ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
CHU NGỌC QUỲNH
SỬ DỤNG BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VÀ BẢO TÀNG
MĨ THUẬT VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH SƢ PHẠM LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
CHU NGỌC QUỲNH
SỬ DỤNG BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VÀ BẢO TÀNG
MĨ THUẬT VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH SƢ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN LỊCH SỬ
Mã số: 60 14 01 11
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Thanh Tú
HÀ NỘI – 2015
THPT
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Ý kiến đánh giá của GV về mức độ hiệu quả của việc tổ chức hoạt động
ngoại khóa Lịch sử tại bảo tàng cho HS THPT (%) .................................................33
Bảng 1.2: Ý kiến đánh giá của HS về mức độ hiệu quả của việc sử dụng Bảo tàng
Mĩ thuật Việt Nam trong học tập Lịch sử (%) .........................................................35
Bảng 1.3: Tổng hợp ý kiến đề xuất của HS về hình thức sử dụng Bảo tàng Dân tộc
học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử (%) ..............................40
Bảng 2.1: Ý kiến đánh giá của HS về sự phù hợp của các hoạt động trong dự án
“Tìm kiếm tài năng Việt Nam” (%) ..........................................................................86
Bảng 2.2: Ý kiến đánh giá của HS về sự phù hợp của các hoạt động trong chương
trình ngoại khóa “Hồn quê đất Việt” (%) .................................................................89
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Mức độ quan tâm của HS các trường THPT (Nhóm 1) đối với Bảo
tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam (%) .............................................38
Biểu đồ 1.2: Các hoạt động ngoại khóa Lịch sử HS đã từng được ...........................39
tham gia tại bảo tàng (%) ..........................................................................................39
iv
2.2. Khảo sát nguồn tài liệu tại Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật
Việt Nam ...............................................................................................................47
2.2.1. Khảo sát nguồn tài liệu tại Bảo tàng Dân tộc học ................................47
2.2.2. Khảo sát nguồn tài liệu tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam .....................51
2.3. Các biện pháp sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt
Nam .......................................................................................................................59
2.3.1. Trong hoạt động ngoại khóa ..................................................................60
2.3.2. Trong bài nội khóa .................................................................................72
2.4. Thử nghiệm sƣ phạm ...................................................................................80
2.4.1. Mục đích ..................................................................................................80
2.4.2. Đối tượng và địa bàn thử nghiệm ..........................................................80
2.4.3. Nội dung, phương pháp và tiến trình thử nghiệm ................................81
2.4.4. Kết quả thử nghiệm ................................................................................82
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2......................................................................................91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .........................................................................92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................95
PHỤ LỤC .................................................................................................................98
vi
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi giáo dục phổ thông phải đào
tạo những con người phát triển toàn diện, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hóa. Yêu cầu này được cụ thể hóa trong Luật giáo dục năm 2005, được Quốc
hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua (sửa đổi, bổ
sung năm 2010): “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
Nhiệm vụ giáo dục con người là nhiệm vụ chung cho toàn xã hội. Do đó, tất cả các
bảo tàng đều có trách nhiệm giáo dục công chúng mà bảo tàng phục vụ.
