Tiểu luận phát triển thị trường tiền tệ ở việt nam sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới - Pdf 35

19
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
SAU KHI GIA NHẬP WTO
1.1. Tổng quan về tiền tệ và thị trường tiền tệ
1.1.1. Lý luận chung về tiền tệ
1.1.1.1. Quan niệm, chức năng của tiền tệ
Quan niệm về tiền tệ
Có nhiều quan niệm khác nhau về tiền tệ tùy theo quan điểm của mỗi người
nghiên cứu, tuy nhiên dưới giác độ kinh tế chính trị học, sau khi xem xét lịch sử ra
đời của tiền tệ gắn liền với sự phát triển các hình thái giá trị, K.Marx đã xác định
bản chất của tiền tệ như sau: Tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt, được tách ra
khỏi thế giới hàng hóa đóng vai trò là vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hóa.
Nó thể hiện lao động xã hội và phản ánh quan hệ sản xuất xã hội, quan hệ giữa
những người sản xuất hàng hóa với nhau.
Kinh tế học đã chỉ ra rằng, tiền tệ là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền
với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Tiền tệ là sản phẩm tất yếu của
nền kinh tế hàng hóa, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trao đổi hàng hóa,
dịch vụ. Theo Frederic S.Mishkin – trường Đại học Columbia (Mỹ) thì “Tiền tệ là
bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa, dịch
vụ, hoặc trong việc trả nợ”. (Kinh tế tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính của
Frederic S.Mishkin –trường Đại học Columbia xuất bản năm 1992).
Các chức năng của tiền tệ
Thước đo giá trị: Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các
hàng hoá. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Do đó
giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Trong đó giá trị là
nhân tố giữ vai trò quyết định, là cơ sở quy định giá cả của hàng hóa. Tuy nhiên,
trên thị trường do sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau nên giá cả và giá trị
không phải lúc nào cũng thống nhất mà thường có một độ chênh lệch, song đứng
trên tầm vĩ mô của nền kinh tế và xem xét cho cả một thời kỳ dài thì ∑ giá cả = ∑
giá trị của hàng hóa (1).

Tiền tệ thế giới: Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì
tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải
trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng, bạc. Trong chức năng này, vàng được dùng
làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải
nói chung của xã hội.

1.1.1.2. Cung cầu về tiền tệ
Sự ra đời của tiền giấy, kèm theo đặc trưng của nó chỉ là đại biểu cho giá trị, đã
dẫn đến một sự thay đổi trong lưu thông hàng hóa và trao đổi. Trong thời kỳ vàng
còn được coi là tiền tệ thì bản thân vàng đã có thể tự điều chỉnh các mối quan hệ


21
cung cầu trong xã hội, làm cho lượng tiền trong lưu thông luôn giữ được tính ổn
định, từ đó dẫn đến việc luôn có được một lượng tiền hợp lý trong lưu thông thì với
tiền giấy lại khác.Tiền giấy, xét trên một khía cạnh, chỉ là đại biểu của tiền vàng hay
là giá trị danh nghĩa mà thôi. Nhưng tiền giấy lại không có đổi được ra vàng nên
bản thân tiền giấy không thể tự điều hòa được trong lưu thông. Nếu như lượng tiền
giấy đưa vào lưu thông quá cao, thừa tiền giấy sẽ dẫn đến lạm phát và ngược lại. Vì
vậy, việc nghiên cứu các quy luật cung và cầu tiền tệ chính là để có được một lượng
tiền giấy trong lưu thông tối ưu.
Ngân hàng Trung ương là cơ quan Nhà nước chịu trách nhiệm cung ứng tiền cho
nền kinh tế, giữ cho quan hệ cung cầu tiền luôn cân đối để ổn định thị trường, giá
cả, sản xuất, lưu thông... Bằng các biện pháp nghiệp vụ, Ngân hàng Trung ương rút
bớt tiền khỏi lưu thông khi nền kinh tế có dấu hiệu lạm phát, cung thêm tiền vào lưu
thông khi nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái. Bằng cách tăng giảm việc cung ứng
tiền, Ngân hàng Trung ương đã điều tiết các hoạt động kinh tế.
Cung tiền
Mức cung tiền là mức tiền được cung ứng cho nền kinh tế.
Cung về tiền tệ hay còn được gọi là quá trình cung ứng tiền tệ thông qua các

