A- MỞ ĐẦU
Đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta suốt trong quá trình
đấu tranh dựng nước và giữ nước. Tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng
đồng, ý thức cố kết dân tộc trải qua hành ngàn năm lịch sử trở thành truyền thống
bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn con người Việt Nam. Từ ngàn
đời nay, đối với người Việt Nam, tinh thần yêu nước- nhân nghĩa- đoàn kết trở
thành đức tính, lẽ sống, tình cảm tự nhiên của mỗi người.
Kế thừa và phát huy trường thống đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng
củng cố và không ngừng mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức
mạnh tổng hợp lãnh đạo nhân dân ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Lịch sử lãnh đạo, đấu tranh vẻ vang của Đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định là một pho lịch sử bằng vàng. Đảng cộng sản Việt Nam đã có được
những truyền thống cực kỳ quý báu. Đó là truyền thống chiến đấu kiên cường, bất
khuất, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; truyền thống độc lập tự chủ,
tự lực, tự cường và không ngừng sáng tạo; truyền thống đoàn kết thống nhất trong
Đảng; truyền thống gắn bó mật thiết với nhân dân, trưởng thành trong phong trào
cách mạng của quần chúng và truyền thống luôn nêu cao chủ nghĩa quốc tế trong
sáng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết kinh nghiệm lớn của cách mạng Việt
Nam: “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
Sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng
ta trong bối cảnh mở cửa, hội nhập kinh kế quốc tế, giao lưu với thế giới hiện đại,
tình hình thế giới có nhiều biến động không lường, việc kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại, tạo nên tổng hợp lực để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,
cần có sự đoàn kết thống nhất cao độ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam suốt hơn 80 năm qua bắt
nguồn từ nhiều nhân tố. Trước hết là nhờ Cương lĩnh, đường lối và sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng, dựa trên sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, kế thừa và phát huy các giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; là do sự hi sinh,
công nhân chỉ có thể giải phóng mình nếu giải phóng toàn bộ xã hội chính vì vậy
giai cấp công nhân tất yếu phải đoàn kết tất cả các lực lượng, các giai cấp phát huy
được sức mạnh dân tộc, sức mạnh quốc tế để làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình
Mác- ĂngGhen chỉ rõ: “lịch sử của những cuộc đấu tranh giai cấp đó hiện
nay đã phát triển tới giai đoạn trong đó giai cấp bị bóc lột, bị áp bức là giai cấp vô
sản không còn có thể tự giải phóng khỏi ách áp bức của giai cấp bóc lột và thống trị
mình tức là giai cấp tư sản nếu không đồng thời và không vĩnh viễn giải phóng toàn
xã hội khỏi mọi ách bọc lột, áp bức khỏi sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai
cấp”. Khi sáng lập Đồng minh những người cộng sản và soạn thảo bản "Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản" Mác - ĂngGhen kêu gọi "Vô sản tất cả các nước đoàn
kết lại".
Giai cấp vô sản là giai cấp đại diện cho một phương thức sản xuất mới, là lực
lượng tiến bộ và cách mạng nhất. Sứ mệnh của giai cấp vô sản không chỉ đoàn kết
giai cấp mình, nhân dân mình mà còn có nhiệm vụ đoàn kết giai cấp vô sản các
nước. Sự đoàn kết đó xuất phát từ chỗ, họ cùng có sứ mệnh cao cả, có mục đích
chung và kẻ thù chung. Vì vậy sự đoàn kết gia cấp vô sản là một tất yếu khách
quan trên con đường xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội mới,
trong thời đại mới - thời đại cách mạng vô sản "Trong các cuộc đấu tranh của
những người vô sản thuộc các giai cấp thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên
hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc, họ luôn luôn đại
diện cho lợi ích toàn bộ phong trào".
Khẳng định ý nghĩa to lớn của chiến lược đoàn kết trong sự nghiệp cách
mạng vô sản, trong phần cuối tác phẩm Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Mác ĂngGhen viết "ở tất cả mọi nơi những người cộng sản đều ủng hộ mọi phong trào
cách mạng chống lại trật tự xã hội và chính trị hiện hành. Những người cộng sản
phấn đấu cho sự đoàn kết và liên hiệp các đảng dân chủ ở tất tả các nước".
