BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
DỰ THẢO 7
ĐỀ ÁN
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIAI ĐOẠN 2011- 2020
Hà Nội, tháng 9 năm 2011
MỤC LỤC
Nội dung
Phần mở đầu
1. Sự cần thiết phải xây dựng Quy hoạch
2. Mục đích yêu câu cầu và phạm vi quy hoạch
3. Những căn cứ chủ yếu của việc xây dựng Quy hoach
4. Kết cấu của Quy hoạch
Phần thứ nhất: Hiện trạng phát triển nhân lực nông nghiệp và phát triển
nông thôn
I. Khái quát về dân số và nhân lực Việt Nam
II. Tình hình phát triển nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn
2.1. Biến động về nhân lực nông nghiệpvà phát triển nông thôn
2.2. Nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn chia theo một số chủ thể
Tran
g
2
2
3
nông nghiệp và phát triển nông thôn
I. Quan điểm, mục tiêu.
II. Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn.
III. Giải pháp
Phần thứ năm : Tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực nông
nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2020
2
14
14
15
18
19
19
21
21
23
27
29
32
32
34
36
37
40
40
41
42
45
Để tiếp tục phát triển nông nghiệp nông thôn một cách bền vững, thực hiện
thắng lợi các Nghị quyết của Đảng, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước nói chung và cho sự phát triển của nông nghiệp - nông thôn nói riêng,
nhiệm vụ xây dựng được nguồn nhân lực có chất lượng cao đóng vai trò then chốt.
Phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn những năm qua
được Đảng và Nhà nước quan tâm và đã thu nhiều kết quả quan trọng. Tỷ lệ lao động
được đào tạo ngày càng tăng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất,
chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động
phi nông nghiệp và đẩy mạnh hợp tác quốc tế về lao động.
Nguồn nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn được đánh giá là một
nguồn lực dồi dào và tiềm năng đối với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam trong những năm qua và những năm tiếp theo. Tuy nhiên, trên thực tế trình độ
chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn còn
nhiều bất cập, thị trường lao động nông thôn mang tính tự phát và không rõ ràng. Với
70% dân số nước ta đang sống ở khu vực nông thôn, lao động ở khu vực nông thôn
chiếm 75% tổng lực lượng lao động cả nước và phần lớn tập trung sản xuất trong lĩnh
vực nông nghiệp với năng suất lao động thấp, phương thức sản xuất lạc hậu dẫn đến
hiệu quả không cao.
4
Mặt khác trong quá trình triển khai phát triển nhân lực nông nghiệp và phát
triển nông thôn, các cấp, các ngành/lĩnh vực còn nhiều khó khăn lúng túng, nên kết
quả chưa được như mong đợi, tình trạng không ăn khớp giữa đào tạo và sử dụng nhân
lực, nơi thừa, nơi thiếu, người lao động không được làm việc đúng chuyên môn, trình
độ đào tạo …còn khá phổ biến dẫn đến lãng phí nguồn lực, sử dụng lao động không
hiệu quả, năng suất lao động thấp.
Mục tiêu chung phát triển giáo dục đến năm 2020 là phải có bước chuyển cơ
bản về chất lượng và quy mô, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của sự nghiệp phát
triển kinh tế xã hội và nâng cao tiềm năng trí tuệ, tăng sức cạnh tranh, tiếp cận trình
1994). Phạm vi đào tạo và sử dụng nguồn lực con người; phân tích, đánh giá, xác
định nhu cầu, đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển nhân lực của ngành nói
chung và từng lĩnh vực nghề nghiệp nói riêng; trong đó đặc biệt chú ý những lĩnh vực
có vai trò lớn và có tính đột phá đối với phát triển kinh tế-xã hội của Ngành và của
đất nước.