nữa), chúng ta sẽ có được công thức tổng lương cung tiền MS (Money Supply).
MS = C+D(3)
Trên thực tế, với việc sử dụng tiền tín dụng của các NHTM, lượng tiền cung ứng
ra lưu thông đã lớn hơn nhiều so với lượng tiền cơ sở, để so sánh sự gia tăng của
lượng tiền với cơ số tiền người ta sử dụng đại lượng số nhân tiền tệ m (money
multiplier)
m = MS/MB
Từ công thức này có thể thấy MS = MB x m, hay nói cách khác, lượng cung
tiền phụ thuộc vào lượng tiền cơ sở và số nhân tiền tệ.
Thay MS = C +D và MB = R + C có m = (1 + C/D)/(R/D +C/D)
C/D được gọi là c (Currency Ratio): Tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi tiết kiệm
R/D được gọi là r (Reserve Ratio): Tỷ lệ dữ trữ của ngân hàng thương mại.
khi đó sẽ có công thức tính m: m = (1 + c) /(r + c)
Từ đây cũng có thể rút ra kết luận rằng số nhân tiền phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ
của các Ngân hàng Thương mại và tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi tiết kiệm.
2
3

Tiền tệ Ngân hàng, Thị trường tài chính”, Nxb TC, Hà nội-2001.
N. GREGORY MANKIW, Giáo trình Kinh tế vĩ mô, NXB TK, Hà Nội năm 2000.


23
Cầu tiền
Cầu tiền tệ chính là nhu cầu nắm giữ tiền của các chủ thể kinh tế trên thị trường,
bao gồm Chính phủ, các trung gian tài chính, doanh nghiệp, hộ gia đình và các tầng
lớp dân cư...Nhu cầu tiền tệ của xã hội bao gồm, nhu cầu tiền tệ cho việc chi tiêu
theo kế hoạch đã định trước; nhu cầu tiền tệ cho nhu cầu chi tiêu đột suất và nhu
cầu đầu tư vào các công cụ sinh lời của thị trường. Cầu tiền tệ phụ thuộc vào nhiều
nhân tố như sau:

khối lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông.
1.1.1.3 Một số lý thuyết tiền tệ cổ điển
Lý thuyết tiền tệ của D.Ricardo
D.Ricardo (1772-1823) là đại biểu xuất sắc nhất của trường phái kinh tế chính trị tư
sản cổ điển Anh. Ông là nghị viện Anh và là chuyên gia về lý thuyết tiền tệ vào cuối
thế kỷ thứ XVIII. D.Ricardo nghiên cứu về tiền tệ và lưu thông tiền tệ trong điều
kiện vào năm 1793 chiến tranh Anh – Pháp bùng nổ, buộc Chính phủ Anh phải tăng
thuế và công trái từ năm 1797 Ngân hàng Anh ngừng việc đổi tín phiếu lấy vàng,
làm giá cả hàng hóa tăng cao sinh ra lạm phát. Ông đặc biệt chú ý ổn định tiền tệ và
chống lạm phát.
Trên quan điểm coi vàng là cơ sở của tiền tệ, Ông cho rằng phải khôi phục
lại việc đổi tín phiếu ngân hàng lấy vàng. Ông ủng hộ quan điểm dùng tiền giấy
thay thế tiền vàng, vì tiền giấy có ưu thế là rẻ hơn tiền vàng và dễ thay thế hơn tiền
vàng. Từ đó Ông đưa ra phương án lưu thông tiền giấy đổi được vàng và đưa ra
khái niệm giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị. Ông cũng khẳng định số lượng
tiền cần thiết trong lưu thông phụ thuộc vào tổng giá cả hàng hóa; giá trị của tiền tệ
do hao phí lao động khai thác ra tiền quyết định. Điều này dựa trên cơ sở lý luận giá
trị lao động. Tuy nhiên, Ông lại không nhất quán quan điểm của mình, Ông lại cho
rằng giá trị của tiền tệ phụ thuộc và số lượng của tiền. Như vậy Ông đã lẫn lộn lưu
thông tiền tệ vàng và lưu thông tiền giấy.
Lý thuyết tiền tệ của K.Max
Lý thuyết tiền tệ của K.Max vẫn có giá trị hiện thực trong nền kinh tế thị trường.
Ông cho rằng: Số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông là bao nhiêu là do lưu thông
hàng hóa quyết định. Việc xác định số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông phải căn
cứ vào các nhân tố sau đây:
-Số lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường.
-Giá cả trung bình của hàng hóa.
-Tốc độ lưu thông trung bình của các đồng tiền cùng loại.



