Khoá luận tốt nghiệp Phát triển kinh tế biển ở hải phòng trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế - - Pdf 35

Khoá luận tốt nghiệp

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện các nguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng cạn kiệt thì
đẩy mạnh nghiên cứu khoa học – công nghệ để khai thác tối đa tiềm năng, lợi
thế tài nguyên từ biển đang là xu thế tất yếu, khách quan nhằm đảm bảo các
nhu cầu về nguyên, nhiên, vật liệu, năng lượng, thực phẩm và không gian sinh
tồn cho loài người. Do đó, biển có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết và quan
trọng đối với đời sống con người và cho sự phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm
an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường ở mỗi quốc gia.
Lịch sử cho thấy những đột phá phát triển mang tầm thế giới cho đến
nay hầu như đều bắt nguồn từ những quốc gia - biển, như Italia thế kỷ XIV XV, Anh thế kỷ XVII - XVIII, Nhật Bản nửa cuối thế kỷ XX và gần đây hơn,
gắn với biển là sự bùng nổ của Singapo bé nhỏ hay Trung Quốc khổng lồ.
Dựa trên những lợi thế của biển, các nước này thi hành chiến lược kinh tế mở
và đã tạo những đột phá thành công. Kinh nghiệm thế giới cũng chỉ ra rằng
mỗi thời đại phát triển lớn đều gắn với các đại dương, như: thời Phục hưng
gắn với Địa Trung Hải, thời Ánh sáng gắn với Đại Tây Dương, và hiện nay là
sự đột phá của Đông Á gắn với Thái Bình Dương...
Việt Nam với lợi thế về tài nguyên biển cũng đã chú trọng khai thác tài
năng biển, sử dụng các nguồn lực biển phục vụ tích cực cho công cuộc phát
triển kinh tế. Hồ chủ tịch từng nói: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày
nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp. Ta phải biết giữ gìn
lấy nó”. Hội nghị Trung ương 4 khóa X đã đề ra Chiến lược biển Việt Nam,
cung cấp khuôn khổ phát triển biển toàn diện đến năm 2020 với mục tiêu
quan trọng là: Việt Nam phải trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên
từ biển. Trong bối cảnh hội nhập, với tầm nhìn dài hạn cho các lĩnh vực kinh
tế, phát triển kinh tế biển được coi là “trục chính” của nền kinh tế Việt Nam.
Thành phố Hải Phòng - một trong những trung tâm công nghiệp, thương
mại, dịch vụ của cả nước, luôn tự hào về những đóng góp to lớn cho sự phát
Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

Để góp phần luận giải những nguyên nhân của thực tại đó, đồng thời đưa
ra những giải pháp cho phát triển kinh tế biển ở Hải Phòng thời gian tới, tác
giả đã chọn đề tài: “Phát triển kinh tế biển ở Hải Phòng trong điều kiện toàn
cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

2


Khoá luận tốt nghiệp
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đối với vấn đề phát triển kinh tế biển đã có nhiều công trình nghiên cứu,
nhiều hội thảo khoa học cùng nhiều bài viết đăng tải trên các báo và tạp chí
bàn đến. Với những góc độ tiếp cận và cách lý giải khác nhau mà lý luận về
kinh tế biển cũng như những giải pháp thiết thực cho sự phát triển kinh tế
biển đã được đưa ra.
- Ngày 11/12/2007, được sự tài trợ của tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc
tế (IUCN) và trung tâm Phát triển cộng đồng (MDC), Viện Khoa học xã hội
Việt Nam phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã
tổ chức hội thảo về “Tầm nhìn kinh tế biển và phát triển thủy sản Việt Nam”.
Nhiều tham luận có giá trị về tư duy và thực tiễn đã góp phần sáng tỏ tiềm
năng và hạn chế của chúng ta về kinh tế biển. Tiêu biểu như tham luận “Phát
triển kinh tế gắn với an ninh trên biển” của TS. Nguyễn Việt Thắng, Thứ
trưởng thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam; tham
luận “Giải pháp thực hiện chiến lược kinh tế biển” của PGS. TS. Bùi Tất
Thắng, Viện Chiến lược phát triển; tham luận “Tổ chức không gian biển” của
PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi, Viện trưởng Viện Kinh tế và quy hoạch thủy sản;
tham luận “Phát huy 6 lĩnh vực kinh tế biển” của TS. Nguyễn Thiết Hùng,
nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa; tham luận “Vùng biển tăng cường
hội nhập” của PGS. TSKH. Võ Đại Lược, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế

