Đề tài: " Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc giáo dục giới tính và tình dục cho
thanh thiếu niên tại thôn Đức Đại thị trấn Gia Lộc huyện Gia Lộc tỉnh Hải
Dương năm 2012"
tambatbiengiuadongdoivanbien
CHỦ NHẬT, NGÀY 05 THÁNG 8 NĂM 2012
khóa luận tốt nghiệp ngành công tác xã hội
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi;
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và xuất phát từ tình
hình thực tế của địa bàn nghiên cứu.
Tác giả khóa luận
Dương Thị Phương
LỜI CẢM ƠN
Cuộc sống sinh viên chính là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của một đời
người. Bốn năm được học dưới mái trường đại học Lao động xã hội là từng ấy thời
gian tôi được sống trong sự dạy dỗ ân cần của thầy, cô giáo, sống trong sự giúp đỡ,
chia sẻ của bạn bè. Cũng ngần ấy thời gian xa nhà, xa sự chở che, yêu thương của
gia đình, là cuộc sống tự lập chốn đô thị, là những bài học đáng nhớ nơi đất khách,
quê người. Bốn năm ấy, quãng thời gian không nhiều nhưng cũng đủ để bản thân
tôi trưởng thành hơn, bản lĩnh, tự tin và thu lượm, góp nhặt cho mình một kho tàng
kiến thức. Tôi thấy yêu hơn nghề mình đã học.
Con cảm ơn bố mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng con lên người, cảm ơn anh chị
đã luôn yêu thương, che chở cho em. Thầm cảm ơn cuộc đời đã cho tôi được sống,
cảm ơn "nghề" đã chọn tôi để tôi có được hạnh phúc của người sẽ trở thành nhà
công tác xã hội nay mai, sẽ là người trợ giúp những mảnh đời bất hạnh có được
niềm tin.
Tôi cảm ơn ngôi trường đã là nơi tiếp sức giấc mơ tri thức, em xin cảm ơn
các thầy cô giáo khoa công tác xã hội đã tiếp thêm lòng yêu nghề trong em, cảm ơn
Bảng 3 So sánh quan điểm của thanh thiếu niên về quan hệ tình dục 33
Bảng 4
Bảng 5
Bảng 6
khi còn là học sinh theo độ tuổi
Bảng so sánh kết quả lựa chọn về nội dung của giáo
35
dục giới tính, tình dục theo giới tính của thanh thiếu niên
So sánh những nội dung giới tính, tình dục thanh thiếu niên 36
quan tâm
Thanh thiếu niên tìm hiểu giới tính, tình dục qua các nguồn 38
Bảng 7: So sánh về những nội dung cha mẹ chia sẻ với 40
thanh thiếu niên theo giới tính
Bảng 8: Trả lời của phụ huynh về những nội dung giới tính, 41
tình dục phụ huynh chia sẻ với con theo giới tính
Bảng 9: So sánh kết quả trả lời của thanh thiếu niên về 42
phương pháp phụ huynh sử dụng khi trao đổi với con vấn đề
giới tính, tình dục theo độ tuổi và giới tính
Bảng 10: Kết quả điều tra phương pháp phụ huynh áp dụng 43
khi trò chuyện, chia sẻ với con về giới tính, tình dục
Bảng 11: So sánh trả lời của thanh thiếu niên về khó khăn 44
khi chia sẻ, trao đổi với phụ huynh theo độ tuổi và giới tính
Bảng 12: Kết quả trả lời của phụ huynh về khó khăn khi trao 46
đổi, chia sẻ với con vấn đề giới tính, tình dục
Bảng 13: Sự hiểu biết của phụ huynh về giáo dục giới tính, 47
tình dục
Bảng 14: Quan điểm của phụ huynh thanh thiếu niên về lợi 48
ích của việc giáo dục con cái về giới tính, tình dục
Bảng 15: Ý kiến của thanh thiếu niên về nội dung giáo dục 49
Biểu đồ 2
Thể hiện những nội dung giới tính, tình dục thanh thiếu niên 37
quan tâm.