M: Số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông
PQ: tổng số giá cả của hàng hoá lưu thông trên thị trường
PQb: tổng giá cả hàng hoá bán chịu
PQk: tổng giá cả hàng hoá khấu trừ nhau
PQd: tổng giá cả hàng hoá thanh toán đã đến kỳ hạn
V: Tốc độ lưu thông trung bình của các đồng tiền cùng loại
Điều kiện:Tất cả các nhân tố nói trên phải được xem xét trên cùng một
không gian và trong cùng một thời gian.

4

Tư (Lê văn), “Tiền tệ, Ngân hàng, Thị trường tài chính”; NXB TC năm 2006

5

Tiền tệ Ngân hàng, Thị trường tài chính”, Nxb Tài chính, Hà nội-2001.


26
Lý thuyết tiền tệ của I. Fisher6
Quan điểm của I.Fisher được thể hiện trong học thuyết số lượng tiền tệ7 của ông.
Cũng dựa trên phương trình M.V = P.Q. Fisher đã đặt ra giả thiết đối với đại lượng
V (số vòng quay của tiền tệ) trong ngắn hạn. Theo ông, trong ngắn hạn V là một đại
lượng bất biến vì tốc độ quay vòng tiền phụ thuộc vào thói quen thanh toán, mà thói
quen này rất khó thay đổi. Fisher đặt 1/V = k, (k được gọi là hệ số ưa thích tiền) từ
đó dẫn đến công thức
Md = k.P.Q
(Md số lượng tiền do các chủ thể nắm giữ - cầu tiền tệ)
Với k không đổi nên lúc này Md hoàn toàn phụ thuộc vào P.Q, với P.Q là tổng
chi tiêu của xã hội (cũng có thể hình dung như tổng thu nhập). Do đó, Fisher kết

nhiên, ở Keynes đã có những thay đổi phản ánh được sự hiện diện của những yếu tố
khác bên cạnh thu nhập. Quan điểm của ông được thể hiện trong lý thuyết ưa thích
tiền mặt9, trong đó đề cập đến ba động cơ chính để con người nắm giữ tiền:
+ Giao dịch: Tiền được sử dụng cho các giao dịch hàng ngày
+ Dự phòng: Tiền được cất trữ để dự phòng cho các sự kiện bất ngờ
+ Đầu cơ: Tiền được sử dụng cho mục đích mang tính đầu cơ
Ở động cơ giao dịch và động cơ dự phòng, theo phân tích của Keynes thì cầu
tiền vẫn tỷ lệ với thu nhập, như vậy chưa có sự thay đổi vào so với trường phái
Cambridge, sự tiến bộ của Keynes chỉ thể hiện ở động cơ thứ ba, đó là động cơ đầu
cơ. Trong động cơ này, con người nắm giữ tiền trên cơ sở so sánh với việc nắm giữ
những tài sản chính có tính sinh lời khác10. Nếu như việc nắm giữ tiền có lợi hơn so
với việc nắm giữ trái phiếu thì các cá nhân sẽ giữ tiền, điển hình của trường hợp này
là lãi suất giảm xuống. Như vậy theo Keynes cầu tiền tệ cho nhu cầu đầu cơ có liên
hệ âm với lãi suất. Do đó, ông xây dựng một công thức tính cầu tiền tệ như sau:
Md = f(i,Q).P
Với i là lãi suất
Tuy nhiên, điểm cần lưu ý trong công thức này là M liên hệ nghịch với i và liên
hệ thuận với Q, vì vậy có thể biểu diễn dưới dạng sau:

Dấu trừ thể hiện mối liên hệ nghịch còn dấu cộng thể hiện mối liên hệ thuận.
Trong điều kiện cân bằng Md bằng M, chúng ta có công thức xác định V như sau:

- +
Quan điểm thời kỳ hậu Keynes và học thuyết
tiền tệ hiện đại của M.Friedman
+ 8

John Maynard Keynes, 1883 – 1946, nhà kinh tế học Anh
Liquidity Preference Theory
10

khủng hoảng kinh tế. Từ đó ông cho rằng mức cung tiền cần tăng theo một tỷ lệ ổn
định khoảng từ 3 – 4 %/năm, sẽ làm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định. Nhưng
trong thời kỳ nền kinh tế khủng hoảng nên tăng mức cung tiền, còn trong thời kỳ
hưng thịnh thì nên giảm mức cung tiền.
Thứ hai, mức cung tiền cũng ảnh hưởng đến giá cả nên phải quan tâm đến ổn
định giá cả và chống lạm phát.


