MỞ ĐẦU
a. Sự cần thiết:
Quảng Ninh là một tỉnh công nghiệp với nhiều ngành phát triển hàng đầu
trong khu vực như công nghiệp khai thác mỏ và các ngành cơ khí phụ trợ, sản
xuất điện từ than, công nghiệp đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng. Các ngành
này có một đóng góp rất đáng kể cho tăng trưởng GDP của tỉnh và có một vị trí
quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
Quảng Ninh cũng là một tỉnh có thế mạnh về phát triển nghề rừng. Tổng
diện tích đất có rừng là 316.578,7 ha với độ che phủ của rừng là 51,8 % (1). Sản
lượng gỗ khai thác hàng năm tăng nhanh, năm 2006 đạt 33.400 m 3, đến năm
2011 đạt 251.170 m3 và năm 2012 ước đạt 350.000 m3 (2). Tài nguyên rừng của
tỉnh có một vai trò vô cùng to lớn trong việc bảo vệ môi trường, sinh thái và
còn là nguồn tạo ra công ăn việc làm, ổn định sinh kế cho đồng bào vùng nông
thôn, miền núi. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, việc trồng, khai thác và sử
dụng gỗ nói chung còn nhiều bất cập. Đây chính là một trong nhiều nguy cơ
tiềm ẩn làm cho sự phát triển tài nguyên rừng ở Quảng Ninh bất ổn định, hiệu
quả sử dụng tài nguyên rừng chưa cao, lợi ích từ nghề rừng mang lại chưa xứng
tầm, thu nhập của người dân sống bằng nghề rừng còn quá thấp.
Một trong những giải pháp cần thiết nhằm phát triển bền vững tài nguyên
rừng, nâng cao giá trị sản phẩm gỗ và tăng thu nhập cho người trồng rừng, góp
phần phát triển dân sinh kinh tế, ổn định xã hội cho các vùng nông thôn miền
núi trong tỉnh là phát triển ngành chế biến lâm sản, trong đó chủ yếu là công
nghiệp chế biến gỗ một cách toàn diện và cân đối giữa với các ngành, nghề
khác. Việc phát triển công nghiệp chế biến gỗ cần phải theo đúng các định
hướng chiến lược của tỉnh Quảng Ninh, phù hợp với quy hoạch phát triển Lâm
nghiệp và quy hoạch ngành chế biến gỗ của Việt nam.
1()
2()
tỉnh Quảng Ninh về việc Phê duyệt Quy hoạch nông, lâm nghiệp và thuỷ lợi
tỉnh Quảng Ninh đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020;
2
- Quyết định số 269/2006/QĐ-TTg ngày 24/11/2006 của Thủ tướng Chính
phủ về việc Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính
phủ về việc Phê duyệt chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn
2006-2020;
- Thông tư số 01/2012/TT-BKHĐT ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Bộ
Kế hoạch và đầu tư về Hướng dẫn xác định định mức chi phí cho lập, thẩm định
và công bố quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch phát triển
ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu;
- Quyết định số 2728/QĐ-BNN-CB ngày 31/10/2012 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn về việc: Phê duyệt Quy hoạch công nghiệp chế biến gỗ
Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;
- Quyết định 2387/QĐ-UBND ngày 19/9/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Quảng Ninh về việc Phê duyệt đề cương và dự toán quy hoạch chế biến gỗ trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020;
- Quyết định số 523/QĐ-SNN&PTNT ngày 24/9/2012 của Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ninh về việc Phê duyệt dự toán quy
hoạch chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020;
3
Phần 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI
dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều
với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên
đất Hoành Bồ.
Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong
hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các
triền sông và bờ biển. Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Quảng Yên, nam
Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái. Ở các cửa sông, các vùng
bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp. Đó là vùng nam
Uông Bí, nam Quảng Yên (đảo Hà Nam), đông Quảng Yên, Đồng Rui (Tiên
Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái. Tuy có diện tích hẹp và
bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông
nghiệp và giao thông nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh.
Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Hơn
hai nghìn hòn đảo (chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước), trải dài theo đường ven biển
hơn 250 km chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản
Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ. Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện
Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn
đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn
hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú.
Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn
những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên
liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà
Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng...)
Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là
20 m. Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm
làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng. Các dòng chảy hiện nay nối với
các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ
biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm
năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn.
1.5. Giao thông
Hệ thống giao thông của Tỉnh Quảng Ninh rất phong phú bao gồm giao
thông đường bộ, đường thuỷ nội địa, đường sắt, đường biển, và các cảng hàng
không.
Trong hệ thống đường bộ có 5 tuyến Quốc lộ với chiều dài 381 km; 12
tuyến đường tỉnh với chiều dài 301 km; 764 km đường huyện và 2.233 km
đường xã. Trên toàn tỉnh có 16 bến xe trong đó 6 bến xe liên tỉnh hỗn hợp[36];
125 tuyến vận tải khách cố định liên tỉnh và liên tỉnh liền kề; 18 tuyến vận tải
khách nội tỉnh và 11 tuyến xe buýt.
Toàn tỉnh có 96 bến thuỷ nội địa, đã đưa vào cấp quản lý 642 km đường
thuỷ nội địa. 5 cảng biển (9 khu bến) thuộc Danh mục cảng biển trong Quy
hoạch phát triển cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
- Cảng Cái Lân: đây là cảng nước sâu được đầu tư xây dựng thành cảng biển
lớn, có thể cập tàu 3 - 4 vạn tấn, vừa bốc xếp hàng rời, vừa bốc xếp hàng
container.
- Cảng Vạn Gia: là cảng cửa ngõ giao lưu hàng hoá giữa Việt Nam và Trung
Quốc, là vùng neo đậu chuyển tài hàng hoá. Cảng có chiều dài luồng tự nhiên
7 hải lý, độ sâu 75 m, đảm bảo cho tàu 10.000 DWT ra vào an toàn.
- Cảng Cửa Ông: là cảng chuyên dùng xuất than ở khu vực Cẩm Phả. Cảng có
chiều dài 300m, độ sâu –9,5m, tàu 50.000 DWT ra vào thuận tiện.
- Cảng Hòn Nét: nằm trong vịnh Bái Tử Long, có độ sâu – 16 m và khu vực
đậu tàu rộng lớn.
- Cảng Mũi Chùa: có độ sâu – 3,3 m, có thể đón tàu 1.000 DWT áp bến.
Tỉnh Quảng Ninh có 65 km đường sắt quốc gia thuộc tuyến Kép - Hạ
Long và hệ thống đường sắt chuyên dùng ngành than [36].
1.6. Tài nguyên
1.6.1. Tài nguyên đất
Theo số liệu Niên giám thống kê Quảng Ninh 2011, tổng diện tích tự
loại đặc thù, trữ lượng lớn, chất lượng cao mà nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước
không có được như: than, cao lanh tấn mài, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi…
Than đá: Có trữ lượng khoảng 3,6 tỷ tấn, hầu hết thuộc dòng an-tra-xít,
tỷ lệ các-bon ổn định 80 – 90 %, phần lớn tập trung tại 3 khu vực: Hạ Long,
Cẩm Phả và Uông Bí – Đông Triều; mỗi năm cho phép khai thác khoảng 30 –
40 triệu tấn.
8
Các mỏ đá vôi, đất sét, cao lanh… Trữ lượng tương đối lớn, phân bố rộng
khắp các địa phương trong tỉnh như: Mỏ đá vôi ở Hoành Bồ, Cẩm Phả; Các mỏ
cao lanh ở các huyện miền núi Hải Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, thành
phố Móng Cái; Các mỏ đất sét phân bố tập trung ở Đông Triều, Hoành Bồ và
TP. Hạ Long là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất vật liệu xây dựng
cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
Các mỏ nước khoáng: Có nhiều điểm nước khoáng uống được ở Quang
Hanh (Cẩm Phả), Khe Lặc (Tiên Yên), Đồng Loóng (Bình Liêu). Ngoài ra, còn
có nguồn nước khoáng không uống được tập trung ở Cẩm Phả có nồng độ
khoáng khá cao, nhiệt độ trên 35 oC, có thể dùng chữa bệnh.