Biểu đồ 3
Thể hiện các phương pháp cha mẹ sử dụng khi trao đổi, 43
chia sẻ với con về giới tính, tình dục theo nhóm tuổi.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH SÁCH CÁC BẢNG
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu:
4. Khách thể nghiên cứu:
5. Phạm vi nghiên cứu:
6. Phương pháp nghiên cứu.
6.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
6.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
6.4. Phương pháp thống kê toán học.
6.5. Phương pháp quan sát
2. Khách thể nghiên cứu.
II. Kết quả nghiên cứu.
1. Mức độ hiểu biết của thanh thiếu niên về giới tính, tình dục.
2. Các yếu tố ảnh hưởng tới giáo dục giới tính và tình dục cho thanh thiếu niênthôn Đức Đại.
2.1. Yếu tố tác động từ gia đình.
2.3. Yếu tố truyền thông.
2.4. Yếu tố giáo dục cộng đồng, nhóm bạn.
2.4.1. Yếu tố giáo dục cộng đồng.
2.4.2. Yếu tố nhóm bạn.
2.5. Yếu tố văn hóa phong tục tập quán.
III. Kết luận và giải pháp.
1. Kết luận.
2. Giải pháp.
2.1. Đối với gia đình.
2.2. Đối với nhà trường.
2.3. Đối với các tổ chức đoàn thể.
2.4. Đối với bản thân thanh thiếu niên.
Kết luận chương II
C. Phần kết luận
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trước hiện trạng "sống thử" và xâm hại tình dục trẻ em ngày một tăng cả ở
thế giới và Việt Nam. Kéo theo đó là tỷ lệ nạo phá thai ngày một tăng, sự tăng
không chỉ về số lượng mà độ tuổi cũng ngày một trẻ hóa.Theo thống kê của Hội
Kế hoạch hoá gia đình Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế
giới với 1,2 - 1,6 triệu ca mỗi năm, trong đó 20% thuộc về lứa tuổi vị thành niên
(13-17 tuổi). Đây đang được coi là một vấn nạn nhức nhối trong xã hội, là áp lực
Hà Thế Bình,…. đồng thời các tác giả đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy sự
phát triển của nhân tố giáo dục giới tính, tình dục đến với các đối tượng, nhất là
thanh thiếu niên.
Bản thân người nghiên cứu khi tiếp xúc với địa bàn thôn Đức Đại đã nhận
thấy một số tồn tại bất cập của địa phương trong vấn đề giáo dục giới tính, tình dục
cho thanh thiếu niên, trong đó:
Thứ nhất, qua tiếp xúc với các em trong độ tuổi 12-18 trong thôn Đức Đại
người nghiên cứu nhận thấy các em chưa hiểu rõ những thay đổi của bản thân khi
bước vào tuổi dậy thì, nhiều em mơ hồ về tình dục, chúng nghĩ đơn giản tình dục là
ôm, hôn, ngủ với nhau lần đầu thì không có thai. Điều đó dẫn đến những hậu quả
đáng tiếc là nhiều thanh niên trong thôn nghỉ học (cá biệt có em đang là học sinh
lớp 9) để kết hôn vì có thai.
Thứ hai, trong quá trình thực tập tại địa bàn thôn Đức Đại người nghiên cứu
có tiến hành hoạt động công tác xã hội nhóm với nhóm phụ nữ theo chủ đề " Hỗ
trợ phụ nữ về phương pháp giáo dục giới tính và tình dục cho thanh thiếu niên tại
thôn Đức Đại", qua đó người nghiên cứu nhận thấy hầu hết các bậc phụ huynh đều
thiếu hoặc hiểu sai về giáo dục giới tính, tình dục cho con em. Đại đa số đều né
tránh, trả lời đại khái, không cho con cái hỏi về những điều tế nhị này. Hầu hết các
phụ huynh đều không dạy con cách phòng tránh thai khi con bước vào độ tuổi có
nhu cầu về tình dục. Mặc dù chưa phải là số đông nhưng có thể thấy sự ảnh hưởng
của gia đình tới việc giáo dục con em về giới tính, tình dục bởi đây là môi trường
xã hội hóa đầu tiên của trẻ.