29
Từ công thức M.V = P.Q
Nếu M tăng trong thời gian ngắn sẽ làm cho PQ tăng, nhưng nếu M tăng trong
thời gian dài sẽ làm giá cả tăng và sinh ra lạm phát. Vì V ổn định, mà Q không hoặc
rất ít phụ thuộc vào M nên M tăng làm cho P tăng. Ông coi lạm phát là một căn
bệnh xã hội hết sức nan giải, nguy hiểm, gây ra mất ổn định và là nguyên nhân sinh
ra khủng hoảng, thất nghiệp. Vì vậy, vấn đề cơ bản là phải có những biện pháp hữu
hiệu chống lạm phát. (Lịch sử các học thuyết kinh tế - NXB ĐHKTQD năm 2009).
Lý thuyết tiền tệ của P.A.Samulson
Paul.A.Samulson, Nhà kinh tế học Mỹ năm 1970 được nhận giải thưởng
Nobel về kinh tế học. Trong lý thuyết về tiền tệ của ông, tiền tệ có liên hệ mật thiết
với ngân hàng. Theo ông, thành phần mức cung tiền bao gồm:
-

Tiền giao dịch (M1): Bao gồm các khoản tiền thực tế được dùng
cho giao dịch, để mua bán đồ vật, gồm tổng số tiền kim khí và tiền
giấy lưu thông ngoài ngân hàng.

-

Tiền rộng (M2): Bao gồm tài sản, tài khoản gửi tiết kiệm ngoài
tiền kim khí, tiền giấy và tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc.

Theo điều 9, Luật sửa đổi một số điều của Luật NHNN (năm 2003): “TTTT là
thị trường vốn ngắn hạn nơi mua,bán ngắn hạn các giấy tờ có giá, bao gồm tín
phiếu kho bạc, tín phiếu NH, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác”. Theo
điều 6, Luật NHNN (năm 2010): “TTTT là nơi giao dịch ngắn hạn về vốn”.
Thị trường tiền tệ rất linh hoạt. Tuỳ theo mỗi nước mà phạm vi và đối tượng
tham gia thị trường có thể khác nhau, song phần lớn các giao dịch trên thị trường
này có kỳ hạn dưới 1 năm, có lúc dưới 5 năm, song chủ yếu là từ 1 ngày đến 3
tháng.Thị trường tiền tệ, ở đó những công cụ tài chính ngắn hạn, thông thường dưới
một năm, được đem ra mua bán như tín phiếu kho bạc, các khoản vay ngắn hạn giữa
các ngân hàng, hợp đồng mua lại, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, v.v... Hay nói
một cách khác, thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn – là nơi mua bán, trao
đổi các chứng khoán ngắn hạn, có rủi ro thấp, tính “lỏng” cao và khả năng chuyển
nhượng dưới một năm.
Từ các quan niệm nêu trên về thị trường tiền tệ có thể định nghĩa: Thị trường
tiền tệ là nơi giao dịch ngắn hạn về vốn (mua,bán,vay,mượn…) giữa các chủ thể
kinh tế như các NHTM, Định chế tài chính, NHTW, tổ chức, cá nhân…Các chủ thể
này đều có thể tham gia giao dịch các chứng khoán ngắn hạn hoặc các công cụ nợ
ngắn hạn theo cơ chế thị trường, với lãi suất biến động tự do.
Đề cập đến khái niệm thị trường tiền tệ, cần phải nói đến vị trí và mối quan hệ
của nó trong thị trường tài chính. Có rất nhiều ý kiến khác nhau về cơ cấu thị trường
tài chính. Có nước, thị trường vốn bao trùm cả thị trường tiền tệ và thị trường tài
chính. Lại có quốc gia, để phù hợp với việc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của
Nhà nước, thị trường tài chính được nâng lên bao trùm cả hai bộ phận cấu thành là
thị trường tiền tệ và thị trường vốn.


31
Sơ đồ dưới đây minh họa cơ cấu thị trường tài chính là thị trường bao trùm,
với kết cấu hợp thành là thị trường tiền tệ và thị trường vốn.