Hà Nội – nơi tập trung những bảo tàng lớn của cả nước. Mỗi bảo tàng đều có
nội dung trưng bày khác nhau nên đều có ưu thế riêng trong việc phục vụ công tác
dạy và học tập Lịch sử. Trong đó, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thuộc Trung tâm
Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia với một khối lượng đồ sộ những tư liệu,
hiện vật được sưu tầm, bảo quản, bảo tàng góp phần quan trọng vào việc bảo tồn di
sản văn hóa, đồng thời, trở thành một trung tâm thông tin, tư liệu đặc thù, cho phép
tất cả mọi người trực tiếp quan sát, nghiên cứu các dân tộc trên mọi miền đất nước
ngay tại Thủ đô Hà Nội. Các hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học, trước hết
giúp học sinh hiểu thêm những sự kiện về đời sống văn hóa của các dân tộc mà các
em chưa có điều kiện tiếp cận nhiều trong chương trình, sách giáo khoa. Việc quan
sát các tài liệu, hiện vật được trưng bày ở đây giúp các em hiểu được toàn cảnh về
đời sống văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần của 54 dân tộc sống trên lãnh
thổ Việt Nam. Nếu như Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam giúp học sinh hiểu rằng:
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có nền văn hóa đa dạng trong thống nhất thì
đến với Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam, các em học sinh được tiếp cận với di sản
nghệ thuật, biết trân trọng những giá trị truyền thống, có kiến thức cơ bản để
thưởng thức văn hóa nghệ thuật dân tộc thông qua trên 18.000 tài liệu hiện vật đang
được trưng bày tại đây. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam với cấu trúc nội dung trưng
bày mạch lạc, khúc triết theo trục dọc thời gian của lịch sử mỹ thuật từ truyền thống
tới hiện đại, mà nét nổi bật là sự bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc có ý nghĩa trong
việc cung cấp cho học sinh những hiểu biết sâu sắc độc đáo về nền văn hóa và lịch
sử cộng đồng dân tộc Việt Nam.
2
Tuy nhiên, do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nên việc sử dụng nguồn
tư liệu, hiện vật của bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo
hành dạy học và tổ chức hoạt động ngoại khóa phù hợp tại bảo tàng cho HS ở
trường THPT.
Trong cuốn “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở
trường phổ thông” của Nguyễn Thị Côi (NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2006) đề
cập đến vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức tham quan học tập ở nhà bảo tàng lịch sử,
cách mạng, nhà truyền thống, di tích lịch sử cho học sinh ở trường trung học phổ
thông. Tác giả khẳng định, thông qua các hiện vật trưng bày hoặc đồ phục chế về
quá khứ giúp học sinh được trực quan sinh động những sự kiện lịch sử, làm giàu
cho các em những biểu tượng lịch sử cụ thể và là chỗ dựa để hình thành các kết
luận khái quát. Đặc biệt, học sinh được liên hệ kiến thức lý luận với thực tiễn, gắn
nhà trường với xã hội.
Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử” do Nguyễn
Thị Côi chủ biên (NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2011) đã đề cập đến ý nghĩa của
hoạt động ngoại khóa, rèn luyện năng lực tổ chức và cách thức tiến hành tổ chức
hoạt động ngoại khóa. Trong đó, tác giả có đưa ra ví dụ xây dựng kế hoạch hoạt
động ngoại khóa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Cuốn sách “Bảo tàng, di tích nơi khơi nguồn cảm hứng dạy và học Lịch sử
cho học sinh phổ thông” của tác giả Nguyễn Thị Kim Thành (NXB Giáo dục Việt
Nam, 2014) đã trình bày rất khái quát, dễ hiểu về mối quan hệ hỗ trợ giữa việc
truyền thụ kiến thức về lịch sử trong nhà trường với phương pháp tiếp cận mới
trong việc dạy và học Lịch sử từ bảo tàng và di tích. Tác giả với những trải nghiệm
từ thực tế của mình đã đưa những tri thức lịch sử, giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc vào trí não học sinh ở ngoài học đường mà trước hết là tại các bảo tàng, di
tích. Đặc biệt, cuốn sách đã trình bày rất rõ ràng tiến trình tổ chức ngoại khóa Lịch
sử tại bảo tàng thông qua hoạt động của Câu lạc bộ “Em yêu Lịch sử”.
