nhất là
huyện CưKuin với số lượng 128 con trên 30 hộ điều tra sau đó đến M' Đrăk 115
con, Cư M’gar 110 con và thấp nhất là huyện Buôn Đôn và huyện Ea Kar (74 83con) và số lợn nuôi trên hộ biến động từ 2,5 - 4,3 con /hộ, trong đó huyện có hộ
nuôi cao nhất là huyện Cư Kuin 4,3 con và thấp nhất là huyện Buôn Đôn là 2,5
con.
Về sản lượng, Lợn Sóc có tầm vốc nhỏ, lợn trưởng thành chỉ có khối lượng
40 kg-50 kg, có hình dáng rất gần với lợn rừng, mõm dài, nhọn. Có 3 loại màu sắc
chính là mầu đen tuyền, đen lang trắng và màu sọc dưa (sọc đen và hung đỏ dọc
theo cơ thể). Màu sọc dưa thay đổi theo lứa tuổi, màu hung đỏ bị phai dần và trở
thành màu đen mốc. Da dày, mốc, lông dài, lông bờm dài cứng và dựng đứng, chân
nhỏ, đi bằng móng, rất nhanh nhẹn. Lợn sóc sinh trưởng chậm, trung bình tăng
trọng từ 90-120g/ngày. Khi nuôi Lợn Sóc ở 2 phương thức khác nhau (nuôi nhốt

cà phê, lúa, ngô…khiến vùng nguyên liệu không ổn định, chất lượng sản phẩm
chưa đạt yêu cầu xuất khẩu…, khiến hiệu quả kinh tế của việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp còn thấp.
Về vùng phân bố, nhìn chung, gà bản địa dễ nuôi, chi phí đầu tư thấp nên
hầu hết các hộ trong các vùng dân tộc thiểu số đều có chăn nuôi gà. Tuy nhiên việc
chăn nuôi chủ yếu mang tính tự phát, chưa được đầu tư về khoa học kĩ thuật và
chuồng trại nên hiện nay năng suất vẫn chưa cao. Thêm vào đó, trong mấy năm
gần đây, giá gà thịt và giá trứng liên tục sụt giảm, trong khi giá thức ăn lại tăng
khiến cho việc nuôi gà bản địa của các đồng bào dân tộc thiểu số cũng đang gặp


nhiều khó khăn. Trong đó gà (nhất là gà công nghiệp) được nuôi chủ yếu ở tại
thành phố Buôn Ma Thuột (chiếm trên 60% tổng đàn) và Huyện Ea Kar (trên
23%). Các huyện còn lại số lượng nuôi không nhiều chủ yếu là gà bản địa và nuôi
theo hình thức không tập trung.
Về sản lượng, việc sinh trưởng của gà nuôi phụ thuộc vào giống gà, nhiệt độ,
độ ẩm, thức ăn, mật độ nuôi. Trong nhiều năm qua, chăn nuôi gia cầm tại tỉnh Đắk
Lắk liên tục phát triển, tuy nhiên vẫn là chăn nuôi nông hộ, quy mô còn nhỏ lẻ do
vậy sản lượng chưa cao. Theo thống kê, năm 2015, tổng đàn gia cầm 8,26 triệu
con, trong đó có 6,6 triệu con gà và 1,66 triệu gia cầm, thủy cầm khác. Sản lượng
11.400 tấn thịt gia cầm; 65,5 triệu quả trứng. Để có thể khuyến khích đồng bào dân
tộc thiểu số phát triển việc nuôi gà bản địa, trong thời gian tới đòi hỏi tỉnh cần có
chính sách ưu đãi, hỗ trợ về vốn, kĩ thuật nuôi trồng và nhất là kênh phân phối và
tiêu thụ sản phẩm, tránh tình trạng giá thịt gà và trứng gà giảm như vài năm gần
đây.
3.2. Hiệu quả kinh tế đối của một số cây, con bản địa có lợi thế hàng hóa
3.2.1. Cây trồng bản địa có lợi thế hàng hóa
- Cây ngô:
Năm 2014, sản lượng ngô của tỉnh đạt 216,6 nghìn tấn với giá bán trung
bình vào khoảng 4.200 đồng/kg, với diện tích 121,1 nghìn ha là con số đáng kể

Trong đó, cây ngô có có giá trị cao, trung bình cứ 1 ha thì thu về khoảng 2.000
nghìn đồng lợi nhuận đã góp phần đáng kể trong việc cải thiện đời sống dân cư.
Tuy nhiên, một vài năm trở lại đây, do thời tiết bất ổn, hạn hán kéo dài nên
sản lượng ngô giảm đáng kể khoảng 25% so với niên vụ trước. Đồng thời giá ngô
lại giảm mạnh (giá bán giảm xuống 3.800 đồng/ kg) dẫn đến doanh thu và lợi
nhuận trồng ngô giảm mạnh, thậm trí là hòa vốn nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến
đời sống của bà con vùng đồng bào dân tộc…Trong thời gian tời, cần nghiên cứu
mô hình trồng cây ngô có lợi thế, giảm chi phí, tăng năng suất thì mới nâng cao
được thu nhập cho người trồng ngô trong tỉnh.
- Cây lúa:
Năm 2014, sản lượng lúa của tỉnh đạt 575,3 nghìn tấn với giá bán trung bình
vào khoảng 6.400 đồng/kg, với diện tích 95 nghìn ha là con số đáng kể trong việc
nâng cao thu nhập của người nông dân ở Đăk Lăk.
Bảng 6: Chi phí, giá thành, sạn lượng, doanh thu, lợi của cây lúa bản
địa tại Đăk Lăk trên 1 ha đất năm 2014
Hạng mục
Chi phí sản xuất
Giá thành sản phẩm
Sản lượng
Doanh thu
Lợi nhuận

Đơn vị tính
nghìn đồng/ha
nghìn đồng/kg
tạ/ha
nghìn đồng/ha
nghìn đồng/ha

Cây lúa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status