32
Hai là, việc mua bán, trao đổi trên thị trường nhằm thoả mãn nhu cầu vốn hoặc
nhằm đến khả năng sinh lời của tiền tệ.
Ba là, “Gía cả hàng hoá” chính là lãi suất trên thị trường tiền tệ do các nhà kinh
doanh tiền tệ mua, bán hay vay, mượn vốn lẫn nhau do các bên thoả thuận theo qui
luật cung – cầu về nguồn vốn ngắn hạn và chứng khoán ngắn hạn.
Bốn là, trong thị trường này, có sự tham gia của nhiều thành viên, trong đó sự
tham gia của Ngân hàng Trung ương là không thể thiếu được.
Năm là, có thể nói một cách khái quát thị trường tiền tệ là tổng hòa các quan hệ
giao dịch vốn ngắn hạn. Nó không bị giới hạn bởi không gian địa lý, các quan hệ
này diễn ra giữa các ngân hàng có tham gia mua bán các chứng khoán ngắn hạn. Thị
trường tiền tệ hoạt động dựa trên cơ sở tôn trọng và tín nhiệm lẫn nhau qua các
phương tiện thông tin hiện đại. Thị trường tiền tệ ngày nay không diễn ra ở một địa
chỉ cụ thể, nó chỉ là một khái niệm nói lên sự tiếp xúc giữa cung và cầu để hình
thành giá cả từng loại chứng khoán nợ.
Sáu là, một đặc điểm đã có tính thống kê, thị trường tiền tệ là thị trường bán
buôn với những lượng hàng giao dịch rất lớn.
1.1.2.3- Vai trò của thị trường tiền tệ đối với nền kinh tế - xã hội
Về mặt lý luận kinh tế học cho thấy thị trường tiền tệ rất phát triển ở các nước
có nền kinh tế thị trường. Một thị trường tiền tệ hoạt động tích cực, tổ chức hoàn
hảo chẳng những đem lại nhiều lợi ích cho Ngân hàng Thương mại, mà còn cho các
cơ sở tài chính, doanh nghiệp và cho nền kinh tế. Nó giúp cho Ngân hàng Thương
mại hạn chế tài sản không sinh lời, góp phần mở rộng qui mô thực tế của hệ thống
ngân hàng đảm bảo hiệu quả hơn.
Thêm vào đó, một thị trường tiền tệ hoạt động tốt sẽ giúp cho các công ty, và
nói chung là các doanh nghiệp ngoài ngân hàng, có thể đầu tư ngắn hạn một cách
thuận lợi những khoản thặng dư cho dù tạm thời. Đồng thời nó giúp cho các nhà
doanh nghiệp vay ngắn hạn trên thị trường quốc tế. Một thị trường tiền tệ phát triển
ổn định, bền vững đảm bảo an toàn trong quá trình luân chuyển vốn huy động được
phục vụ sự phát triển nền kinh tế, nhờ đó nguồn tiết kiệm trong nước được sử dụng

thiện của thị trường tiền tệ vừa là “bà đỡ” cho các doanh nghiệp mới ra đời có thể
phát triển trong nền kinh tế thị trường, vừa là “mảnh đất” để Chính phủ và Ngân
hàng Trung ương các nước ứng dụng và thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Thị trường tiền tệ có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế, cụ thể:
a-Thị trường tiền tệ góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế
Thị trường tiền tệ là nơi tạo ra môi trường thuận lợi để dung hòa các lợi ích kinh
tế khác nhau của các thành viên trên thị trường. Điều hòa các nguồn vốn nhàn rỗi từ
nơi tạm thừa đến nơi tạm thiếu vốn, tận dụng triệt để nguồn vốn sẵn có trong nền
kinh tế, tránh phát hành mới của ngân hàng trung ương. Đồng thời thực hiện phân
bổ có hiệu quả các nguồn lực của xã hội. Những chủ thể có nhu cầu vốn (Chính
phủ, doanh nghiệp, ngân hàng thương mại…) có thể phát hành các công cụ nợ
(ngắn hạn) để vay vốn trên thị trường. Những người mua công cụ nợ là những