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Xuyến về “Sử
dụng tư liệu gốc phần Lịch sử Thế giới (thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX) để biên
soạn sách giáo khoa Lịch sử trung học cơ sở sau năm 2015 (Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội) đã trình bày được vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu gốc trong
– Nguyễn Văn Phong, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội với đề tài: “Khai thác và sử
dụng tài liệu của bảo tàng, nhà truyền thống vào dạy học Lịch sử dân tộc ở trường
5
phổ thông” đã khái quát các hình thức, phương pháp khai thác, sử dụng tư liệu của
bảo tàng Lịch sử nói chung, nhà truyền thống nói riêng vào dạy học Lịch sử. Cụ thể
là giáo viên có thể tổ chức đưa học sinh đi tham quan bảo tàng; giáo viên khai thác
và sử dụng tư liệu để dạy học bài Lịch sử nội khóa tại bảo tàng hoặc ở trường phổ
thông; khai thác và sử dụng tư liệu để tổ chức các triển lãm, ra báo học tập nhân các
ngày lễ lớn của đất nước.
Tạp chí Di sản Văn hóa số 3 năm 2012, ThS. Nguyễn Kim Thành với đề tài:
“Các bảo tàng tại Hà Nội với việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử
trong các trường phổ thông” đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa bảo tàng với quá
trình dạy học Lịch sử. Từ đó, tác giả đi sâu phân tích những nỗ lực trong việc tổ
chức các hoạt động của một số bảo tàng tại Hà Nội để việc dạy học Lịch sử ở
trường phổ thông đạt được hiệu quả cao hơn như tổ chức tham quan bảo tàng, bảo
tàng phối hợp với nhà trường trình bày lưu động, bảo tàng tích cực tổ chức các hình
thức câu lạc bộ, phòng khám phá để thu hút HS đến tham gia.
Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 29 (90) tháng 8/2013, TS. Hoàng Thanh Tú –
Chu Ngọc Quỳnh với đề tài: “Xây dựng chương trình hoạt động ngoại khóa Lịch sử
tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam” đã nhấn mạnh được vị trí và vai trò của Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam trong việc cung cấp kiến thức, phát triển kĩ năng và
giáo dục thái độ cho HS; trên cơ sở tìm hiểu thực trạng sử dụng bảo tàng này trong
dạy học Lịch sử, tác giả tiến hành xây dựng các chương trình hoạt động ngoại khóa
Lịch sử phù hợp với đối tượng HS lớp 10 THPT.
Như vậy, thông qua tìm hiểu một số tài liệu có liên quan đến đề tài, chúng
tôi thấy rằng các tác giả đã đề cập đến vai trò, ý nghĩa của bảo tàng trong dạy học
Lịch sử; đánh giá được thực trạng sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử; xác định
quả thực nghiệm tại trường THPT, chúng tôi đưa ra kết luận cải tiến phương pháp
sử dụng bảo tàng hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử
ở trường THPT.
4.2. Nhiệm vụ
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc sử dụng tư liệu của bảo tàng nói chung và
Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử
ở trường trung học phổ thông.
7
- Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học Lịch sử nói chung, thực trạng sử
dụng tư liệu của bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật
Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử.
- Nghiên cứu nội dung phần Lịch sử Việt Nam lớp 10 và đề xuất biện pháp
sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch
sử.
- Thử nghiệm và đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi các biện pháp sử dụng
Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận: dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa
Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta
về lịch sử, giáo dục.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết: đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu sách báo, tạp chí,
internet… về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học LS; phân tích nội
dung chương trình, SGK lớp 10.
- Nghiên cứu thực tiễn: quan sát, dự giờ, trao đổi với giáo viên, học sinh,
điều tra xã hội học để đánh giá về thực trạng sử dụng tư liệu của bảo tàng nói chung
và Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tư liệu của Bảo tàng
trong dạy học Lịch sử ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Các biện pháp sử dụng tư liệu của Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam (Lớp
10, chương trình chuẩn)
9
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢO TÀNG
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG THPT
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Quan niệm về sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử tại trường
THPT
Bảo tàng là “thứ học đường đặc biệt, là nơi giải trí tích cực, chơi mà học,
học mà chơi…”. Được học tập tại bảo tàng, HS dễ dàng ghi nhớ được nội dung kiến
thức cơ bản thông qua những tài liệu, hiện vật gốc, những sa bàn, tranh ảnh minh
họa, sơ đồ… được trưng bày một cách có hệ thống. Tất cả những tài liệu, hiện vật
đó được trưng bày ở bảo tàng góp phần quan trọng trong việc hình thành, bổ sung
kiến thức lịch sử cho HS. Bảo tàng “là một trung tâm thông tin, có lượng thông tin
nguyên gốc, chính xác, phong phú, dễ tiếp cận và được nhận thức bằng phương tiện
trực quan, sinh động” [7; tr.173]. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: bảo
tàng “cũng như một cuốn sử… cho ta thấy rõ ông cha ta đã khó nhọc như thế nào
mới xây dựng nên đất nước tươi đẹp ngày nay” [18, tr.1].