3. Những căn cứ chủ yếu của việc xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực
Nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2020
- Luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề;
- Các văn kiện Đại hội Đảng, đặc biệt là văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ X và lần thứ XI;
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khoá VII), Hội nghị Trung ương 2 (Khoá
VIII), Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (Khoá IX), Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 4 (Khoá X) về phát triển nhân lực Việt Nam và về chiến lược biển Việt Nam
đến năm 2020;
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ quy định về lập,
phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội;
- Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ, sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về
lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội;
- Nghị quyết số 39/NQ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2010 của Chính phủ về triển
khai xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực các Bộ, ngành, địa phương giai đoạn
2011-2020;
- Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày
19/4/2011 phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020;
Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân
lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020; Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 23/11/2009 phê
duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Quyết định số
10/2008/QĐ-TTg ngày 31/01/2008 phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi Việt
Nam đến năm 2020; Quyết định số 1690/QĐ-TTg ngày 16/9/2010 phê duyệt Chiến
1.1. Dân số
Việt Nam là một trong số các quốc gia có quy mô dân số lớn trên thế giới. Với
tổng dân số khoảng 87 triệu người (năm 2010), Việt Nam có quy mô dân số lớn thứ
13 thế giới, thứ 7 châu Á và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Inđônêsia và
Philippines).
Việt Nam đang ở trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” 1. Theo số liệu thống kê
và báo cáo điều tra lao động và việc làm năm 2009 và ước thực hiện đến năm 2010,
dân số trong độ tuổi lao động (nam 15-60, nữ 15-55 tuổi) có khoảng 56,5 triệu người
chiếm khoảng 65% tổng dân số. Tốc độ tăng dân số có chiều hướng giảm, từ mức
1,65% năm 1995 xuống còn 1,36% năm 2000 và 1,22% năm 2008.
Dân số nước ta phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng. Vùng
đông dân nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) với 19,5 triệu người; vùng có
số dân ít nhất là Tây Nguyên: hơn 5 triệu người. Hai vùng ĐBSH và Đồng bằng sông
Cửu Long tập trung tới 43% dân số cả nước. Trong khi đó, Tây Nguyên và Trung du
miền núi Bắc Bộ chỉ có khoảng 19% dân số cả nước sinh sống.
Dân cư Việt Nam phần đông vẫn còn là cư dân nông nghiệp với 70% (2010).
Dân cư đô thị khoảng 30% và là nước có tỷ lệ dân số đô thị thấp trên thế giới.
1.2. Lao động
a) Lực lượng lao động Việt Nam
Lực lượng lao động (dân số hoạt động kinh tế) của nước ta hiện nay là 50,4
triệu người (trên tổng số 56,5 triệu người trong độ tuổi lao động), bằng khoảng 58%
tổng dân số. Trong tổng số lực lượng lao động của cả nước, nữ giới chiếm tỷ trọng
48%, nam 52%. Số người đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân là 48,9 triệu
người, bằng khoảng 97% tổng lực lượng lao động. Trong ba thập kỷ qua, mặc dù có
sự tăng lên đáng kể về tỷ trọng lực lượng lao động khu vực thành thị, nhưng đến năm
2010 có gần 3/4 số lao động ở khu vực nông thôn.
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, theo phân loại trình độ chuyên môn kỹ thuật
được Tổng cục Thống kê dựa trên danh mục “Giáo dục, đào tạo Việt Nam năm 2005”
Thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” được quan niệm là quãng thời gian khi tổng tỷ suất phụ thuộc
(số người trong độ tuổi 0-14 tuổi cộng với số người từ 65 tuổi trở lên, chia cho số người trong độ
nghiệp tuy vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số lao động đang làm việc trong
nền kinh tế quốc dân, song đã giảm từ 65,2% năm 2000 xuống còn gần 51% năm
2010 (24,9 triệu người). Trong khi khu vực Công nghiệp-Xây dựng đã có mức tăng
tương ứng là từ 13% lên 22,2% và khu vực Dịch vụ tăng từ 21,8% lên 26,9%..