Trên đây chỉ là một số trong rất nhiều lý do thôi thúc người nghiên cứu lựa
chọn đề tài " Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc giáo dục giới tính và tình dục cho
thanh thiếu niên tại thôn Đức Đại thị trấn Gia Lộc huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương
năm 2012" làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Qua bài viết người nghiên
cứu ngoài mong muốn nâng cao năng lực trong nghiên cứu khoa học, người viết
còn muốn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục giới tính,
- Ảnh hưởng của yếu tố giáo dục nhà trường.
- Ảnh hưởng của yếu tố truyền thông.
- Ảnh hưởng của yếu tố tổ chức đoàn thể.
- Ảnh hưởng của yếu tố nhóm bạn.
- Ảnh hưởng của yếu tố văn hóa phong tục tập quán.
6. Phương pháp nghiên cứu.
6.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Người nghiên cứu chọn, nghiên cứu một số sách, báo, bài viết nói về công
tác giáo dục giới tính, tình dục hiện nay, có nguồn trích dẫn và nội dung xác thực.
Nghiên cứu các đề tài khoa học, các bài khóa luận, tiểu luận của các tác giả
khác có liên quan đến đề tài đang thực hiện.
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Người nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 50 thanh thiếu niên có độ tuổi từ 12-14
tuổi, 53 em có độ tuổi từ 15-18 tuổi phát phiếu điều tra để khảo sát. Số thanh thiếu
niên được chọn khảo sát là 103 em.
Người nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 30 phụ huynh học sinh để phát phiếu
hỏi.
6.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Người nghiên cứu chọn đối tượng thực hiện phỏng vấn sâu gồm: 20 thanh
thiếu niên trong thôn Đức Đại (10 em trong độ tuổi 12-14, 10 em độ tuổi 15-18
tuổi), 10 phụ huynh, 8 giáo viên của hai trường cấp II, cấp III trên địa bàn (2 giáo
viên trong ban giám hiệu, 6 giáo viên giảng dạy) và 6 cán bộ các đoàn thể (đoàn
thanh niên, hội phụ nữ, cơ sở y tế).
6.4. Phương pháp thống kê toán học.
Người nghiên cứu đã phân tích kết quả khảo sát bằng các phương pháp
thống kê toán học để xử lý số liệu thu thập được từ các phiếu điều tra.
Người nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính để khái quát tài
liệu giúp người nghiên cứu hiểu rõ ảnh hưởng khách quan của các yếu tố tới việc
đầu được phát triển từ đầu thế kỷ XX với một số tác phẩm có giá trị như:
cuốn “những rối loạn tình dục” của nhà tâm lý học người Áo Krapht Ebing, xuất
bản năm 1886, đây được coi là cuốn sách nghiên cứu về giới tính đầu tiên; ba bài
thảo luận“Lý thuyết tính dục” của nhà tâm lý học Áo gốc Tiệp Sigmund Freud xuất
bản năm 1905, là tác phẩm bàn về tính dục của con người; tác phẩm “ứng xử tình
dục của đàn ông” tác giả Kingsey xuất bản 1948; công trình nghiên cứu mang tên
“cuộc điều tra tính dục” của D.N. Zabanov và V.I. Iakovenko tiến hành từ năm
1903-1904, tác phẩm “Colombia Mặt bằng cơ bản Sexological” của José Manuel
González , MA, Rubén Ardila , Tiến sĩ Pedro Guerrero , MD, Gloria Penagos ,
MD, và Bernardo Useche , Tiến sĩ Translated by Claudia Rockmaker, MSW, và
Luciane Raibin, MS trong tác phẩm này người nghiên cứu thấy được nhiều điều bổ
ích, bởi tác phẩm đã đưa đến cho người đọc nhiều khía cạnh của giáo dục tình dục,