34
người có nhu cầu tiết kiệm và đầu tư. Các công cụ nợ này là tài sản đối với người
mua đồng thời là tài sản nợ (nghĩa vụ) đối với người bán. Như vậy, Thị trường tiền
tệ đã thực hiện chức năng dịch chuyển nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi sang những
người có nhu cầu, từ đó hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống
của tất cả các chủ thể trong xã hội. Trong điều kiện thị trường vốn (thị trường cổ
phiếu và công cụ nợ dài hạn) chưa phát triển thì vai trò của thị trường tiền tệ càng
quan trọng và nó đảm nhiệm phần nào vai trò của thị trường vốn. Sự phát triển thị
trường tiền tệ đã góp phần quyết định cơ cấu đầu tư từ đó quyết định cơ cấu kinh tế,
đẩy nhanh tốc độ quay vòng của vốn, góp phần tăng trưởng kinh tế.
b-Thị trường tiền tệ là cơ sở phát triển thị trường tài chính
Thị trường tiền tệ làm cơ sở và tạo điều kiện cho sự phát triển và hoạt động có
hiệu quả của thị trường vốn. Thị trường tiền tệ là thị trường thanh khoản của các
công cụ dài hạn, vì các công cụ nợ dài hạn được giao dịch ngắn hạn trên thị trường.
Thị trường tiền tệ góp phần thúc đẩy thị trường huy động và cho vay vốn trung dài
hạn.Hoạt động mua,bán các công cụ nợ dài hạn (giao dịch ngắn hạn) trên thị trường

trường tiền tệ, bao gồm thị trường tiền tệ liên ngân hàng và thị trường tiền tệ mở
rộng. Có thể hình dung thị trường tiền tệ trong cấu trúc của hệ thống thị trường tài
chính qua sơ đồ sau.
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

THỊ TRƯỜNG VỐN

THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ

THỊ
TRƯỜNG
TIỀN TỆ
LIÊN
NGÂN
HÀNG

Thị
trường
Nội tệ
Liên
ngân
hàng

THỊ
TRƯỜNG
TIỀN TỆ
MỞ RỘNG

Thị
trường


36
(*)- Thị trường tiền tệ liên ngân hàng
-Khái niệm thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Thị trường liên ngân hàng là thị trường bán buôn vốn ngắn hạn giữa các
NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng với nhau và với Ngân hàng Trung ương
nhằm đáp ứng khả năng thanh toán và khả năng sử dụng nguồn vốn của các tổ chức
tham gia. Thông qua TT LNH, các NHTM thực hiện trao đổi với nhau các khoản
vốn tạm thời thừa ở một số ngân hàng này, với các khoản vốn tạm thời thiếu ở một
số ngân hàng khác thông qua các tài khoản của họ ở ngân hàng Trung ương, nhằm
bù đắp số thiếu hụt quỹ dự trữ bắt buộc, đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách
hàng, bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng. Nói cách khác,
thị trường liên ngân hàng là nơi trao đổi vốn khả dụng giữa các tổ chức tài chính
trung gian, nhất là giữa các NHTM với nhau. Hay, thị trường liên ngân hàng là thị
trường mà ở đó diễn ra quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các ngân hàng.
Thành phần tham gia thị trường tiền tệ liên ngân hàng là những người kinh
doanh chứng khoán chính phủ, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các công ty phi
tài chính lớn, nhưng đông đảo nhất vẫn là các ngân hàng thương mại.
-Đặc điểm thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Một là, thị trường liên ngân hàng là thị trường có độ tin cậy rất cao. Các giao
dịch trên TT LNH được thực hiện qua hệ thống thông tin liên lạc được kết nối trực
tuyến như điện thoại, telex, máy tính, fax, giao dịch qua hệ thống REUTER, sau đó
được xác nhận bằng văn bản, điện tín. Hoạt động bằng cách nối mạng giữa các
phòng giao dịch của các thành viên tham gia thị trường, và các công ty môi giới nếu
có, đó là các ngân hàng, công ty tài chính, và có thể là cả công ty bảo hiểm. Các
giao dịch thị trường phần lớn thông qua các nhà môi giới thị trường tiền tệ. Các nhà
môi giới này phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép. Các thành viên phải
là các tổ chức tài chính và với tư cách đó, phải đáp ứng những điều kiện chặt chẽ về
vốn và về chuyên môn.
Thành viên tham gia thị trường là NHTW, NHTM cùng các TCTC khác nên

Thứ hai, quan hệ gửi vốn giữa các ngân hàng
Ngân hàng gửi vốn vào ngân hàng khác thông qua việc mở cho ngân hàng
nhận tiền gửi một tài khoản tiền gửi. Ngân hàng nhận tiền gửi được phép sử dụng
tiền trên tài khoản đó. Trường hợp gửi tiền lẫn nhau thủ tục đơn giản hơn so với
hình thức cho vay. Khi cho vay phải lập hợp đồng vay vốn và có thể phải có tài sản
thế chấp nhưng hợp đồng gửi vốn thường không cần tài sản thế chấp.
Căn cứ đồng tiền giao dịch, tính đặc thù, thị trường liên ngân hàng được phân
chia thành thị trường nội tệ liên ngân hàng và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.