Chủ nghĩa Mác-Lênin coi đoàn kết là một nguyên tắc trong cách mạng vô
sản, các ông chỉ rõ: Một nguyên tắc cơ bản của quốc tế đó là sự đoàn kết, cách
3
dân tộc ta di sản tư tưởng đại đoàn kết dân tộc.
- Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh nhất quán và xuyên suốt
trong tiến trình cách mạng Việt Nam.
Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điều
chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng khác
4
nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống
còn của cách mạng. Hồ Chí Minh đã nêu ra những luận điểm có tính chân lý:
Đoàn kết làm ra sức mạnh; "Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta".
"Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi"; "Đoàn kết là sức mạnh, là
then chốt của thành công".
Đoàn kết là điểm mẹ. "Điểm này là thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt".
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công"
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt
Nam. Trong Lời kết thúc buổi ra mặt của Đảng Lao động Việt Nam ngày 3 - 3 1951, Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc: "Mục đích
của Đảng Lao động Việt Nam gồm 8 chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG
SỰ TỔ QUỐC". Nói chuyện với cán bộ tuyên huấn miền núi về cách mạng xã hội
chủ nghĩa. người chỉ rõ: "Trước cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến, thì
nhiệm vụ tuyên huấn là làm sao cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc. Một
là đoàn kết. hai là làm cách mạng hay kháng chiến để đòi độc lập. Chỉ đơn giản thế
thôi. Bây giờ mục đích tuyên truyền huấn luyện là: "Một là đoàn kết. Hai là xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Bác là đấu tranh thống nhất Nhà nước".
Đại đoàn kết dân tộc không phải chỉ là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng
đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, mục đích, nhiệm hàng đầu của cả dân tộc. Như
quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ"
Tin dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân là nguyên tắc cơ
bản trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh.
Trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, dân là nhân vật trung tâm: dân là
gốc dễ, là nền tảng của đại đoàn kết; dân là chủ thể của đại đoàn kết; dân là nguồn
gốc sức mạnh vô tận và vô địch của đại đoàn kết, quyết định thắng lợi của cách
mạng; dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng Cộng sản, của hệ thống chính trị cách
mạng.
Đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đại đoàn kết rộng rãi,
lâu dài, chặt chẽ là nguyên tắc trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh. Nguyên
tắc này được hình thành trên cơ sở nhận thức khoa học: đại đoàn kết không phải là
một tập hợp ngẫu nhiên, tự phát, nhất thời mà phải là một tập hợp lâu dài, bền vững
của các lực lượng xã hội có định hướng, có tổ chức, có lãnh đạo.
Đại đoàn kết Hồ Chí Minh không phải là một tập hợp tuỳ tiện, lỏng lẻo mà là
một khối đoàn kết rộng rãi chặt chẽ. Tính chất rộng rãi của khối đoàn kết thể hiện ở
việc mở rộng biên độ tập hợp mọi tầng tầng lớp xã hội mọi ngành, giới, lứa tuổi,
tôn giáo, dân tộc, cá nhân trong một tổ chức thống nhất. Tính chặt chẽ, bền vững
lâu dài của đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh biểu hiện qua việc Người đòi
hỏi phải củng cố, tăng cường khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức làm nền
tảng cho khối đại đoàn kết - Đây là mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc và giai
cấp trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh. Người thường căn dặn: "Chúng ta
phải đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân…, phải đoàn kết tốt các đảng phái,
các đoàn thể, các nhân sĩ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện hợp tác lâu
dài, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ…, phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau
xây dựng Tổ quốc…, phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng báo các
tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hà thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc".
Trong khối đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản là một
thành viên đồng thời lại là lực lượng lãnh đạo. Hồ Chí Minh đòi hỏi, Đảng phải
tuyên truyền, giáo dục để quần chúng giác ngộ sự cần thiết phải tập hợp, đoàn kết
và Đảng phải chỉ đạo cho quần chúng những hình thức, phương pháp tổ chức thích
Di chúc, Hồ Chí Minh đã viết: "Nhờ đoàn kết nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên
từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta
hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền
thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương
đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con
người của mắt mình".
Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. đã
trở thành sợi chỉ đổ xuyên suốt đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tư
tưởng đó đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của tất cả những người Việt Nam yêu
nước và biến thành hành động cách mạng của hàng triệu, hàng triệu con người, tạo
thành sức mạnh vô địch trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
8
II. ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN
TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI
1. Đường lối đổi mới và những chính sách mới trong chiến lược xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng
Trong khoảng 10 năm đầu 1975 - 1985 dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân
đã giành được một số thắng lợi quan trọng, đồng thời cũng vấp phải không ít sai
lầm. Chúng ta lại phải đánh bại cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới
Phía Bắc của Tổ quốc, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi bọn diệt chủng Pôn
Pốt, xây dựng và giữ vững chính quyền cách mạng, Chủ nghĩa đế quốc và những
nước tư bản chủ nghĩa thực hiện chính sách bao vây cấm vận đối với nước ta làm
cho nền kinh tế nước ta càng gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lâm vào khủng hoảng, viện trợ kinh tế của các
nước xã hội chủ nghĩa anh em đối với nước ta hầu như không còn nữa. Chúng ta lại
động lực phát triển đất nước; quyền lợi nhân dân là mục tiêu phấn đấu của Đảng).
Đồng thời trong bối cảnh quốc tế hiện nay, yếu tố dân tộc trở thành một đặc điểm
cực kỳ quan trọng. Từ đó, Đảng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân là nguồn sức
mạnh và động lực chủ yếu, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam. Từ sự
tổng kết các bài học lịch sử, Đại hội đã xác định phương hướng cơ bản của chính
sách xã hội của Đảng ta trong những năm tới trong đó thể hiện đậm nét tư tưởng
đoàn kết. Không những thế tư tưởng ấy còn được phản ánh trong các chính sách,
biện pháp kinh tế - xã hội.
Về kinh tế, Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong
đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo; coi trọng lợi ích của người lao động
nhằm liên kết và phát huy sức mạnh của tất cả các giai tầng xã hội trong suốt thời
kỳ quá độ.
Về chính trị, Đại hội nhấn mạnh việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Về chính sách xã hội, Đại hội quan tâm đến “chính sách giai cấp (bao gồm
chính sách đối với mỗi giai cấp và chính sách xử lý mối quan hệ giữa các lợi ích
của giai cấp) và chính sách dân tộc”, coi đó “là bộ phận trọng yếu của xã hội”.
Có thể nói Đại hội VI đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử: đề ra đường lối đổi
mới toàn diện, tìm ra lối thoát khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, đặt ra nền
tảng cho việc hình thành con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với hoàn cảnh
Việt Nam, mở đường cho việc thực hiện chiến lược đại đoàn kết phù hợp.
Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, những quan điểm chủ trương về
đại đoàn kết dân tộc càng được phát triển. Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng (6
- 1996) đã đánh giá những thành tựu và hạn chế qua 10 năm đổi mới (1986 - 1996).
“ Nhìn tổng quát, công cuộc đổi mới 10 năm qua đã thu được nhiều thành tựu to
lớn, có ý nghĩa rất quan trọng.Tình trạng đình đốn trong sản xuất, rối ren trong lưu
thông được khắc phục. Kinh tế tăng trưởng nhanh, nhịp độ tăng tổng sản phẩm
trong nước(GDP) bình quân hàng năm 1991-1995 đạt 8,2%. Lạm phát bị đẩy lùi từ
744,7% năm 1986 xuống còn 67,1% năm 1991 và 12,7% năm 1995. Đầu tư toàn xã
hội bằng nguồn vốn trong và ngoài nước so với GDP năm 1990 là 15,8% năm 1995
là 27,4%. Lương thực không những đủ ăn mà còn xuất khẩu được mỗi năm khoảng
ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15
năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết để
chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước”. Có được những thành công ấy là nhờ “Đảng và nhân dân ta đã thể hiện trí
tuệ và bản lĩnh cách mạng của mình, phát huy truyền thống đoàn kết, đấu tranh
kiên cường, lao động sáng tạo, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thử thách, đưa sự nghiệp
đổi mới tiếp tục tiến lên”. Đại hội đã tiếp tục khẳng định những quan điểm trên,
đồng thời đề ra 6 bài học kinh nghiệm cần tiếp tục quán triệt, trong đó có bài học
“Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước, ý
chí tự lực tự cường, động viên sức mạnh của cả dân tộc, nỗ lực phấn đấu vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Đại hội nêu bật những
chính sách lớn của Đảng trong sự nghiệp đổi mới và quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá trong đó có chính sách: “Thực hiện đoàn kết toàn dân, phát huy vai trò
làm chủ của nhân dân”, thực hiện đoàn kết toàn dân tộc cùng nhau xoá bỏ định
11
kiến, mặc cảm, hướng tới tương lai, xây dựng tinh thần đoàn kết, cởi mở, tin cậy
lẫn nhau...”. Đến đây, vấn đề đại đoàn kết đã được đặt ra ở một tầm cao mới, nhằm
phát huy sức mạnh của toàn dân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Đại hội chủ trương: “Mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, lấy liên minh giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng. Đoàn kết
các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi
người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay định cư ở nước
ngoài, phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước và lòng
tự hào dân tộc vì mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, tiến lên dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh, lấy mục tiêu đó làm điểm tương đồng, đồng
thời chấp nhận những điểm yếu kém, mặc cảm, hướng tới tương lai, xây dựng tinh
thần đại đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau”.