Bàn về quá trình nhận thức của con người, V.I Lênin đã viết: “Từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con
đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”.
dạy học tại bảo tàng.
Ở nước ta có rất nhiều bảo tàng, bên cạnh các bảo tàng Quốc gia còn có
những bảo tàng ở địa phương. Tính riêng Thủ Đô Hà Nội - nơi tập trung những bảo
tàng lớn của cả nước đã có trên 120 bảo tàng. Mỗi bảo tàng đều có nội dung trưng
bày khác nhau nên đều có ưu thế riêng của mình trong việc phục vụ công tác dạy và
học tập Lịch sử. Bảo tàng có nhiều loại: bảo tàng lịch sử nói chung, trong đó bao
gồm Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Quân đội Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí
Minh...; các bảo tàng nghệ thuật như Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam...; bảo tàng
chuyên ngành như Bảo tàng Phụ nữ, Bảo tàng Phòng không - Không quân, Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam...; các bảo tàng lịch sử tự nhiên (động vật học, thực vật
học, hải dương học); các bảo tàng lưu niệm (bảo tàng ở di tích số 5D Hàm Long, 48
Hàng Ngang – Hà Nội...); các bảo tàng địa phương. Tư liệu của các bảo tàng trên là
11
những phương tiện trực quan – một nguồn kiến thức vô giá, phục vụ rất tốt việc dạy
học một số bộ môn ở trường THPT, đặc biệt là môn học Lịch sử.
Sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử được hiểu là việc mà GV các trường
THPT phối hợp với Ban quản lý bảo tàng và ngược lại để sử dụng các tư liệu, hiện
vật, không gian của bảo tàng trong việc tổ chức hoạt động ngoại khóa và dạy bài
nội khóa nhằm liên hệ kiến thức lịch sử trên sách vở với thực tế lịch sử. Có thể nói
rằng dạy học Lịch sử mà không gắn với bảo tàng cũng giống như việc đi bơi mà
không có hồ bơi, nấu ăn mà không có bếp vậy. Sử dụng bảo tàng trong dạy học
Lịch sử sẽ giúp cho HS được trải nghiệm, cảm nhận được Lịch sử không phải là
những gì đã diễn ra trong quá khứ, xa rời thực tại, cũng không phải là những điều
đã được khám phá xong và các em chỉ còn việc học thuộc lòng. Ngược lại, lịch sử
rất đỗi gần gũi và các tư liệu đang được trưng bày trong bảo tàng tuyệt đối không
định mức được giá trị. Nó chỉ có giá trị khi HS phải tự tìm hiểu, tự khám phá và trải
nghiệm với nó.
của người xưa, thành quách, cung điện... Ví dụ: công cụ sản xuất, vũ khí, đồ đựng...