38
(1)-Thị trường nội tệ liên ngân hàng
Thị trường nội tệ liên ngân hàng (còn gọi là thị trường tiền tệ trong nước), là
nơi giao dịch các nguồn vốn bằng các đồng bản tệ và hoạt động theo các qui chế
quản lý thị trường trong nước do Chính phủ hoặc ngân hàng trung ương nước đó
quy định. Thị trường này thực hiện các giao dịch mua bán các giấy nợ ghi bằng nội
tệ hoặc việc vay nợ giữa các ngân hàng thương mại, hay giữa các NHTM với
NHTW. Các hoạt động này chịu sự chi phối của luật pháp trong nước nhằm nhiều
mục đích.
(2)-Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (ngoại hối)
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (còn gọi là thị trường ngoại hối), là thị
trường mua bán ngoại tệ có tổ chức do Ngân hàng Trung ương thành lập và điều
hành, nhằm mục đích tổ chức việc giao dịch ngoại tệ giữa các ngân hàng thương
mại được phép kinh doanh ngoại tệ, làm cơ sở cho việc triển khai thị trường ngoại
hối hoàn chỉnh ở Việt Nam.
Thông qua thị trường ngoại hối, Ngân hàng Trung ương sử dụng Quỹ điều hoà
ngoại tệ với tư cách là người bán và người mua cuối cùng để can thiệp vào thị
trường một cách có hiệu quả, nhằm thực hiện chính sách tỷ giá và chính sách tiền tệ
của nhà nước. Thị trường ngoại hối là thị trường không có địa điểm về địa lý, do
vậy, trên thế giới chỉ có một thị trường ngoại hối duy nhất. Các giao dịch về một

(1)-Thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn
Thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn là nơi mua bán trao đổi các giấy tờ có giá
ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu thương mại, kỳ phiếu ngân hàng, chứng
chỉ tiền gửi tiết kiệm,tín phiếu của các công ty tài chính, khế ước giao hàng, v.v...
(2)-Thị trường tín dụng
Thị trường tín dụng là thị trường mà các nguồn vốn được luân chuyển theo
nguyên tắc tín dụng để huy động vốn từ những người có vốn và cho vay những
người cần vốn nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Căn cứ vào thành viên tham gia,
thị trường tín dụng được phân chia như sau:
-Tín dụng ngân hàng: Chủ thể tham gia là các ngân hàng với nhau (là thị
trường liên ngân hàng), hoặc giữa các ngân hàng và khách hàng của họ.
-Tín dụng thương mại: Chủ thể tham gia là các doanh nghiệp có quan hệ kinh
doanh thường xuyên với nhau.
-Tín dụng Nhà nước: Chủ thể tham gia là Nhà nước và các tầng lớp dân cư.
-Tín dụng tự do giữa các tầng lớp dân cư.
1.1.2.5-Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ
Mọi thành viên trong nền kinh tế đều có thể tham gia thị trường tiền tệ nên họ
đều có thể là chủ thể của thị trường này. Thành viên của thị trường tiền tệ gồm hai


40
loại chính. Loại thứ nhất đại diện cho bên cung vốn, là những tổ chức, cá nhân tạo
nên thị trường, như cung ứng hàng hoá, tổ chức việc giao dịch, mua bán, vay mượn,
đổi chác, thế chấp, thanh toán, v.v... Loại thứ hai đại diện cho bên cầu vốn, là các
nhà đầu tư, doanh nghiệp lớn nhỏ tham gia mua bán hàng hoá trên thị trường và tất
cả những người có tài khoản séc. Tuy nhiên sự phân định bên cung và bên cầu cũng
chỉ mang tính khái quát và có ý nghĩa trên thị trường sơ cấp, còn trên thị trường thứ
cấp các chủ thể tham gia thường xuyên có sự chuyển hóa trong từng mối quan hệ,
có lúc xuất hiện với tư cách là cung, nhưng có lúc lại xuất hiện với tư cách là cầu.
Vì vậy, có thể phân chia những thành viên chủ yếu của thị trường tiền tệ ra