Ngày 26 - 6 - 1999, lần đầu tiên luật về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được
tộc trong thời kỳ mới, từ ngày 13 đến ngày 21 - 1 - 2003, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng đã tiến hành Hội nghị lần thứ 7. Đây là Hội nghị chuyên đề đầu tiên của
Đảng ta với vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Hội nghị thông qua 4 Nghị
quyết quan trọng: Về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân vì “dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; về công tác dân tộc; công tác tôn
giáo; về tiếp tục đổi mới, chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nhằm tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, vấn đề quan trọng là Hội nghị
đã xây dựng những chính sách đúng đắn, đảm bảo lợi ích của các giai tầng. Trong
điều kiện kinh tế thị trường, lợi ích cơ bản của các giai cấp và các tầng lớp nhân
dân trong xã hội có điểm chung, thống nhất, nhưng cũng có những điểm khác biệt.
Vì vậy, việc tăng cường sự đoàn kết nhất trí trước hết phải xuất phát từ việc xây
dựng cơ chế chính sách đúng đắn, bảo đảm lợi ích chính đáng của các giai cấp và
tầng lớp trong xã hội.
2. Thực trạng của khối đại đoàn kết dân tộc
Đối với giai cấp công nhân:
Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đồng thời, Đảng và Nhà nước cũng chú trọng
đến chính sách đối với giai cấp xã hội khác nhau nói chung và lợi ích của giai cấp
công nhân nói riêng để giai cấp công nhân hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình.
Đại hội VIII (6 - 1996) của Đảng khẳng định: Phải “tạo thêm việc làm, cải
thiện điều kiện lao động, thực hiện an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp, hạn
chế đến mức thấp nhất tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Tổ chức tốt việc đào
tạo lại nghề nghiệp. Tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn chỉnh chính sách tiền công
lao động và các chính sách bảo đảm về mặt xã hội. Tạo điều kiện cho công nhân có
cổ phần trong các doanh nghiệp. Đẩy mạnh việc phát triển Đảng trong công nhân;
quan tâm bồi dưỡng, đào tạo cán bộ xuất thân từ công nhân”.
Đại hội IX của Đảng xác định: Đối với giai cấp công nhân, coi trọng phát
triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ
học vấn và nghề nghiệp, thực hiện “trí thức hoá công nhân”, nâng cao năng lực ứng
dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả
Tuy nhiên, đời sống và điều kiện lao động của đa số công nhân còn gặp
nhiều khó khăn; tâm trạng phổ biến là muốn có việc làm ổn định, tiền lương và thu
nhập đủ sống và ngày càng được nâng cao; muốn được đào tạo, nâng cao tay nghề,
có định chế đảm bảo quyền lợi cho công nhân. Bộ luật lao động cần được thực hiện
tốt. Trong công nhân vẫn còn chênh lệnh về thu nhập và phân hoá giàu nghèo. Vì
thế, Đảng và Nhà nước cần quan tâm, giáo dục bồi dưỡng và có đường lối chính
sách phù hợp nhằm phát huy tinh thần chủ động sáng tạo, ý thức tự lực tự cường
cho công nhân. Chăm lo nâng cao tay nghề cho công nhân đáp ứng các yêu cầu các
ngành nghề mũi nhọn và công nghệ mới. Hoàn chỉnh các chính sách nhằm giải
quyết những vấn đề bức xúc về đời sống của công nhân.