giới tính. Đồng thời tác phẩm nhấn mạnh tới yếu tố truyền thống có ảnh hưởng như
thế nào tới nhu cầu tình dục, người nghiên cứu cho rằng đây là một bài viết khá
hay cho những người muốn nghiên cứu sâu về tình dục. Trong bài viết của mình
người nghiên cứu cũng vận dụng được cách phân tích yếu tố của các tác giả. Tuy
vậy, là tác phẩm dịch nên nhiều phần người nghiên cứu cũng chưa được rõ (nhất là
sự phân tích về đồng tính); ngoài ra còn một số chương trình hoạt động nhằm ngăn
chặn đại dịch HIV/AIDS trên thế giới, …
Ở Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề giới
tính, tình dục, ở mọi khía cạnh và mức độ khác nhau. Trong đó:
Bộ giáo dục và đào tạo, viện khoa học giáo dục Việt Nam, “Giáo dục dân số
sức khỏe sinh sản vị thành niên”, là tài liệu tập huấn Bộ về vấn đề giới tính và sức
khỏe sinh sản vị thành niên được in hoàn chỉnh cho đến thời điểm này. Nội dung
quyển sách chủ yếu nói về: tuổi vị thành niên, tình bạn, tình dục, bình đẳng giới,
tình dục và sinh sản, mang thai và các biện pháp tránh thai, cha mẹ và trách nhiệm
làm cha mẹ, dân số và phát triển, chính sách dân số ở Việt Nam, kế hoạch hóa gia
đình và sức khỏe sinh sản…Người nghiên cứu thiết nghĩ đây là một cẩm nang cho
nghiên cứu đã đưa ra nhiều biện pháp hay như: sử dụng video hoặc tình huống
(đóng kịch) để giáo dục sức khỏe sinh sản cho các học sinh lớp 9.
Tác phẩm “giáo dục sức khỏe tính dục” của bác sỹ, thạc sỹ Trương Trọng
Hoàng, Trung tâm Truyền thông-Giáo dục Sức khỏe thành phố Hồ Chí Minh là
một tác phẩm chỉ rõ sự khác biệt giữa tính dục, tình dục, giáo dục tính dục và tình
dục, qua bài viết này người nghiên cứu có được khái niệm về tình dục, giáo dục
tình dục một cách khoa học nhất.
“Giới và phát triển” – Đại học Lao động xã hội, 2008 đây là tài liệu dành
cho sinh viên chuyên ngành công tác xã hội. Tài liệu được biên soạn khá công phu,
tác phẩm chỉ rõ sự khác nhau về giới tính và giới, nhu cầu giới, sự phân công lao
động theo giới, nhấn mạnh sự bình đẳng giới trong xã hội hiện đại.
Chương trình “chuyện đêm cuối tuần” 23h30 tối thứ 7 trên sóng vtv3, đài
truyền hình Việt nam. Một chương trình đối thoại vấn đề giới tính, tình dục, đã đi
sâu khai thác các khía cạnh của tình dục, định hướng giáo dục cho thanh thiếu
niên. Là một chương trình mang tính giáo dục cao, nội dung phong phú và sự chia
sẻ cởi mở. Đây được coi là một giải pháp giáo dục giới tính, tình dục hiệu quả. Qua
chương trình người nghiên cứu hiểu thêm các khía cạnh ảnh hưởng tới việc giáo
dục giới tính và nhất là tình dục cho giới trẻ hiện nay. Đồng thời qua đó, chương
trình cũng đề cập cách mà phụ huynh có thể áp dụng để truyền đạt kiến thức giới
tính, tình dục cho con em.
Ngoài ra, còn có các chương trình quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị
thành niên, tuyên truyền phòng chống đại dịch HIV/AIDS, các chiến dịch tuyên
truyền phòng chống lạm dụng và xâm hại tình dục trẻ em, các chương trình quốc
gia về dân số, kế hoạch hóa gia đình…với các hình thức phong phú và đa dạng có
nội dung liên quan đến giáo dục giới tính, tình dục cho các đối tượng trong đó có
thanh thiếu niên.