Bảng 1: Cơ cấu lao động trong nền kinh tế quốc dân (triệu người; %)
2000
2005
2009
Ước
2010
Tổng số
37,6
42,8
47,8
Nông, lâm, ngư nghiệp
24,5
24,4
%
0,0%
0,4 %
0,2%
57,1
52,1
50,9
4,9
7,8
10,2
10,9
9,6%
6,9%
8,2%
13,0
18,2
- Sự chuyển dịch cơ cấu lao động có tiến bộ
Trong cơ cấu nội ngành, lao động nông, lâm nghiệp đang trong xu hướng giảm
từ 23,5 triệu người năm 2000 xuống còn 23 triệu người năm 2010 (tốc độ giảm trung
bình là 0,2%/năm trong thời kỳ 2001-2010). Ngược lại, lao động ngành ngư nghiệp
có xu hướng tăng nhanh từ 1,0 triệu người năm 2000 lên 1,4 triệu người năm 2005 và
đạt 1,9 triệu người năm 2010 (tăng bình quân 6,6%/năm giai đoạn 2001-2010). Xu
hướng đó phản ánh xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
và chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực nông thôn mà Đảng và Nhà nước ta đang
triển khai thực hiện.
Bảng 2: Lao động ngành nông, lâm, ngư nghiệp
Đơn vị: Nghìn người
Tốc độ tăng trưởng
bình quân năm (%)
2000
2005
2009
Ước
2010
Tổng lao động
nông nghiệp và
PTNT
24.500
95,9
93,9
92,7
92,4
Ngư nghiệp
1.000
1.500
1.800
1.900
8,4
4,8
6,6
4,1
6,1
7,3
1. Khối các cơ quan, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ (Khối TW)
Tổng số cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của các đơn vị thuộc
Bộ có khoảng 21.500 người, trong đó cán bộ nữ khoảng 8.740 người, chiếm tỷ lệ
40,65%. Trong đó: công chức khối quản lý nhà nước là 1.565 người (Bộ Nông nghiệp
và PTNT cũ 1301 và Bộ Thuỷ sản 281 công chức - Tổng biên chế được giao: 1628);
Viên chức trong chỉ tiêu biên chế của các đơn vị sự nghiệp là 15.081.
Trong đó có 2039 người có trình độ từ thạc sĩ trở lên (chiếm 12%), trong đó: 36
Giáo sư (1,4%); 196 Phó Giáo sư (8,6%); 474 Tiến sĩ (23,2%) và 1361 Thạc sĩ
(66,7%). Số cán bộ, công chức có trình độ đại học và cao đẳng chiếm : 69%, TCCN
là: 18% và số còn lại là công nhân kỹ thuật.
Hầu hết cán bộ công chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tốt
nghiệp các chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy lợi,
Thủy sản, Kinh tế phát triển nông thôn. Một số cán bộ làm việc liên quan đến ngành
nông nghiệp hiện đang làm việc tại các Bộ ngành khác (Bộ Tài nguyên và môi
trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ...).
Bảng 3. Hiện trạng nhân lực khối TW:
Đơn vị tính: người
Theo Ngành
Số lượng
Cơ cấu theo
Các lĩnh vực chủ yếu
nhân lực
Tỉ lệ (%)
Nông nghiệp
8623
40,2
Trồng trọt, chăn nuôi, thú y,
bảo vệ thực vật, thổ nhưỡng,
công nghệ sinh học, quản lý đất
trại, thị trường nông sản...
Trong thực tế, lực lượng cán bộ công chức chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu
ngày càng cao trong công tác quản lý phát triển Ngành, tỷ lệ cán bộ có trình độ tiến sĩ
và chuyên gia đầu ngành còn thấp; số cán bộ có trình độ thạc sĩ đa số còn trẻ, kinh
nghiệm nghề nghiệp chưa nhiều, một số có trình độ còn hạn chế, số thạc sĩ được đào
tạo nước ngoài về thường không muốn làm việc trong các cơ quan nhà nước. Cán bộ,
công chức có trình độ cao và có kinh nghiệm đa số thuộc diện lớn tuổi và thường là
tham gia công tác quản lý. Số cán bộ công chức sử dụng thành thạo ngoại ngữ trong
giao tiếp, trong tham gia các hội nghị, hội thảo và đàm phán quốc tế còn rất hạn chế;
trong khi sự phát triển của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn lại diễn ra
trong điều kiện cạnh tranh quốc tế gay gắt, các rào cản thương mại được che đậy
bằng các yêu cầu tuân thủ về môi trường, an toàn thực phẩm và an sinh xã hội đã tạo
thêm áp lực lớn cho ngành, đòi hỏi các cán bộ quản lý ngành ngày càng phải năng
động, linh hoạt và có trình độ cao về chuyên môn, ngoại ngữ và các kiến thức mọi
mặt để có thể hợp tác và hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Ngoài ra, chính sách trả lương và cơ chế hiện tại đã không thu hút được các cán
bộ có trình độ và năng lực, nhạy bén với cơ chế thị trường vào làm việc cho các cơ
quan quản lý và sự nghiệp của ngành, dẫn đến khoảng cách giữa yêu cầu phát triển
ngành và trình độ của cán bộ công chức trong ngành ngày càng tăng.