Đối với giai cấp nông dân:
Đại hội VIII của Đảng (6 - 1996) khẳng định: “Thực hiện tốt chính sách giao
đất, giao rừng; ngăn chặn và khắc phục tình trạng nông dân không có ruộng đất sản
xuất; giúp đỡ về vốn, kỹ thuật, các dịch vụ cung ứng vật tư; tiêu thụ sản phẩm, phát
14
triển công nghiệp chế biến và các nghề tiểu thủ công... mở rộng cho nông dân
nghèo vay vốn sản xuất, chống nạn cho vay nặng lãi, mua lúa non, buôn bán trái
phép ruộng đất. Giúp đỡ nông dân phát triển các hình thức kinh tế hợp tác. Có
chính sách bảo hộ sản xuất cho nông sản”.
Chỉ thị số 10 - 1998 - CT/TTG về việc đẩy mạnh hoàn thành việc giao đất,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp. Nghị quyết số 06 - NQTW
(11 - 1998) của Bộ Chính trị khoá VIII về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và
nông thôn. Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: Việc chuyển nhượng quyền sử dụng, tích
tụ, và tập trung lao động là hiện tượng sẽ diễn ra trong quá trình phát triển nông
nghiệp nền sản xuất hàng hoá lớn. Việc tích tụ và tập trung phải được kiểm soát,
quản lý chặt chẽ của Nhà nước, không để quá trình này diễn ra tự phát làm cho
người nông dân mất ruộng đất mà không tìm được việc làm, bị bần cùng hoá. Tăng
thời gian giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân để nông dân yên tâm đầu
cạnh tranh trên thị trường nông sản ngày càng gay gắt, trình độ khoa học và công
nghệ thấp. Thu nhập của nông dân tăng chậm, tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm
ở nông thôn cao, môi trường bị phá hoại, thiên tai diễn biến phức tạp. Mặt khác,
nền kinh tế thị trường tác động đến mọi mặt của đời sống nhân dân theo hướng vừa
tích cực vừa tiêu cực.
Đối với trí thức:
Đại hội VIII của Đảng (6 - 1996) nhấn mạnh: Đối với trí thức cần tạo điều
kiện cho họ thu nhận thông tin, tiếp cận với những thành tựu mới của khoa học và
văn hoá thế giới, nâng cao kiến thức chuyên môn, trình độ chính trị, khuyến khích
họ tự do sáng tạo, ứng dụng thuận lợi khoa học và công nghệ; phổ biến các tác
phẩm, chương trình văn hoá nghệ thuật có giá trị; bồi dưỡng, phát triển, sử dụng và
đãi ngộ xứng đáng các tài năng.... Các Nghị quyết Trung ương khoá VIII, đặc biệt
là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 về phát triển giáo dục đào tạo và về khoa học công nghệ đã có tác dụng lớn trong việc phát triển và huy động tiềm năng sáng tạo
của trí thức. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 khẳng định: Xây dựng đội ngũ tri thức
giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có chí khí quật cường, quyết tâm đưa đất
nước lên những đỉnh cao mới.
Đảng cũng nhấn mạnh cần khuyến khích và tạo điều kiện để đội ngũ trí thức
là người Việt Nam ở nước ngoài trở thành cầu nối để chuyển giao công nghệ,
những tri thức và công nghệ tiên tiến về nước. Có chính sách thoả đáng để trí thức
Việt Nam ở nước ngoài về làm việc trong nước, tham gia các công trình và dự án ở
Việt Nam. Một trong những biện pháp để tập hợp, thu hút trí thức là Đảng và Nhà
nước ta đã cho phép thành lập các hội trí thức theo từng chuyên ngành nhỏ. Thông
qua các hội chuyên môn này, Đảng đã tạo lập được các mối quan hệ, nắm được tâm
tư, nguyện vọng của từng nhóm trí thức để từ đó hoạch định các chính sách đối với
trí thức tốt hơn.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4 - 2001) chủ trương tiếp tục thực
hiện nghị quyết trên của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII.