Đảng bộ thành phố Hải Phòng do đồng chí Nguyễn Văn Thành- Bí thư Thành
uỷ Hải Phòng làm trưởng đoàn, gửi đến Đại hội Báo cáo tham luận với chủ đề
“ Phát triển kinh tế biển trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
nhìn từ thực tiễn thành phố Hải Phòng”. Bản tham luận trình bày nhận thức
về vị trí của kinh tế biển đối với các quốc gia ven biển và từng địa phương,
những kết quả về phát triển kinh tế biển trong thời gian qua nhìn từ thực tiễn
Hải Phòng, cũng như những yếu tố tác động đến kinh tế biển Hải Phòng, đồng
thời xác định những mục tiêu và đề xuất những giải pháp cụ thể để phát triển
kinh tế biển Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên để phù hợp với quan điểm và định hướng phát triển kinh tế
biển Hải Phòng giai đoạn 2012 - 2020 cần phải có những đánh giá tổng quát
và những nhóm giải pháp cụ thể hơn nữa.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
a) Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Tác giả thực hiện đề tài “Phát triển kinh tế biển ở Hải Phòng trong điều
kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế” với mục tiêu tổng hợp những
vấn đề lý luận về kinh tế biển, đồng thời đi sâu nghiên cứu, đánh giá đúng
Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

4


Khoá luận tốt nghiệp
thực trạng, nguyên nhân cũng như những thành công và hạn chế của phát triển
kinh tế biển ở Hải Phòng trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay. Từ đó xác
định mục tiêu, phương hướng và đề xuất giải pháp cho phát triển kinh tế biển
ở Hải Phòng giai đoạn 2012 - 2020.
b) Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Đề tài trình bày hệ thống những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế
biển trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế: khái niệm kinh

biện chứng, phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp lôgic và lịch
sử, diễn dịch và quy nạp... Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp: phân tích,
tổng hợp, so sánh, điều tra và khảo sát thực tế.
6. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Khóa luận trình bày một cách khái quát nhất những lý luận và vấn đề
xung quanh kinh tế biển Hải Phòng trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế trên cơ sở tìm hiểu cụ thể về từng lĩnh vực kinh tế biển.
Khóa luận đưa ra những phân tích, đánh giá quá trình phát triển kinh tế
biển ở Hải Phòng giai đoạn từ năm 2005 đến nay.
Đặc biệt, khóa luận đề xuất những phương hướng, giải pháp cụ thể, khả
thi để phát triển kinh tế biển ở Hải Phòng giai đoạn 2012 - 2020.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các
chữ viết tắt, mục lục, khóa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Kinh tế biển và sự cần thiết của việc phát triển kinh tế biển
trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế biển ở Hải Phòng
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển ở Hải
Phòng giai đoạn 2012 - 2020

Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

6


Khoá luận tốt nghiệp

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KINH TẾ BIỂN VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN



Khoá luận tốt nghiệp
- Các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu bao gồm: (1) Kinh tế
hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); (2) Hải sản (đánh bắt và nuôi
trồng hải sản); (3) Khai thác dầu khí ngoài khơi; (4) Du lịch biển; (5) Làm
muối; (6) Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; và (7) Kinh tế đảo.
- Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không
phải diễn ra trên biển nhưng chúng nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ
các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: (1) Đóng và sửa
chữa tàu biển (hoạt động này cũng được xếp chung vào lĩnh vực kinh tế hàng
hải); (2) Công nghiệp chế biến dầu, khí; (3) Công nghiệp chế biến thuỷ, hải
sản; (4) Cung cấp dịch vụ biển; (5) Thông tin liên lạc biển; (6) Nghiên cứu
khoa học - công nghệ biển; (7) Đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế
biển; và (8) Điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển.
1.1.1.2. Toàn cầu hoá
Quan niệm thứ 1: Toàn cầu hoá về bản chất là sự mở rộng thị trường ra
ngoài biên giới quốc gia (theo GS Văn Như Cương, tạp chí trí tuệ)
Quan niệm thứ 2: Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan, là thành quả
của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và nền kinh tế thị trường thế giới ở
mức độ cao. Mặc dù hiện nay quá trình này đang do các nước tư bản phát
triển chi phối nhưng toàn cầu hoá là sản phẩm của nền văn minh nhân loại,
tạo cơ hội cho tất cả các nước tham gia vào quá trình kinh tế (theo tham luận
trong hội thảo khoa học về toàn cầu hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
của nước ta)
“Toàn cầu hoá là một quá trình trong đó những mối quan hệ quốc tế vượt
qua mọi biên giới quốc gia, vươn tới quy mô toàn thế giới với một trình độ và
chất lượng mới khác với quá trình quốc tế hoá từ nửa đầu thế kỉ XX trở về
trước”
Hay nói tóm lại “Toàn cầu hoá là bước phát triển cao của quá trình quốc