2. Khối địa phương
Hiện nay cả nước có 63 tỉnh thành. Mỗi một tỉnh thành đều có Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn. Mỗi một Sở có trung bình 4,7 chi cục và 4,35 phòng.
Cả nước có 659 huyện (534 huyện, 42 quận, 61 thị xã, 22 thành phố trực thuộc
tỉnh). 80% các huyện trên có phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn. Ngoài ra có
500 trạm thú y, 543 trạm bảo vệ thực vật, 520 trạm khuyến nông, 424 hạt/trạm kiểm
lâm.
Cả nước có 10.843 xã, phường (9.111 xã, 1.137 phường, 595 thị trấn).
Trong thời gian qua, lực lượng cán bộ, công chức các Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển mạnh mẽ của Ngành. Các cán
trình độ trên đại học chiếm 4,51%, đại học và cao đẳng 51,66.2%, trung học chuyên
nghiệp 43,84 % và số còn lại là công nhân kỹ thuật và sơ cấp nghề (không thống kê).
Hầu hết số cán bộ công chức này tốt nghiệp các chuyên ngành liên quan đến lĩnh
vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thú y, bảo vệ thực vật, kinh tế, cơ khí nông
nghiệp và phát triển nông thôn…), thủy lợi, thủy sản, lâm nghiệp.
13
Bảng 4. Hiện trạng nhân lực nông nghiệp cấp địa phương:
ST
T
I
A
B
1
2
3
4
5
II
A
B
1
2
3
4
5
III
A
13
5
8
3
3
794
619
699
329
290
6757
2680
4539
1759
822
681
573
622
548
525
2833
1446
2259
882
384
641
341
334
766
310
518
207
105
64
18
46
6300
3355
2945
2248
528
1720
24951
7819
17132
16
12
14
2
&PTNT
Cấp Huyện
1. Cán bộ quản lý
2. Cán bộ chuyên
môn
Nông nghiệp
Lâm nghiệp
Thủy lợi
Thủy sản
Kinh tế NN
&PTNT
Cấp Xã
1. Cán bộ quản lý
2. Cán bộ chuyên
môn
Nông nghiệp
Lâm nghiệp
Thủy lợi
Thủy sản
Kinh tế NN
&PTNT
(Lĩnh vực kinh tế NN&PTNT bao gồm lĩnh vực Kinh tế nông nghiệp PTNT và
các lĩnh vực khác liên quan đến nông nghiệp)
Lực lượng cán bộ quản lý ngành Nông nghiệp ở các địa phương còn ít về số
lượng và tỷ lệ cán bộ có trình độ trên đại học thấp hơn so với khối cơ quan quản lý và
sự nghiệp của ngành ở trung ương, tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng cũng
14
2,4%
- Hết cấp PTCS:
21,5%
- Hết cấp PTTH:
74,9%
• Trình độ chuyên môn qua đào tạo:
- Tập huấn :
52,1%
- Sơ cấp:
9,0%
- Trung cấp:
5,5%
- Cao đẳng và đại học:
8,1%
- Trên đại học:
phương thức sản xuất lạc hậu, hiệu quả không cao. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của
lao động có việc làm ở nông thôn còn quá thấp, hầu hết chưa qua đào tạo (chiếm trên
82,5% tổng số lao động có việc làm). Lao động có việc làm có kỹ năng chuyên môn
chỉ chiếm 17,5%, trong đó lao động có trình độ CĐ, ĐH trở lên chiếm 2,1%, TCCN
chiếm 3,2%, sơ cấp và có chứng chỉ, bằng dạy nghề chiếm 2,9%, còn lại là lao động
chưa có bằng cấp, chỉ được qua tập huấn ngắn ngày (khoảng 9,3%).
III. NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
3.1. Những mặt được và thuận lợi
- Với bề dày truyền thống từ nhiều năm nay, cùng với sự góp sức của các cơ sở đào
tạo thuộc các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước, các cơ sở đào tạo nông nghiệp và
phát triển nông thôn đã đào tạo được một lực lượng lớn nguồn nhân lực cho Ngành,
cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu về số lượng nhân lực nông nghiệp và phát triển nông
thôn, đóng góp phần không nhỏ trong việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của
Ngành. Ngoài ra, các cơ sở đào tạo nông nghiệp và phát triển nông thôn còn đào tạo,
hoặc cử cán bộ, giáo viên sang đào tạo nông nghiệp và phát triển nông thôn giúp các
nước bạn Lào, Căm pu chia, góp phần củng cố tình hữu nghị giữa các nước.
- Cơ cấu các ngành, nghề đào tạo đã từng bước được cải thiện, đáp ứng được sự phát
triển của Ngành. Một số cơ sở đào tạo hàng đầu đã đào tạo được cán bộ có trình độ
tiến sĩ, thạc sĩ, đại học. Đào tạo các cấp trình độ cao đẳng, TCCN, dạy nghề, bồi
16
dưỡng ngắn hạn, đào tạo lao động nông thôn trước mắt đã đáp ứng được phần lớn nhu
cầu sử dụng lao động của toàn Ngành và nhu cầu học tập của cán bộ, nhân dân.
- Quy mô đào tạo tăng nhanh theo nhu cầu sử dụng nhân lực của Ngành và nhu cầu
học tập của xã hội. Hệ thống đào tạo nhân lực nông nghiệp và phát triển nông
thôncủa các cơ sở ngoài Bộ phát triển mạnh và được phân bố ở hầu hết các vùng lãnh
thổ, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Công tác xã hội hoá đào tạo bước
17
- Trang thiết bị phục vụ giảng dạy của hầu hết các trường, viện còn thiếu, cũ, lạc
hậu, không đồng bộ, hiệu quả sử dụng chưa cao, chưa đạt mặt bằng chung của các
nước trong khu vực, trong khi nhu cầu người học lớn, nên không tránh khỏi tình trạng
đào tạo tăng nhanh về số lượng, nhưng chất lượng chưa được nâng tầm tương xứng.
Diện tích mặt bằng của nhiều trường (các trường ngoài Bộ) chưa đủ cho nhu cầu đào
tạo hiện tại và cho phát triển.
- Cơ cấu cán bộ, giảng viên, giáo viên của các trường nhìn chung còn cứng và
chưa hợp lý; trình độ, năng lực chưa theo kịp nhu cầu phát triển của ngành và của
thực tiễn sản xuất và chưa được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
thường xuyên.
- Nội dung đào tạo một số chuyên ngành chưa được chuẩn hoá, thống nhất, ít đổi
mới, chưa thiết thực và sát thực tế, còn nặng về lý thuyết, nhẹ thực hành; các trường
chưa kịp thời mở các ngành, nghề mới xã hội đang có nhu cầu; học sinh tốt nghiệp
chưa đáp ứng ngay yêu cầu của các doanh nghiệp (mà chủ yếu là các doanh nghiệp tư
nhân và lao động cá thể), nhiều doanh nghiệp phàn nàn về chất lượng đào tạo và phải
tổ chức đào tạo lại.
- Quy mô đào tạo tăng nhưng mất cân đối nghiêm trọng: quy mô đào tạo một số
ngành nghề (chủ yếu thuộc lĩnh vực kinh tế, tài chính) tăng mạnh, trong khi một số
ngành nghề chuyên môn lại rất khó tuyển sinh do tính hấp dẫn thấp đối với người học
(thậm chí có ngành, nghề nhiều năm không tổ chức đào tạo được).
a. Mất cân đối về bậc đào tạo:
- Với việc chuyển đổi một số trường đại học chuyên ngành về nông nghiệp và
phát triển nông thôn thành các đại học vùng (ví dụ Trường Đại học Thuỷ sản thành
Trường đại học Nha Trang) nên số lượng tuyển sinh đào tạo bậc đại học về nông
nghiệp và phát triển nông thôn đặc biệt là ngành thuỷ sản hàng năm giảm đáng kể.
b. Mất cân đối về ngành, nghề đào tạo:
- Các cơ sở đào tạo đại học có đào tạo (không thuộc Bộ) chủ yếu đào tạo một số
Lực lượng lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp và phát triển nông thôn, tổ hợp
nghề cá và lực lượng ngư dân hầu như không có lao động đã qua đào tạo chính quy,
chỉ có một số ít được qua các khoá bồi dưỡng ngắn hạn.