Với những chủ trương đúng đắn, chính sách hợp lý của Đảng và Nhà nước,
phần lớn trí thức có tâm huyết đều mong muốn đem tài năng, trí tuệ cống hiến cho
sự nghiệp đổi mới. Nhiều trí thức với tinh thần trách nhiệm cao đã mạnh dạn đi sâu
tạo điều kiện và thúc đẩy thế hệ trẻ, nhiều địa phương đã chủ động giành những
chương trình kinh tế - xã hội đào tạo nghề và việc làm, giúp cho thanh niên tạo vốn,
giao dự án kinh tế gia đình, trang trại cho thanh niên, giao khối lượng công trình
giao thông, thuỷ lợi... phát huy lực lượng thế mạnh của tuổi trẻ, tham gia sản xuất,
ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, góp phần làm chuyển biến tình hình kinh
tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương. Trong những năm qua, số lượng
đoàn viên mới, đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng tăng đáng kể. Theo số liệu
tổng hợp của văn phòng trung ương Đoàn năm 1991 chỉ kết nạp 170000 đoàn viên,
thì năm 1999 đã kết nạp được 848629 đoàn viên tăng 13,4% so với năm 1998, gấp
năm lần so với năm 1991. Năm 2000 là “ năm thanh niên”, trong 6 tháng đầu năm,
đã kết nạp được 559944 đoàn viên ( tăng 18% so với 6 tháng đầu năm 1999).
17
Tuy nhiên, công tác thanh niên cũng còn nhiều khó khăn hạn chế. Bên cạnh
những mặt tích cực, chủ động, vẫn còn một bộ phận thanh niên cơ hội, sống tiêu
cực, lười lao động, lãng phí thời gian, sức lực của tuổi trẻ, sống thiếu hoài bão,
sống thực dụng ăn chơi. Đồng thời vấn đề phạm pháp, các tệ nạn xã hội của thanh
niên như ma tuý, mại dâm, cờ bạc, rượu chè vẫn đang là vấn đề nổi cộm trong xã
hội.
Nguyên nhân của những tồn tại , yếu kém trên là do những tác động của mặt
trái cơ chế thị trường; công tác vận động thanh niên chưa đổi mới kịp so với những
chuyển biến trong đời sống kinh tế- xã hội của đất nước; nhận thức về vai trò của
thanh niên và nội dung công tác vận động thanh niên chưa sâu sắc, thiếu nhất quán
từ trong Đảng, trong các cơ quan Nhà nước.
Đối với phụ nữ:
Đại hội lần thứ VIII (6 - 1996 ) và lần thứ IX của Đảng tiếp tục nhất quán
chủ trương đối với phụ nữ: Tiếp tục nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị
và trong toàn xã hội về công tác phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới, khẩn trương thể
Hai là, tăng cường công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về giới đến với
toàn xã hội để nâng cao nhận thức về sự bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội
Vấn đề dân tộc:
Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Chính phủ tiếp tục ra
các Nghị quyết, Nghị định, chính sách đối với đồng bào dân tộc như chương trình
135 - 1998 - QĐ/TTG của Thủ tướng Chính phủ về chương trình phát triển kinh tế
- xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa và Nghị quyết số 10
- NQ - TW (18 - 1 - 2002) của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo
quốc phòng an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001 - 2010.
Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn.
Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ” giữa các dân tộc trong thời kỳ đổi mới,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước... Bằng nhiều biện pháp tích cực và vững
chắc thực hiện cho được ba mục tiêu chủ yếu: xoá được đói, giảm được nghèo, ổn
định và cải thiện được đời sống, sức khoẻ của đồng bào dân tộc, đồng bào vùng
cao, vùng biên giới, xoá được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản
sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc”.
Đại hội IX chỉ rõ: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí
chiến lược trong sự nghiệp cách mạng, thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình
đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ cùng phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá
đói giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá
truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, quan tâm đến
vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến.
Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc
thiểu số, đảng viên phát huy vai trò của những người tiêu biểu. Chống kỳ thị chia rẽ
dân tộc, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan”.