II. Khái niệm công cụ.
gồm các đặc điểm về di truyền, những hệ cơ quan sinh lý cơ thể mà điển hình quan
trọng nhất là cơ quan sinh dục. Ở con người có hai loại hệ cơ quan sinh dục là hệ
cơ quan sinh dục nam và hệ cơ quan sinh dục nữ qui định hai giới là nam giới và
nữ giới (theo Thái Thị Ngọc Dư, giới và phát triển, 2006).
“Giới là một tập hợp người trong xã hội có những đặc điểm sinh học cơ bản
giống nhau” (một số vấn đề về tâm lý và giới tính - Bùi Ngọc Oánh Đại học Sư
Phạm Thành phố Hồ Chí Minh).
Giới là một phạm trù được sử dụng để nói về các vai trò, thái độ và giá trị
của giới tính do sự kỳ vọng các cộng đồng xã hội gán cho; là sự khác nhau giữa
phụ nữ và nam giới về mặt xã hội, mang tính xã hội, không đồng nhất và có thể
thay đổi được (Trích lược Tài liệu chuyên khảo Giới và phát triển trường Đại học
Lao động xã hội, 2008, trang 12).
Sau khi nghiên cứu các khái niệm thì người nghiên cứu chọn sử dụng khái
niệm giới của tài liệu chuyên khảo Giới và phát triển trường Đại học Lao động xã
hội, 2008, trang 12. Bởi đây là khái niệm phản ánh đúng tính chất của giới về mặt
xã hội, nhấn mạnh vai trò xã hội của nam và nữ.
1.3. Sự khác nhau giữa giới và giới tính.
Người nghiên cứu sử dụng hai khái niệm giới tính và giới của tài liệu chuyên
khảo Giới và phát triển trường Đại học Lao động xã hội, 2008 để so sánh. Từ sự so
sánh này sẽ giúp nhấn mạnh khái niệm giới tính mà người nghiên cứu sử dụng,
tránh sự hiểu nhầm trong các khái niệm.
Bảng 1: So sánh khái niệm giới và giới tính
Giới tính
Giới
- Đặc trưng sinh học, bẩm sinh
học và đỗ cao. Nam giới xưa không
thể ở nhà lo nội trợ thì nay có thể.
Mặc dù như vậy nhưng theo quan điểm của người nghiên cứu thì với sự tiến
bộ khoa học kỹ thuật thì giới tính giờ đây có thể thay đổi được, từ đó dẫn đến giới
thay đổi. (ví dụ: Nam có thể chuyển giới tính thành nữ, nữ chuyển giới tính nam, từ
đó thì công việc, vai trò, …của họ cũng thay đổi theo giới tính mà họ chọn).
2. Khái niệm tình dục.
“Tình dục” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Định nghĩa đơn
giản của từ điển thì đó là những hành vi về quan hệ tính giao (dựa trên giới tính)
trong đó đặc biệt bao gồm việc giao hợp.
Nhưng cách hiểu của từng người thì rất khác nhau. Đối với nhiều người tình
dục là quan hệ dương vật – âm đạo. Đối với nhiều người thì đó là quan hệ dương
vật – hậu môn. Đối với vài người thì đó là việc cơ quan sinh dục cọ xát vào nhau
mà không cần giao hợp. Một số nghĩ rằng tiếp xúc miệng – cơ quan sinh dục cũng
là tình dục. Vài người cho rằng tình dục bao gồm cả việc thủ dâm. Thực tế là, tình
dục bao gồm tất cả những hình thức trên.
Tình dục là hoạt động sinh dục ở người, bao hàm: nhận thức về cảm xúc và
cơ thể mình và cơ thể người khác, khả năng và nhu cầu về tình cảm khác giới, các
tiếp xúc tình dục từ động chạm tới giao hợp. (Theo từ điển tiếng Việt).