được trưng bày tại Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam; công cụ săn bắt, trang phục, nhà
ở... của các dân tộc được trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học. Tư liệu vật chất mang
ý nghĩa cực kì quan trọng, nó phản ánh thời kì dài của lịch sử khi mà chưa xuất hiện
chữ viết, đồng thời mang tính khách quan trung thực lớn. Khi đã có chữ viết, tư liệu
vật chất bổ sung về mặt nhận thức làm cho nhận thức của chúng ta chính xác hơn
các loại tư liệu chữ viết, bổ sung và kiểm tra các loại tư liệu chữ viết đã đúng chưa
và đúng ở mức độ nào. Ngày nay, với sự hỗ trợ của khoa học kĩ thuật, số lượng tư
liệu vật chất tăng lên, cực kì phong phú, đa dạng, chúng ta khai quật được nhiều
hơn tư liệu vật chất của các thời kì lịch sử và giải mã được những bí ẩn của nhân
loại thời kì trước kia. Tuy nhiên, đây là loại tư liệu “câm”, tự bản thân nó không nói
lên được điều gì vì thế chỉ khi nào được các nhà khoa học nghiên cứu được thì
chúng ta mới biết thông tin về tư liệu. Loại tư liệu này thường được bảo quản trong
các nhà kho, viện bảo tàng nên gây khó khăn cho việc tiếp xúc trực tiếp.
Tư liệu hình ảnh gồm tranh, ảnh được chụp lại, vẽ lại tại thời điểm xảy ra sự
kiện lịch sử. Ví dụ như các tác phẩm hội họa, tranh ảnh được trưng bày tại Bảo tàng
Mĩ thuật Việt Nam; hình ảnh trưng bày trong không gian “Góc nhìn chéo” thể hiện
sự giao lưu văn hóa Việt Nam - Pháp tại Bảo tàng Dân tộc học. Đây là tư liệu đặc
13
biệt giúp người quan sát có thể tri giác được lịch sử qua hình ảnh lịch sử. Loại tư
liệu này giúp chúng ta tái hiện lại bức tranh lịch sử một cách sinh động cụ thể và
mang tính trực quan cao.
Tư liệu băng ghi âm, ghi hình là loại tư liệu xuất hiện cùng với xã hội hiện
đại. Ví dụ như các đoạn phim tư liệu về lễ Lẩu then của người Tày, tang ma của
người Mường, lễ hiến sinh trâu của người Ba-na...được lưu trữ và chiếu cho du
khách đến Bảo tàng Dân tộc học. Loại tư liệu này giúp chúng ta “nghe”, “nhìn”
hiện thực lịch sử. Nó ghi lại một cách chân thực và tái hiện gần như đầy đủ các sự
(ICOM), năm 1946) đóng một vai trò và có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên
những biểu tượng sinh động, chính xác về lịch sử quá khứ.
Về việc cung cấp kiến thức cho học sinh
Trước hết, sử dụng tư liệu của bảo tàng có ý nghĩa to lớn trong việc hình
thành kiến thức lịch sử cho HS. Khi được trực tiếp quan sát các tài liệu, hiện vật
trong bảo tàng, HS dễ ghi nhớ nội dung kiến thức cơ bản của bài học thông qua
những tài liệu, hiện vật gốc… được trưng bày một cách có hệ thống. Không chỉ
dừng lại ở việc quan sát những biểu hiện bên ngoài của tài liệu, hiện vật mà HS còn
có thể đi sâu tìm hiểu bản chất bên trong của tài liệu, hiện vật đó. Thông qua việc
tìm hiểu tư liệu của bảo tàng các em còn có khả năng vận dụng những hiểu biết và
kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn hàng ngày.
Hiện nay ở nước ta hệ thống bảo tàng từ Trung ương đến địa phương được
xây dựng tương đối hoàn chỉnh. Mỗi bảo tàng có nội dung trưng bày khác nhau nên
sẽ có những ưu thế riêng của mình trong việc phục vụ công tác dạy và học tập Lịch
sử. Trong đó, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với một khối lượng đồ sộ những tư
liệu, hiện vật được sưu tầm và bảo quản (gần 25.000 hiện vật văn hóa, trong đó bao
gồm các hiện vật và các tư liệu nghe nhìn) là những đồ dùng sinh hoạt hàng ngày
của 54 dân tộc trên lãnh thổ nước ta, từ những hiện vật nhỏ như cái kim, đôi hoa tai,
chiếc nhẫn… đến những hiện vật lớn như những ngôi nhà sàn (diện tích 50 - 70m2 ).