- Số lượng cơ sở đào tạo nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn còn ít và
phân bố chưa hợp lý
- Mạng lưới trường đào tạo nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn trên cả
nước còn mỏng, phân bố chưa hợp lý trên các vùng lãnh thổ mà tập trung chủ yếu ở
một số thành phố và vùng phụ cận như Hà nội, Hải Phòng, Huế, Đà nẵng, Tp. Hồ Chí
Minh. Trong khi tại các vùng: Miền núi, trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung
bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và nhất là tại vùng đồng bằng Sông Cửu Long.
- Một số cơ sở đào tạo ngoài Bộ chủ yếu đào tạo nhân lực nông nghiệp và phát
triển nông thôn theo thị hiếu người học, không được coi là nhiệm vụ chính, ít được
đầu tư, không có kế hoạch ổn định, nên quy mô đào tạo không ổn định, chất lượng
đào tạo không cao.
- Bộ không có trường đại học về lĩnh vực thủy sản. Trường Đại học Thuỷ sản (là
trường đại học duy nhất của ngành thuỷ sản) đã được chuyển thành thành Trường Đại
học Nha Trang đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn không chủ động được quy mô, sự cân đối về ngành nghề và chất lượng đào tạo
nhân lực thuỷ sản trình độ đại học và sau đại học.
- Khó phát triển hoạt động hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học, chuyển giao
công nghệ, sản xuất dịch vụ do thiếu chuyên gia giỏi và tài chính để đầu tư; công tác
kiểm định chất lượng trường chưa thực hiện được nhiều (trừ các trường đại học).
19
- Việc đào tạo, bồi dưỡng gắn với công tác quy hoạch cán bộ của các đơn vị trong
ngành tiến hành còn chậm. Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng quản lý, điều hành trước khi
bổ nhiệm còn hạn chế; chưa hình thành được những lớp chuyên đề cho lĩnh vực này.
- Công tác Hợp tác quốc tế về đào tạo sau đại học tuy được đặt ra song chưa được
THÔN
Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản
xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao,
đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài.
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế
và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn
hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính
trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường.
Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà
giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông
dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu
vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.
Giai đoạn 2011-2015: phục hồi tăng trưởng, tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp;
phát huy dân chủ cơ sở, huy động sức mạnh cộng đồng để phát triển nông thôn; tăng
thu nhập và giảm đáng kể tỷ lệ nghèo, bảo vệ môi trường
Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ổn định 3,3-3,8%. Tạo chuyển biến rõ rệt về mở
rộng quy mô sản xuất bình quân của hộ và ứng dụng khoa học công nghệ.
Tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực. Nâng cao cả kiến thức, kỹ năng sản xuất
kinh doanh nông lâm ngư nghiệp và phi nông nghiệp cho lao động nông thôn.
Tạo chuyển biến rõ rệt phát triển kinh tế hợp tác, hiệp hội, phát triển liên kết dọc theo
ngành hàng, kết nối giữa sản xuất - chế biến - kinh doanh. Phát triển doanh nghiệp
nông thôn.
Hình thành kết cấu hạ tầng căn bản phục vụ hiệu quả sản xuất nông nghiệp, phát triển
kinh tế nông thôn. Cải thiện căn bản môi trường và sinh thái nông thôn tập trung vào
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh cho cây trồng và vật
nuôi, phòng chống thiên tai.
Cộng đồng cư dân nông thôn chủ động, tích cực thực hiện xây dựng nông thôn mới.