1.6.5. Tài nguyên du lịch
Quảng Ninh có tài nguyên du lịch đặc sắc vào loại nhất của cả nước, có
nhiều bãi biển đẹp, có cảnh quan nổi tiếng như vịnh Hạ Long – 2 lần được
Unesco xếp hạng di sản thiên nhiên thế giới và trở thành 1 trong 7 kỳ quan
thiên nhiên mới của thế giới.
1.6.6. Tài nguyên rừng
Quảng Ninh là tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp lớn chiếm 63.65 % tổng
diện tích tự nhiên của tỉnh.
Bảng 01. Phân loại đất của Quảng Ninh theo chức năng sử dụng
TT
Loại đất
9
5,71%
3,93%
13,73%
63,65%
11,75%
Hình 01: Biểu đồ tỷ lệ các loại đất của Quảng Ninh
Số liệu bảng 01 và biểu đồ hình 01 cho thấy Quảng Ninh là tỉnh rất có
tiềm năng về phát triển ngành lâm nghiệp với diện tích đất lâm nghiệp và diện
tích đất đồi núi chưa sử dụng chiếm tỷ lệ rất lớn bằng 2/3 (69,36 %) tổng diện
tích tự nhiên của toàn tỉnh.
Bảng 02. Diện tích các loại đất rừng của Quảng Ninh
TT
Loại đất
Diện tích (ha)
Tổng diện tích đất lâm nghiệp
388.393,64
1 Đất rừng sản xuất
241.071,15
2 Đất rừng phòng hộ
122.064,39
3 Đất rừng đặc dụng
25.258,10
(Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Ninh năm 2011)
11
Bảng 03. Phân loại diện tích đất rừng theo chủ sở hữu
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
Chủ sở hữu
Ban quản lý rừng
Doanh nghiệp Nhà nước
Tổ chức kinh tế khác
Đơn vị vũ trang
Hộ gia đình
Cộng đồng thôn bản
Tập thể và tổ chức khác
UBND (chưa giao)
Tổng cộng
Diện tích (ha)
82.478,6
115.896,1
7.889,7
11.450,4
Trong thời gian qua, diện tích rừng các loại (rừng tự nhiên, rừng trồng)
của tỉnh đã tăng khá nhanh từ 280.395,5 ha năm 2006; lên 322.402,4 ha năm
2012; nâng độ che phủ rừng từ 41,3% năm 2006 lên 52,8% năm 2012, đưa
Quảng Ninh lên nhóm các tỉnh có độ che phủ rừng lớn nhất toàn quốc. Tăng
trưởng diện tích rừng của tỉnh Quảng Ninh là do sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh
đạo tỉnh, các ban ngành, nhân dân trong tỉnh và sự hỗ trợ kinh phí đầu tư của
các chương trình, dự án như: chương trình 327, chương trình 661, chương trình
12
hợp tác Việt - Đức, dự án trồng rừng ven biển của hội chữ thập đỏ Nhật Bản,
quỹ môi trường của ngành than, vốn tự có của nhân dân....
Tóm lại, qua phân tích điều kiện tự nhiên của Quảng Ninh cho thấy:
Quảng Ninh là tỉnh có vị trí địa lý đắc địa rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh
tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật với các tỉnh bạn trong cả nước và giao lưu với
Quốc tế. Ngoài ra Quảng Ninh là tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp rất lớn (chiếm
xấp xỉ 2/3 diện tích tự nhiên toàn tỉnh) trong đó phần lớn (trên 62,07 %) là diện
tích rừng sản xuất. Những năm qua, dưới sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh
đạo tỉnh cũng như các ban ngành của tỉnh, diện tích trồng rừng của Quảng Ninh
ngày càng được mở rộng đưa Quảng Ninh trở thành một trong số ít các tỉnh
trong cả nước có độ che phủ rừng lên trên 50 %. Với các yếu tố vị trí địa lý
cũng như tiềm năng lớn mạnh về tài nguyên rừng sẽ tạo điều kiện thuận lợi
thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến gỗ Quảng Ninh phát triển mạnh mẽ.