Trải qua 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, những thành tựu đã đạt được
thực sự góp phần to lớn trong việc củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc,
đặc biệt một số chủ trương , chính sách của Đảng, Nhà nước đối với dân tộc thiểu
số đã đi vào đời sống và đã tạo nên bước chuyển mới. “ Quyền bình đẳng giữa các
chính trị cơ sở ở nhiều vùng dân tộc và miền núi còn yếu, một số nơi đồng bào bị
thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng, kích động lôi kéo vào các hoạt động gây chia rẽ
khối đại đoàn kết dân tộc dân tộc.
Đối với tôn giáo:
Tiếp tục mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới,
nhằm huy động sức mạnh của cả dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Thi hành nhất quán chính sách tôn trọng
quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo nào của công dân. Các tôn
giáo đều bình đẳng trước pháp luật” và “đảm bảo cho sinh hoạt tôn giáo bình
thường theo đúng pháp luật Nhà nước. Nghiêm cấm việc xâm phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính
20
sách của Nhà nước. Nhà nước chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giúp đỡ
đồng bào có đạo xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống, tham gia các công việc
xã hội, từ thiện”.
Ngày 2 - 7 - 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 37 - CT - TW, nêu rõ các
chính sách: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân.
Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật. Không phân
biệt người theo đạo và không theo đạo, cũng như giữa các tôn giáo khác nhau; đoàn
kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn
kết toàn dân. Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng tôn giáo phải tuân thủ
Hiến pháp và pháp luật; có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa giữ gìn độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia; những hoạt động tôn giáo
ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín
đồ được đảm bảo, những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn
trọng và khuyến khích phát huy, mọi hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để làm
mất trật tự an toàn xã hội, làm hại nền độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đoàn
chính đáng của đồng bào, nâng cao lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, ý thức
cộng đồng, tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền
thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tôn trọng pháp luật nước sở tại và góp phần
tăng cường đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước. Có những chính sách tạo
điều kiện thuận lợi để kiều bào về thăm quê hương, mở mang các hoạt động văn
hoá, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, sản xuất kinh doanh góp phần
thiết thực xây dựng đất nước”.
Việc thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với
người Việt Nam ở nước ngoài chuyển biến tốt đẹp, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
đổi mới. Nhà nước đã ban hành, sửa đổi, bổ sung và thể chế hoá một số chủ trương
nhằm đáp ứng một số những nguyện vọng chính đáng cho kiều bào tạo môi trường
và điều kiện thuận lợi cho kiều bào có nguyện vọng hồi hương tham gia xây dựng
đất nước, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh và hoạt động nhân đạo từ thiện. Đồng
thời Đảng và Nhà nước cũng đẩy mạnh công tác tuyên truyền quan điểm, đường lối
chính sách đối với kiều bào, cảnh giác âm mưu dùng một số người Việt Nam ở
nước ngoài để thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch.
Những năm gần đây, số bà con ta ở nước ngoài về nước thăm người thân, du lịch,
về đầu tư, đóng góp lên đến gần 400000 lượt người mỗi năm. Lượng kiều hối gửi
về nước năm 2003 đạt gần 2,7 tỉ USD và đạt trên 3 tỉ USD trong năm 2004. Hàng
trăm lượt kiều bào đã về nước đóng góp tri thức, chuyển giao công nghệ.
Bộ máy công tác của ủy ban ngày càng đựơc củng cố. Năm 2003, quĩ hỗ trợ
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được thành lập và đi vào hoạt động, đã và
đang có những đóng góp hiệu quả cho công tác vận động người Việt Nam ở nước
ngoài.
Do những thành tích, đóng góp của nhiều thế hệ cán bộ trong 47 năm qua, kể
từ ngày thành lập, ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài đã vinh dự được Đảng
và Nhà nước trao tặng huân chương Độc lập hạng nhất (1999) và huân chương lao
động hạng nhất (2004).
Tuy nhiên, đồng bào định cư ở nước ngoài thiếu thông tin về quê hương và
được nghe những thông tin xuyên tạc. Việc thực hiện chính sách đối với kiều bào
Trước hết, đó là đường lối phản ánh được sự vận động của quy luật khách
quan, đáp ứng được nguyện vọng và lợi ích thiết thân của toàn dân. Đường lối đúng
còn thể hiện được định hướng cho sự phát triển của sự nghiệp xây dựng đất nước;
tạo cho quần chúng nhân dân niềm tin vào tương lai tươi sáng. Từ đó, tạo động lực
để toàn dân sáng tạo và phấn đấu vào sự nghiệp chung. Đường lối đúng thể hiện ở
việc đảm bảo tính công bằng xã hội, đảm bảo tính dân chủ và kỷ cương. Đường lối
đúng còn thể hiện ở sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn mối quan hệ giữa dân tộc
và giai cấp đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu nhưng không xem nhẹ yếu tố giai cấp.