20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Giảm đáng kể tỷ lệ nghèo, đặc biệt ở các
Kế hoạch năm
2011-2015
Kế hoạch
năm 20162020
Tốc độ tăng GDP bình quân của toàn
ngành
%
3,3-3,8
3,5 - 4,0
Tỷ trọng GDP của ngành so với GDP
chung
%
16
14-15
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất toàn
ngành
%
4 – 4,5
(2) Phát triển nhân lực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải có tầm nhìn
dài hạn và phải có bước đi thích hợp theo yêu cầu phát triển của từng giai đoạn.
(3) Phát triển nhân lực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải đảm bảo tính
hài hoà về cơ cấu và cân đối nhân lực theo nhóm/lĩnh vực, vùng, miền, lãnh thổ.
(4) Phát triển nhân lực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải gắn với yêu
cầu của hội nhập quốc tế.
2.2. Mục tiêu phát triển
2.2.1. Mục tiêu tổng quát
Đáp ứng được nhu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ nhân lực, đảm bảo yêu
cầu nhân lực thực hiện thành công đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn, phát triển nhanh những lĩnh vực mà ngành Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn có lợi thế so sánh; đồng thời nêu ra các giải pháp phát triển nhân lực,
hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao theo chuẩn khu vực và từng bước tiến tới
chuẩn quốc tế.
2.2.2. Mục tiêu cụ thể
(1) Tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo của ngành nông, lâm ngư nghiệp,
thuỷ lợi tăng tương ứng từ 15,5% năm 2010 lên khoảng 28,0% năm 2015 và khoảng
50,0% năm 2020;
(2) Phát triển đồng bộ đội ngũ nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn
với chất lượng ngày càng cao, đủ mạnh ở mọi lĩnh vực, đồng thời tập trung ưu tiên
những lĩnh vực Ngành và đất nước có lợi thế cạnh tranh.
(3) Xây dựng được đội ngũ giáo viên có chất lượng cao để đào tạo nhân lực có
trình độ cho đất nước.
III. DỰ BÁO BIẾN ĐỘNG NHÂN LỰC QUA CÁC GIAI ĐOẠN
Nhân lực trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp năm 2010 là 24,9 triệu người (chiếm
khoảng 51,0% tổng nhân lực trong nền kinh tế), năm 2015 có khoảng 24 - 25 triệu
người (chiếm khoảng 45,0 - 46,0% tổng nhân lực trong nền kinh tế) và năm 2020
khoảng 22 - 24 triệu người (tương đương với khoảng 35,0 - 38,0% tổng nhân lực
trong nền kinh tế).
24
51,0
50,0
46,0
38,0
20,33
0,50
1.25
1,00
1,83
20,35
0,50
1,25
1,00
1,9
19,94
0,52
1,28
1,06
2,2
18,55
0,55
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
Khối cơ sở sản xuất kinh doanh, công ty,
nông lâm trường
Khối lao động nông thôn
Theo Vùng miền
Trung du miền núi phía Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung
Tây Nguyên
Đông Nam Bô
Đồng Bằng Sông Cửu Long
24
0,296 0,297 0,313 0,307
24,500 24,598 24,578 23,587
5,007
4,941
6,017
2,096
1,353
5,477
5,007
4,941
Bảng 7. Dự báo nhu cầu nhân lực chia theo bậc đào tạo của khối nông, lâm, ngư
nghiệp đến năm 2020
Nghìn người
Nhu cầu lao động qua đào tạo
Cơ cấu bậc đào tạo (%)
2010
2011
2015
2020
Tổng số nhân lực làm
việc trong nền kinh tế
48.900
50.000
55.300
62.600
I. Tổng lao động trong
khu vực Nông lâm ngư
nghiệp
% so với tổng LĐ Nông
lâm ngư nghiệp
15,5
17,2
28,0
50,0
2.1. Hệ đào tạo nghề
3.530
3.900
6.500
- Sơ cấp và không bằng
(chủ yếu dạy nghề chao
lao động nông thôn theo
quyết định 1956)
2.800
3.000
- Trung cấp nghề
5.100
8.340
72,6
73,0
69,5
800
1.150
2.400
17,0
16,4
20,0
70
100
250
460
300
3,1
2,6
2,5
- Cao đẳng
160
180
200
260
4,1
2,9
2,2
52
60
100