Khái niệm mà người nghiên cứu sử dụng trong bài luận là khái niệm của từ
điển tiếng Việt, vì khái niệm đã chỉ ra được đặc trưng của tình dục.
3. Khái niệm giáo dục.
Giáo dục là sự truyền thụ kinh nghiệm của người này cho người khác, từ thế
hệ trước cho các thế hệ sau.(Trích lược giáo trình xã hội học đại cương và chuyên
biệt, nhà xuất bản Lao động xã hội, 2008, trang 296).
Giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của
con người được giáo dục. (Theo từ điển tiếng Việt)
kiện để có một cuộc hôn nhân hạnh phúc, sự chuẩn bị của cuộc sống gia đình.
Người nghiên cứu chọn sử dụng định nghĩa của PGS.TS Bùi Ngọc Oánh vì
định nghĩa của ông nêu ra được gần như các khía cạnh mà giáo dục giới tính, tình
dục cần hướng đến.
5. Khái niệm giáo dục tình dục:
Giáo dục tình dục là một quá trình lâu dài thu thập thông tin và hình thành
thái độ, niềm tin và giá trị về danh tính, mối quan hệ và sự thân mật. Nó bao gồm
phát triển tình dục, sức khỏe sinh sản, các mối quan hệ giữa các cá nhân, tình cảm,
sự thân mật, hình ảnh cơ thể và vai trò giới tính. Giáo dục tình dục địa chỉ, kích
thước sinh học, văn hóa xã hội, tâm lý và tinh thần của tình dục từ 1) tên miền
nhận thức, 2) tên miền tình cảm, và 3) miền hành vi, bao gồm cả các kỹ năng giao
tiếp hiệu quả và đưa ra quyết định chịu trách nhiệm. (Trích trong Hướng dẫn tình
dục toàn diện Education , Hướng dẫn Nhóm Đặc trách quốc gia, 1991).
Theo Wikipedia thì "giáo dục tình dục" gồm việc giáo dục về mọi khía cạnh
của hoạt động tình dục, gồm cả thông tin về kế hoạch hoá gia đình, sinh sản (khả
năng sinh sản, tránh thai và sự phát triển của phôi thai và thai nhi, tới sinh đẻ),
cộng thêm thông tin về mọi khía cạnh đời sống tình dục của một cá nhân
gồm: hình ảnh thân thể,khuynh hướng tình dục, cảm xúc tình dục, các giá trị, đưa
ra quyết định, thông tin, hẹn hò, các quan hệ, các bệnh lây truyền qua đường tình
dục (STIs) và làm sao để tránh chúng, và các biện pháp kiểm soát sinh sản.
Khái niệm giáo dục giới tính theo PGS.TS Bùi Ngọc Oánh đã bao hàm khái
niệm giáo dục tình dục, nhưng xét ở khía cạnh sâu hơn thì định nghĩa
của Wikipedia đã bám sát vào nội dung mà giáo dục tình dục đảm nhiệm. Vì vậy
người nghiên cứu sử dụng song song hai khái niệm này trong bài viết.
Vai trò của giáo dục giới tính, tình dục là rất quan trọng trong việc hình
thành nhân cách của trẻ ở lứa tuổi đang lớn và liên quan đến hoạt động tình dục
trong tương là một hoạt động có chức năng rất quan trọng trong việc duy trì thế hệ
mai sau.
Nếu giáo dục gia đình tốt, nếu cha mẹ hiểu biết về vấn đề giới tính, tình dục
và truyền đạt cho con thì sẽ giúp thanh thiếu niên có được một nền tảng kiến thức
ứng phó với những điều sẽ diễn ra trong tương lai như: Tâm lý sẵn sàng khi bước
vào tuổi dậy thì, tuổi yêu và biết quan hệ tình dục an toàn. Ngược lại, thanh thiếu
niên sẽ thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết tạo ra tâm lý lo lắng, sợ hãi và các hậu quả
đáng tiếc như: mang thai trẻ vị thành niên, bị xâm hại tình dục, ……
v
Yếu tố giáo dục trong nhà trường:
Là môi trường xã hội hóa thứ cấp, là nơi trang bị kiến thức tổng hợp về khoa
học, xã hội, giúp các thành viên trong xã hội thực hiện được vai trò một cách thuần
thục, bài bản.