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình mà bất cứ một quốc gia nào cũng
muốn tham gia để làm lớn mình. Nó mang trong đó những nội dung được
thoả thuận và đồng tình của các quốc gia.
Việt Nam là quốc gia đang phát triển có thu nhập thấp, năng suất lao
động và hiệu quả sản xuất thấp, sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp
và sản xuất còn yếu... nguy cơ tụt hậu ngày càng xa đang là hiện thực.

Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

9


Khoá luận tốt nghiệp
Trong tình hình đó, hội nhập kinh tế quốc tế giúp nước ta có cơ hội lớn để
thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
+ Trước hết, giúp Việt Nam mở rộng thị trường, tăng quy mô xuất
khẩu. Bởi vì, tự do hóa thương mại có hai mặt, một mặt, ta phải mở cửa thị
trường cho các đối tác, mặt khác, các nước cũng phải mở cửa thị trường cho
nước ta ở mức độ tương tự, giúp hàng xuất khẩu của nước ta có điều kiện
thuận lợi hơn khi thâm nhập thị trường thế giới.
+ Tự do hóa kinh tế theo các cam kết quốc tế sẽ kích thích khả năng
cạnh tranh của các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam, từ đó có
thể khắc phục được các khiếm khuyết trong việc phân bổ và sử dụng các
nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả hơn.
+ Mặt khác, việc giảm bớt sự bảo hộ của Nhà nước vào nền kinh tế tạo
ra động lực, sức ép buộc các chủ thể kinh tế thị trường đổi mới quản lý, công
nghệ, cải tiến sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên để quá trình hội nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng thì
cũng đặt ra nhiều cơ hội lớn và thách thức không nhỏ đối với kinh tế Việt
Nam.

đảm nhiệm hầu hết lượng hàng ngoại thương của ta và hỗ trợ một phần việc
trung chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của Lào, góp phần đưa nước ta từng
bước tiếp cận và hội nhập kinh tế thế giới. Hơn 80% khối lượng hàng hóa
xuất nhập khẩu ở Việt Nam được vận chuyển thông qua hệ thống cảng biển.
Trình độ, năng lực đóng, sửa chữa tàu so với trước đây đã có tiến bộ
vượt bậc, hiện đại hóa một bước theo hướng tập trung quy mô lớn, bước đầu
có phân công chuyên môn hóa, vươn ra đóng tàu cỡ lớn, chuyên dùng đạt chất
lượng đăng kiểm quốc tế. Một số doanh nghiệp đang đầu tư lớn, hiện đại để
đóng tàu lớn (3 - 5 vạn tấn). Có thể nói, chưa bao giờ ngành đóng tàu phát
triển mạnh mẽ như bây giờ, chưa bao giờ trình độ đóng tàu của ta đạt ngang
trình độ quốc tế như bây giờ. Đến năm 2010, tập đoàn VINASHIN sẽ xây
dựng và nâng cấp 10 tổng công ty đóng tàu lớn nhất, mà hiện đang đóng được
tàu 100.000 tấn.
* Đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản
Có thể nói trong số những lợi ích mà biển mang lại, kinh tế thủy, hải sản
chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, đan xen giữa những lợi ích trước mắt và lợi
ích lâu dài theo ý nghĩa đầy đủ của nó.

Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

11


Khoá luận tốt nghiệp
Thủy sản là nguồn tài nguyên tái tạo, kinh tế thủy sản phát triển dựa trên
nền tảng của các hệ sinh thái, cho nên còn biển thì còn thủy sản. Nước ta đi
lên từ xuất phát điểm thấp của nền kinh tế còn nghèo nàn và lạc hậu, thì thủy
sản lại càng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo và cải thiện sinh kế
cho các cộng đồng dân cư sống ở các vùng nông thôn ven biển và hải đảo.
Phát triển thủy sản, ngoài ý nghĩa đóng góp cho nền kinh tế quốc dân, còn là

Qua tìm kiếm thăm dò cho đến nay, các tính toán dự báo đã khẳng định
tiềm năng dầu khí Việt Nam tập trung chủ yếu ở thềm lục địa. Với trữ lượng
đã được thẩm định, nước ta có khả năng tự đáp ứng được nhu cầu về sản
lượng dầu khí trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI. Số liệu Bộ ngoại
giao Việt Nam cho biết: Tổng tiềm năng dầu khí tại các bể trầm tích: Sông
Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Ma Lay - Thổ Chu, Vùng Tư
Chính - Vũng Mây… đã được xác định tiềm năng và trữ lượng đến thời điểm
này là từ 0,9 đến 1,2 tỷ m3 dầu và từ 2.100 đến 2.800 tỷ m3 khí. Trữ lượng đó
được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m 3 khí. Trữ lượng khí
đã được thẩm lượng, đang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời
gian tới vào khoảng 400 tỷ m3. Với các biện pháp đồng bộ, đẩy mạnh công tác
tìm kiếm - thăm dò, khoảng từ 40 đến 60% trữ lượng nguồn khí thiên nhiên
của nước ta sẽ được phát hiện đến năm 2013.
Trong gần 20 năm vừa qua, sản lượng dầu mỏ khai thác và xuất khẩu của
Việt Nam liên tục gia tăng với tốc độ bình quân đạt gần 15%/năm. Tính từ
năm 1990 đến năm 2006, Việt Nam đã khai thác và xuất khẩu hơn 190 triệu
tấn dầu thô, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế đất
nước. Số liệu cụ thể về sản lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam trong các
năm từ 1990 đến 2006 cụ thể như sau:

Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

13


Khoá luận tốt nghiệp
Bảng 1.1: Sản lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam, 1990 - 2006
Đơn vị: Triệu tấn

Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2006

triệu tấn dầu thô/năm và đã hoạt động vào năm 2011, với tổng vốn đầu tư
2,488 tỷ USD.
- Nhà máy sản xuất đạm Phú Mỹ với tổng vốn đầu tư 445 triệu USD, là
công trình hóa dầu lớn nhất của Việt Nam. Sự ra đời của nhà máy này đánh
dấu bước phát triển của ngành công nghiệp hóa dầu Việt Nam.
- Nhà máy lọc dầu Dung Quất xây dựng tại hai xã Bình Trị và Bình
Thuận trong khu kinh tế Dung Quất, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi với
công suất thiết kế 6,5 triệu tấn dầu thô/năm.
Theo số liệu thống kê, xuất khẩu dầu thô của Việt Nam tháng 12/2009
đạt 712,6 nghìn tấn với kim ngạch 427,6 triệu USD, tăng 8,3% về lượng và
tăng 4,2% về trị giá so với tháng trước, nâng tổng lượng dầu thô xuất khẩu
của Việt Nam năm 2009 đạt 13.373 nghìn tấn với trị giá 6,2 tỉ USD, giảm
2,8% về lượng và giảm 40,2% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
Nguồn tin Reuteur dẫn báo cáo hàng tháng của Tổng cục Thống kê, ước
tính năm 2011 Việt Nam sản xuất 15,18 triệu tấn dầu thô (tương đương
305.000 thùng dầu/ngày), tăng 1,1% so với năm 2010, trong đó sản lượng dầu
thô tháng 12/2011 ước đạt 1,42 triệu tấn tăng 4% so với cùng tháng năm
ngoái. Sản lượng thực tế trong tháng 11/2011 tăng lên mức 1,41 triệu tấn so
với ước tính trước đây là 1,4 triệu tấn, tăng 7,6% so với 1,31 triệu tấn tháng
Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