Như vậy về Đường lối, Đảng đã thành công trong việc từng bước thực hiện
chiến lược đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới, Đồng chí Đỗ Mười đã khẳng
định: công nghiệp hoá, hiện đại hoá chỉ có thể hoàn thành khi cả dân tộc đồng tâm,
nhất trí, triệu người như một mang hết tinh thần, năng lực và tiềm năng cống hiến
23
cho đất nước. Do đó, muốn tập hợp được lực lượng, tăng cường khối đại đoàn kết
toàn dân, trước hết Đảng phải có đường lối đúng. Bài học đó đã được Đảng thực
hiện một cách đúng đắn qua những bước thăng trầm của lịch sử nhất là trong sự
nghiệp đổi mới.
3 Muốn tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng và Nhà nước phải có
chính sách phù hợp đối với các mối quan hệ xã hội và các tầng lớp xã hội.
Đây là một bài học lớn của cách mạng Việt Nam. Đảng ta định ra đường lối
cách mạng đúng đắn, phù hợp với đặc điểm dân tộc, nguyện vọng bức thiết của
nhân dân.
Trước hết, những chính sách của Đảng và Nhà nước phải nhằm đảm bảo sự
kết hợp hài hoà giữa lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp và lợi ích cá nhân người lao
động trong thời kỳ đổi mới. Chính sách phù hợp là chính sách không chỉ đảm bảo
sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích dân tộc, lợi ích cá nhân người lao động mà chính
sách đó còn đảm bảo lợi ích của từng giai tầng cụ thể.
Cùng với những chính sách cụ thể đối với các giai tầng xã hội, Đảng ta còn
5 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị gắn liền với
xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ mới
Đây là bài học quan trọng nhất của cách mạng nước ta. Kinh nghiệm chỉ ra
rằng, nếu Đảng mất vai trò lãnh đạo, thì cách mạng chệch hướng, nhân dân bị mất
quyền làm chủ. Vì vậy, để mở rộng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, hơn bao
giờ hết, nhân dân ta cần có một Đảng cách mạng chân chính, trung thành với chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, một Đảng trong sạch, vững mạnh, có
đội ngũ cán bộ gương mẫu nhất là trong hệ thống chính trị.
Trong giai đoạn mới, việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng đặc biệt quan tâm
nhằm tăng cường củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đồng thời phải kiên
quyết đưa ra ngoài Đảng những đảng viên không đủ tư cách, kết nạp thêm nhiều
đảng viên mới và đào tạo lại đội ngũ cán bộ. Đảng phải được xây dựng ngang tầm
với nhiệm vụ mới làm tròn sứ mệnh là người lãnh đạo và là người đầy tớ trung
thành của nhân dân. Cần quán triệt Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 (lần hai)
khoá VIII về xây dựng chỉnh đốn Đảng và Nghị quyết Trung ương 7 khoá VIII về
nâng cao chất lượng hoạt động của Đảng. Hơn nữa phải tăng cường và đổi mới sự
lãnh đạo của Đảng đối với mặt trận, phát huy trách nhiệm của Nhà nước đối với
mặt trận, khắc phục những quan điểm, tư tưởng sai lầm coi mặt trận là tổ chức
tượng trưng hình thức. Những chủ trương, chính sách lớn, Đảng cần chủ động trình
bày trước hội nghị Mặt trận để mọi thành viên cùng bàn bạc, đóng góp ý kiến trên
tinh thần dân chủ, xây dựng. Cần kiện toàn tổ chức, cải tiến lề lối làm việc, mở
rộng hoạt động của Mặt trận. Giao cho mặt trận và các đoàn thể đảm nhiệm một số
mặt công việc có liên quan đến đời sống nhân dân làm cho mặt trận thực hiện đúng
chức năng, nhiệm vụ của mình và hoạt động đạt hiệu quả thiết thực, thực hiện tốt
chiến lược đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất của
Đảng.
25