Nếu giáo dục trong nhà trường tốt sẽ trang bị cho thanh thiếu niên kiến thức
về cơ thể, các chức năng của cơ quan sinh dục, quá trình thụ tinh cũng như cách
phòng tránh lây nhiễm bệnh sinh dục, phòng tránh thai,….Ngược lại nếu nền giáo
dục không tốt, sai lệch làm ảnh hưởng tới sự hiểu biết của thanh thiếu niên gây ra
những điều đáng tiếc: quan hệ tình dục sớm, không biết cách phòng tránh thaii,
bệnh sinh dục,….
v
Yếu tố truyền thông:
Là nhân tố đóng vai trò trong quá trình xã hội hóa cá nhân, là nơi cung cấp
những định hướng và các quan điểm đối với các sự kiện xảy ra trong cuộc sống
hằng ngày.
Mặt tích cực của yếu tố truyền thông là sẽ giúp thanh thiếu niên có nhiều cơ
hội tiếp xúc với lượng thông tin phong phú, đa dạng phục vụ cho nhu cầu học hỏi,
khám phá, tích lũy tri thức. Nhất là đối với những người không có cơ hội tới
Hội phụ nữ có nhiều hoạt động, chương trình về giáo dục sức khỏe giới tính,
tình dục và sinh sản nếu thực hiện tốt tới thanh thiếu niên nữ sẽ giúp các em có
được kiến thức tổng hợp để chăm sóc và bảo vệ bản thân. Ngược lại, nếu không
thu hút được sự tham gia của các em sẽ khiến các em có hiểu biết không đầy đủ, dễ
bị lợi dụng, dễ gặp phải các vấn đề: Bị xâm hại tình dục, mang thai vị thành niên,
bệnh truyền nhiễm,…
Nhất là các chương trình, hoạt động tuyên truyền của cơ sở y tế về giới tính,
tình dục nếu được thực hiện nghiêm túc, triệt để sẽ cung cấp lượng kiến thức đầy
đủ, khoa học đến cho tất cả các thành viên trong xã hội trong đó có thanh thiếu
niên để tránh được các hệ lụy đáng tiếc, giảm thiểu bệnh truyền nhiễm (HIV), bệnh
sinh dục, giảm thiểu vấn nạn nạo phá thai, sinh con vị thành niên. Ngược lại sẽ làm
tăng các vấn nạn này trong xã hội, gánh nặng cho y tế và các chính sách xã hội
khác.
v
Yếu tố văn hóa phong tục tập quán:
Là những quan niệm, giá trị truyền thống có ảnh hưởng tới quan điểm, lối
sống của mỗi cá nhân trong xã hội.
Nếu phong tục tập quán của địa phương tiến bộ sẽ giúp cho thanh thiếu niên
nhận thức được các hành vi sai lệch, tránh được tình trạng tảo hôn, cưỡng ép kết
hôn. Ngược lại, nếu phong tục tập quán lạc hậu sẽ dẫn đến tình trạng kết hôn sớm,
làm ảnh hưởng đến chính sách pháp luật của nhà nước về hôn nhân, gia đình.
III. Đặc điểm tâm sinh lý của thanh thiếu niên.
Theo giáo trình Tâm lý học phát triển nhà xuất bản giáo dục 2008, giáo
trình hành vi con người và môi trường xã hội trường Đại học Lao động xã hội
2010, thì đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi 12-18 tuổi là:
Sang đầu tuổi thiếu niên 12-14 tuổi, có một sự phát triển đột biến về sinh lý,
đặc biệt là sự phát triển nhanh của hệ cơ quan sinh dục làm cho giới tính và ý thức
về giới tính của trẻ phát triển mạnh. Cơ thể trẻ lúc này diễn ra những thay đổi lớn