II. Điều kiện kinh tế
Quảng Ninh là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc của Việt Nam, có vị trí địa lí
đặc biệt với đầy đủ các điều kiện để phát triển kinh tế tổng hợp như biên giới
trên đất liền, đường bờ biển, hải cảng, hải đảo, có địa hình đặc trưng của miền
núi cao, trung du, đồng bằng... Vì thế, Quảng Ninh trở thành một trọng điểm
kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía bắc đồng thời là một
Tính đến ngày 30/06/ 2010, trên địa bàn Quảng Ninh hiện có
khoảng 12.852 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, kinh doanh với tổng số vốn
đăng ký 98.778 tỷ đồng. Trong đó có 2.042 Công ty cổ phần (vốn 29.136
tỷ); 2513 Công ty TNHH 2 TV (vốn 5.714 tỷ); 235 Công ty TNHH 1 TV (vốn
13.459 tỷ); 1102 DNTN (vốn 1.078 tỷ). Các doanh nghiệp này phân bổ theo lĩnh
vực:
- Công nghiệp;
- Thương mại, du lịch, dịch vụ;
- Nhà hàng, khách sạn;
- Nông – lâm - ngư nghiệp;
- Các lĩnh vực khác.
III. Điều kiện xã hội
3.1. Dân số
Theo số liệu Niên giám thống kê Quảng Ninh 2011, dân số Quảng Ninh
như sau:
- Tổng dân số Quảng Ninh đến năm 2011 là 1.172.500 người, trong đó
dân số là nam giới nhiều hơn dân số là nữ giới. Cụ thể, dân số là nam giới có
14
598.800 người chiếm 51,1 % và dân số là nữ giới có 573.700 người chiếm 48,9
% so với tổng dân số toàn tỉnh.
- Tỷ lệ sinh dân số ở Quảng Ninh trong giai đoạn từ năm 2000 trở lại đây
tăng cao, đặc biệt từ năm 2005 trở lại đây (2011) tỷ lệ sinh dân số trung bình
hàng năm tăng là 15,87 %/năm. Do tỷ lệ sinh dân số hàng năm tăng cao, nên tỷ
lệ dân số hàng năm của Quảng Ninh luôn có xu hướng dân số năm sau tăng cao
hơn năm trước, vì lẽ đó số lượng lao động hàng năm của Quảng Ninh luôn có
xu hướng tăng cao. Tỷ lệ tăng dân số và tăng lao động ở Quảng Ninh được thể
hiện ở bảng 04 sau:
Bảng 04. Dân số và lao động ở Quảng Ninh
555.500
1,20
4,08
3
2007
1.122.500
586.100
1,18
5,51
4
2008
1.135.100
603.000
1,13
2,88
633.400
1,22
1,65
(Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Ninh 2011)
- Mật độ dân số tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã, khu công
nghiệp như: TP Hạ Long (224.700 người chiếm 19,16 % dân số toàn tỉnh), TP
Cẩm Phả (179.000 người chiếm 15,27 % dân số toàn tỉnh) , huyện Đông Triều
(160.500 người chiếm 13,69 % dân số toàn tỉnh), TP Uông Bí (109.400 người
chiếm 9,33 % dân số toàn tỉnh), TP Móng Cái (91.000 người chiếm 7,76 % dân
số toàn tỉnh), .v.v..Khu đô thị là nơi người dân có thu nhập cao, nhu cầu sử
dụng sản phẩm gỗ có ngày càng nhiều. Dân số Quảng Ninh sống tập trung
nhiều ở các đô thị, thành phố sẽ là thị trường tiềm năng tiêu thụ các sản phẩm
đồ gỗ có chất lượng cao của ngành công nghiệp chế biến gỗ.