Bên cạnh những hiện vật gốc là chủ yếu còn có những tranh ảnh, bản đồ, khu tái tạo
và băng ghi hình cũng được sử dụng khá rộng rãi. Tất cả đều được sắp xếp một
cách có hợp lý trong một không gian chung tạo ra sự gần gũi, thân thiết giữa các
dân tộc Việt Nam. Bảo tàng góp phần quan trọng vào việc bảo tồn di sản văn hóa,
đồng thời trở thành một trung tâm thông tin, tư liệu đặc thù, cho phép chúng ta trực
15
tiếp quan sát, nghiên cứu tất cả các dân tộc trên mọi miền đất nước ngay tại Thủ đô
Hà Nội. Các hiện vật trưng bày trong bảo tàng cho thấy mỗi dân tộc đều mang một
được khám phá nhiều khía cạnh đời sống vật chất và đời sống tinh thần của gia
đình, dòng họ, của quê hương, đất nước. Có thể khẳng định rằng những tác phẩm
mỹ thuật Việt Nam từ ngàn xưa đến nay là những bức tranh “thu nhỏ” chứa đựng
giá trị lịch sử với phong cách Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc mà mỗi em HS có
thể tìm hiểu, khám phá và trải nghiệm.
Về việc hình thành, phát triển kĩ năng cho học sinh
Khi tri giác các tài liệu, hiện vật của bảo tàng học sinh không chỉ quan sát
những biểu hiện bên ngoài mà còn phải phân tích, đối chiếu, so sánh... để hiểu bản
chất bên trong của tư liệu. Dưới sự hướng dẫn của GV, nhân viên bảo tàng và dựa
trên cơ sở quan sát tài liệu, hiện vật của bảo tàng, HS được rèn luyện các kĩ năng
thực hành bộ môn như: kĩ năng quan sát, miêu tả, giới thiệu nội dung tranh ảnh, bản
đồ, hiện vật… một cách ngắn gọn, súc tích, rõ ràng và từ đó các em biết rút ra kết
luận về bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử, biết vạch ra những mối liên hệ
giữa các hiện tượng và từ đó được nâng cao hứng thú học tập.
Khi tiến hành tổ chức hoạt động học tập tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
thông qua các hình ảnh, hiện vật của bảo tàng sẽ giúp các em hình thành được
những kĩ năng cơ bản nêu trên. Ví dụ, khi quan sát tượng nhà mồ, mô hình nhà rông
của các dân tộc Tây Nguyên. Giáo viên có thể đưa ra câu hỏi: “Em có nhận xét gì
về nhà mồ của các dân tộc ở Tây Nguyên?”. Học sinh quan sát mô hình và có thể
miêu tả lại. Để tiếp tục phát triển tư duy cho học sinh giáo viên có thể hỏi
thêm:“Tại sao người Gia Rai lại xây dựng những ngôi nhà mồ?”, “Tại sao họ lại
dựng các tượng gỗ xung quanh nhà mồ?”, “ Tại sao tượng lại được đẽo theo hình
các con vật hay phụ nữ mang thai?”… Học sinh quan sát mô hình và suy nghĩ trả
lời, sau đó lắng nghe lời giải thích của giáo viên: Sở dĩ người Gia Rai xây dựng
tượng gỗ xung quanh nhà mồ là xuất phát từ quan niệm mang tính tâm linh, thể
hiện mong muốn canh giữ không cho “ma” về quấy rầy con cháu, còn tượng người
phụ nữ mang thai thể hiện quan niệm kiếp sau của người Gia Rai, phong tục đó còn
thể hiện khát vọng sinh sôi nảy nở và tín ngưỡng phồn thực của các dân tộc Tây
Nguyên. Việc quan sát tượng nhà mồ của các dân tộc Trường Sơn – Tây Nguyên,