15


Khoá luận tốt nghiệp
11/2010. Xuất khẩu dầu thô của Việt Nam trong năm 2011 ước tính tăng
3,6% so với cùng kì năm trước, đạt 8,27 triệu tấn tương đương 166.000 thùng
dầu/ngày. Tập đoàn dầu khí Việt Nam Petro tăng kế hoạch sản xuất năm
2012 lên 15,8 triệu tấn ( tương đương 317.500 thùng dầu/ngày), tăng 5,3% so
với năm 2011 vì mở rộng sản xuất ngoài biển

8.400.000
116,15

8.266.700
17.666.600

3,6
10.9

N/A
13.500.000

Nguồn: Theo Vinanet.
Bộ Công nghiệp hiện đang cùng các Bộ, ngành liên quan xây dựng và
hoàn thiện chiến lược phát triển ngành dầu khí đến năm 2015, định hướng
đến năm 2025, chủ trì xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, quy phạm
kỹ thuật về dầu khí, quy hoạch phát triển ngành năng lượng Việt Nam, đồng
thời tích cực tham gia tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về cơ chế chính sách
cho dầu khí.
* Du lịch biển
Với ưu thế nổi trội do những dịch vụ như: nghỉ mát, tắm biển, chăm sóc
sức khỏe, bơi thuyền, lướt sóng... mang lại mà du lịch biển trở thành một lĩnh
vực phát triển hàng đầu ở những tỉnh, thành phố biển. Nhiều bờ biển, bãi tắm
ở Việt Nam được đánh giá cao như: Đồ Sơn, Cát Bà, Sầm Sơn, các bãi biển ở
Đà Nẵng, Vũng Tàu, Nha Trang, Cửa Lò...
Vùng biển và ven biển của Việt Nam tập trung tới ba phần tư khu du lịch
tổng hợp và 10/17 khu du lịch chuyên đề của cả nước. Hàng năm, vùng biển
Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

16

Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

17


Khoá luận tốt nghiệp
khu vực trọng điểm du lịch tăng nhanh, riêng khu vực Quảng Ninh - Hải
Phòng và Huế - Đà Nẵng tăng 41%/ năm; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 22,6%.
Đối với khách du lịch nội địa, biển thu hút tới trên 50% số lượt, với tốc
độ tăng trung bình thời kỳ 2000 - 2008 là 20%/năm. Năm 2002 đạt 10,8 triệu
lượt khách và năm 2006 lên đến 15 triệu lượt khách. Năm 2008, Việt Nam đã
đón 4,218 triệu lượt khách quốc tế, con số này năm 2009 là 3,8 triệu lượt,
giảm 11%. Lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 2010 là 4,5-4,6
triệu lượt, số lượt khách du lịch nội địa là 28 triệu lượt năm 2010, tăng 12%
so với năm 2009. Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2009 đạt từ 68.000
đến 70.000 tỷ đồng. Theo dự báo của Tổng cục du lịch Việt Nam, năm 2015
ngành du lịch Việt Nam sẽ thu hút 7-8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu
khách nội địa, con số tương ứng năm 2020 là 11-12 triệu khách quốc tế; 4548 triệu khách nội địa. Doanh thu từ du lịch sẽ đạt 18-19 tỷ USD năm 2020.
Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam từ nhiều năm nay, cũng đang bị báo
động về nạn "chặt chém", bắt nạt du khách, hạ tầng cơ sở yếu kém và chất
lượng dịch vụ kém, tạo ấn tượng xấu với du khách.
* Nghề làm muối
Với 3.000 km bờ biển và khí hậu nhiệt đới, Việt Nam là quốc gia có tiềm
năng lớn về sản xuất muối.
Nghề làm muối là một nghề có truyền thống lâu đời của Việt Nam, gắn
chặt với biển và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết. Trong
những năm qua, mặc dù điều kiện thời tiết không thuận lợi, song nhờ những
bước tiến mới trong công tác quy hoạch, đầu tư sản xuất muối, đặc biệt là
muối công nghiệp, cho nên nghề muối Việt Nam đã phần nào giảm bớt những
khó khăn. Cả nước hiện có 20 tỉnh thành có nghề sản xuất muối biển với tổng