15
3.2. Dân tộc
Quảng Ninh có 22 thành phần dân tộc, song chỉ có 6 dân tộc có hàng
nghìn người trở lên, cư trú thành những cộng đồng và có ngôn ngữ, có bản sắc
dân tộc rõ nét. Ðó là các dân tộc Việt (Kinh), Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa.
Trong các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, người Việt
(Kinh) chiếm 89,23% tổng số dân, sống chủ yếu ở các đô thị, các khu công
nghiệp và vùng đồng bằng ven sông, ven biển. Sau người Việt (Kinh) là các dân
tộc thiểu số có nguồn gốc từ lâu đời. Người Dao (4, 45 %) có hai nhánh chính là
Thanh Y, Thanh Phán, thường cư trú ở vùng núi cao. Người Hoa (0, 43 %),
người Sán Dìu (1,80 %), Sán chỉ (1,11 %) ở vùng núi thấp và chủ yếu sống bằng
nông nghiệp với nghề trồng cấy lúa nước. Các dân tộc thiểu số là chủ nhân của
liệu.
4) Việc tăng dân số hàng năm sẽ tạo ra nguồn lao động dồi dào. Mật độ
dân số tập trung cao ở các đô thị Quảng Ninh sẽ là yếu tố gia tăng nhu cầu sử
dụng sản phẩm đồ gỗ ngày càng tăng. Các yếu tố này sẽ tạo điều kiện thuận lợi
thúc đẩy ngành chế biến gỗ Quảng Ninh phát triển.
5) Phân tích thực trạng và xu hướng phát triển dân số và lao động của
tỉnh Quảng Ninh cho thấy: dân số ngày càng tăng và tập trung ở các đô thị (thị
trấn, thị xã, thành phố), đây là các đối tượng có điều kiện và nhu cầu sử dụng
đồ gỗ có chất lượng cao hơn nhóm cư dân vùng nông thôn miền núi. Lực lượng
lao động trong khối Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản chiếm tỉ lệ lớn, nhưng giá
trị hàng hóa đạt được lại thấp hơn nhiều so với các ngành khai khoáng, công
nghiệp và du lịch. Lao động hầu như không qua các trường đào tạo nghệ, phần
lớn học nghề theo kiểu truyền miệng, vừa học, vừa làm.
Phần 2. TỔNG QUAN CHẾ BIẾN GỖ Ở VIỆT NAM
VÀ THỰC TRẠNG CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG
NINH GIAI ĐOẠN 2006-2011
I. Tổng quan chế biến gỗ ở Việt Nam
1.1. Vị trí và vai trò của công nghiệp chế biến gỗ trong sự phát triển kinh tế
- xã hội ở Việt Nam
17
Công nghiệp chế biến gỗ hiểu theo nghĩa rộng là một ngành bao gồm tất
cả các hoạt động sử dụng máy móc, thiết bị và hoá chất thực hiện quá trình
chuyển hoá gỗ thành các sản phẩm thoả mãn các nhu cầu của con người.
Theo nghĩa hẹp, công nghiệp chế biến gỗ là ngành bao gồm các hoạt
động sử dụng nguyên liệu là gỗ để sản xuất ra các sản phẩm gỗ ngoài trời, trong
nhà, ván gỗ nhân tạo, đồ gỗ mỹ nghệ, và các sản phẩm gia dụng có sự kết hợp
giữa gỗ với các vật liệu khác.
những vùng có điều kiện sản xuất nông nghiệp khó khăn của nước ta.
19
Bảng 05. Thống kê số hộ gia đình phân theo
diện tích rừng trồng ở Việt Nam
Vùng
Toàn quốc
1.Đồng
Bằng
Sông Hồng
2. Đông Bắc
3. Tây Bắc
Số HGĐ phân theo quy mô diện
tích
5 ha
DT rừng
trồng của
HGĐ (ha)
11.738
481.080
Tổng số
99.416
70.695
23.529
3.409
1.783
13.866
4. Bắc Trung Bộ
255.921 179.305
57.378
11.389
7.849
346.722
28.454
21.146
5.457
1.045
806
16.127
8. Đồng Bằng
sông Cửu Long
79.956
52.469
19.412
4.805
3.270
55.585
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp Quy hoạch chế biến gỗ Việt Nam đến năm 2020 và
định hướng đến năm 2030)
Tổng cục thống kê qua các năm từ 2007 đến 2010; tính đến cuối năm 2007, Việt
Nam có 2.526 doanh nghiệp chế biến gỗ, tăng 2,8 lần so với năm 2000, và 7,7 lần
so với năm 1990; năm 2008 số doanh nghiệp chế biến lâm sản đăng kí hoạt động
là 3126 cơ sở (tăng 23,7 % so với năm 2007) và năm 2009 tổng số các doanh
nghiệp đăng kí hoạt động trên cả nước là 3.930 (tăng 55,58 % so với năm 2007).