gia hoặc với tư cách là người cho vay, hoặc với tư cách là người vay hoặc thường
vừa là người cho vay, vừa là người vay.
-Ngân hàng Trung ương.
Đây là cơ quan Chính phủ chịu trách nhiệm trực tiếp kiểm soát, điều chỉnh
hoạt động của các ngân hàng thương mại và cung cấp cho hệ thống ngân hàng khả
năng thanh toán cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Ngân hàng
trung ương là chủ thể số một đặc biệt quan trọng trên thị trường tiền tệ, là ngân
hàng cung ứng tiền cho nền kinh tế thông qua việc thực hiện chính sách tín dụng và
chính sách tiền tệ nhằm thực hiện các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế, ổn định giá
cả, đảm bảo việc làm.
-Nhà đầu tư.
Người đầu tư của thị trường tiền tệ bao gồm các tổ chức tài chính tín dụng và
người đầu tư tư nhân tham gia. Nhiều tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng tham gia
thị trường tiền tệ như hiệp hội tiết kiệm và cho vay, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng,
các tổ chức xã hội, các tổ chức tài chính quốc tế. Những tổ chức này có cùng mục
đích như các ngân hàng thương mại, đó là duy trì khả năng thanh toán, cho vay số
vốn nhàn rỗi để kiếm lãi và vay vốn khi cần thiết. Người đầu tư tư nhân theo qui
luật về lợi ích cá nhân thường chỉ tham gia thị trường tiền tệ khi lãi suất tăng với
mục đích là để thanh toán những khoản vay mượn mua sắm, đề phòng những tình
huống chưa dự kiến được, và tất nhiên là họ đầu cơ, hy vọng lãi suất tăng cao để
kiếm lời.
-Người môi giới và người kinh doanh.
Người kinh doanh tiền tệ (Dealers) là người tạo ra thị trường để các công cụ
thị trường tiền tệ lưu thông được, bằng cách báo giá chào mua và thông báo với
những người khác, với những người phát hành và những người đầu tư.
Người môi giới tiền tệ (Brokers) hay công ty môi giới là người dẫn dắt hai bên
mua, bán chứng khoán gặp nhau để được nhận tiền hoa hồng. Họ không kinh doanh
chứng khoán cho mình, phần lớn những người môi giới xuất hiện giữa các ngân



Phiếu chấp nhận của ngân hàng (Bankers’ acceptances- BAs).
Chấp nhận của ngân hàng là hối phiếu do doanh nghiệp phát hành và được
ngân hàng đóng dấu “đã chấp nhận” lên hối phiếu và có thể được chuyển nhượng.


43
Bas cung cấp cho người vay tín dụng lãi suất thấp và cung cấp cho ngân hàng một
loại chứng khoán có khả năng mua bán trao đổi trên thị trường.
2 Công cụ mang lãi suất.
Các chứng khoán mang lãi suất được phát hành với mệnh giá cố định, được
đáo hạn vào những ngày nhất định và có lãi suất – là lãi suất hàng năm mà người
phát hành hứa thanh toán cho người nắm giữ tính trên mệnh giá của chứng khoán
khi chưa đến hạn thanh toán. Trên thực tế có rất nhiều loại công cụ mang lãi suất.
Chứng chỉ tiền gửi ngân hàng (Certificate of deposit – CDs).
Chứng chỉ tiền gửi là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền với lãi
suất nhất đinh, thời hạn nhất định và được lưu thông khi chưa đến hạn thanh toán.
Người sở hữu CDs có thể được hoàn trả hết toàn bộ số tiền gửi cộng với lãi suất
hoặc có thể bán CDs trên thị trường thứ cấp. Các CDs là công cụ mạng lãi suất, lãi
suất của nó được tính toán trên cơ sở 360 ngày và được trả theo mệnh giá và thời
hạn. CDs là công cụ vay nợ của ngân hàng do ngân hàng bán cho người gửi tiền với
lãi suất được qui định cho từng thời hạn nhất định, lãi suất được trả hàng năm (360
ngày/năm ). Khi đến thời hạn thanh toán, CDs được thanh toán theo mệnh giá ( giá
mua ban đầu ).
Hợp đồng mua lại (Repurchase agreement – REPO hay RP).
Hợp đồng mua lại là những món vay ngắn hạn (kỳ hạn thanh toán thường ít
hơn 2 tuần lễ) trong đó tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ…được dùng làm
vật bảo đảm một tài sản có mà người cho vay nhận được nếu người đi vay không
thanh toán được nợ. Lãi suất của RP thấp hơn lãi suất vay vốn của ngân hàng
trung ương. Lãi suất qua đêm (1 ngày) là một trong những loại lãi suất thấp nhất
trên thị trường tiền tệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status