quan nổi, quanh đảo cũng quy tụ các hệ sinh thái quan trọng đối với nguồn lợi
hải sản, đối với phát triển nghề cá và du lịch sinh thái biển. Ngoài ra, một số
vùng đảo cũng có lợi thế vị trí địa lý để phát triển dịch vụ cảng biển, hàng hải.
Quy hoạch phát triển kinh tế hải đảo cần dựa vào thế mạnh của từng nơi,
đặt trong tư duy tổng thể phát triển hệ thống đảo và từng vùng biển, cũng như
góc độ địa kinh tế, địa chính trị và các vấn đề xã hội. Đối với các đảo nhỏ,
đảo hoang sơ thì phát triển kinh tế đảo gắn với bảo tồn thiên nhiên, du lịch
sinh thái biển đảo. Đối với các đảo đông dân như Phú Quốc, Vân Đồn, Côn
Đảo, Cát Bà, Lý Sơn... thì xây dựng thành các trung tâm kinh tế hải đảo toàn
Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

19


Khoá luận tốt nghiệp
diện, dưới dạng “khu kinh tế mở”... Gần đây, kinh tế trên một số đảo đã có
bước phát triển nhờ chính sách di dân và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên
các đảo (hệ thống giao thông, mạng lưới điện, cung cấp nước ngọt, trường
học, bệnh xá...).
Có thể thấy những vấn đề phát triển kinh tế đảo ngày càng được quan
tâm và đã đạt những thành tựu đáng kể.
1.1.3. Đặc điểm của kinh tế biển
1.1.3.1. Không gian kinh tế biển rộng mở
Các nguồn lực phát triển của biển là đa dạng, vô tận. Biển không chỉ có
các nguồn lực vật thể - vật lý mà tài nguyên biển còn bao gồm các chiều
không gian, vị thế địa - chiến lược và thế mở của nền kinh tế (biển là không
gian “mặt tiền”).
Khác với trên đất liền, không gian kinh tế biển khá rộng mở, đa dạng
và luôn tác động tương hỗ lẫn nhau. Kinh tế biển có 4 mảng không gian:
không gian ven biển, ven bờ; không gian biển; không gian đảo; không gian

nước ven bờ đại dương phải hứng chịu những cơn bão khủng khiếp như bão
Katrina ở Florida (Mỹ), bão Chanchu ở Trung Quốc, bão Damrey ở Việt
Nam... Thời tiết là yếu tố tác động to lớn đến phát triển kinh tế biển, đặc biệt
là du lịch biển, làm muối, đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản. Nước
ta là một trong năm nước chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu và
dâng cao mực nước biển, trước hết là vùng ven biển và các đảo nhỏ. Các hệ
sinh thái ven biển, các giá trị dịch vụ của chúng, người dân ven biển và trên
các đảo là những đối tượng dễ bị tổn thương và bị tác động mạnh mẽ nhất,
nhưng đến nay còn thiếu những nghiên cứu cụ thể, cũng như chưa có giải
pháp lồng ghép và mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu và dâng cao mực
nước biển. Có thể thấy được mức độ ảnh hưởng to lớn của thời tiết, cụ thể là
một số cơn bão lớn đến đời sống và phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Bão Xangsane
Bão Xangsane (con voi lớn) là một cơn bão mạnh được hình thành từ
vùng biển phía Đông Philippines cuối tháng 9 năm 2006. Khi vào đến Việt
Nam còn được gọi là bão số 6, ảnh hưởng mạnh đến các tỉnh miền Trung.

Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

21


Khoá luận tốt nghiệp

Hình 1.1.Bản đồ toàn cảnh đường đi của cơn bão.

Hình 1.2. Cơn bão đổ bộ vào bờ biển Đà Nẵng đến Quảng Ngãi ngày
1/10/2006.

Nguyễn Thị Loan – QLKT K28


24


Khoá luận tốt nghiệp
Bão Ketsana
Ngày 26/9/2009, một áp thấp nhiệt đới đã mạnh lên thành bão mang tên
quốc tế Ketsana, tức bão số 9 của Việt Nam. Đây là cơn bão được so sánh
ngang với siêu bão Xangsana.

Hình 1.8. Hậu quả bão số 9 tại Đà Nẵng.

Hình 1.9. Bão Ketsana đổ bộ vào miền Trung.

Nguyễn Thị Loan – QLKT K28

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status