21
Bảng 06. Số lượng và phân bố của các doanh nghiệp chế biến gỗ
ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2009
Năm 2000
Năm 2005
Năm 2007
Năm 2009
Vùng
Số
lượng
Tỉ lệ
(%)
Số
lượng
3930
100
Miền Bắc
351
39,2
906
52,7
497
19,7
920
23,4
ĐB Sông Hồng
118
13,2
530
20
1,2
16
8,6
-
-
Bắc Trung Bộ
151
16,9
191
11,1
127
5,0
-
-
7,3
-
-
Tây nguyên
125
13,8
99
5,5
185
7,3
-
-
Đông Nam bộ
254
28,3
-
-
(Nguồn: Số liệu năm 2005 của Bộ NN&PTNT; Số liệu năm 2005 của FOMIS;
Số liệu năm 2007 của Vifores; Tổng Cục Thống kê 2010)
Một cách tự phát, các doanh nghiệp chế biến gỗ có quy mô vừa và lớn đã
hình thành và tập trung chủ yếu ở 3 vùng, khu vực phía Bắc tập trung ở Hà Nội,
Hải Phòng; khu vực miền Trung tập trung ở Bình Định, Đà Nẵng; khu vực phía
Nam, tập trung ở Đồng Nai, Bình dương và thành phố Hồ Chí Minh.
Sự phân bố của các cụm công nghiệp chế biến gỗ tại 3 vùng đều có
chung đặc điểm về vị trí địa lý thuận lợi cho xuất nhập khẩu theo đường biển và
tại các địa phương có môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi.
Các báo cáo thống kê về số doanh nghiệp đăng kí hoạt động trên toàn
quốc cho thấy, tỉ lệ phân bố các doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản nói chung
trong cả nước không đồng đều. Tại khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và
Miền Nam tập trung nhiều các cơ sở chế biến gỗ (chiếm trên 80% số doanh
22
nghiệp chế biến gỗ của cả nước). Các cụm công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu
đã hình thành và tập trung chủ yếu ở 2 vùng:
- Cụm công nghiệp chế biến gỗ phía nam gồm Bình Dương, Đồng Nai và
thành phố Hồ Chí Minh;
- Cụm công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu lớn thứ 2 cả nước, tập trung ở các
tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Định.
Ngoài ra có một số cơ sở tập trung ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum.
Khu vực phía Bắc, công nghiệp chế biến gỗ phát triển chậm hơn so với
khu vực Nam Trung Bộ và Miền Nam, tuy nhiên gần đây đã có sự thay đổi và
đang khẳng định vị trí của mình trên bản đồ “công nghiệp chế biến gỗ Việt
Diện tích rừng sản
xuất
Diện tích
(ha)
Doanh nghiệp chế
biến gỗ
Tỉ lệ (%) Số lượng
Tỷ lệ
(%)
4.787.711
100
2526
100
2.045.252
42,7
497
19,7
5,0
2.415.495
50,3
2029
80,3
378.520
7,9
185
7,3
1.639.975
34,2
185
7,3
Đông Nam bộ
214.875
Ngoài việc cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của
thị trường trong nước, sản phẩm gỗ của Việt Nam hiện có mặt ở thị trường của
trên 120 quốc gia. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam đã liên tục
tăng trong 10 năm trở lại đây.
1.2.2. Loại hình doanh nghiệp
25