Bài tập học kỳ Dân sự 1 - Quy định về tài sản trong Bộ luật dân sự
năm 2005
Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói
riêng. Nói tới tài sản thì ai cũng hình dung ra đó là những của cải, vật chất hữu hình và vô hình
của một người nào đó. Nhưng đó chỉ là theo cách nghĩ thông thường mà không có cơ sở pháp
lý nào cả. Thực tế cho thấy khái niệm tài sản đã được đề cập từ rất lâu trong thực tiễn cũng như
trong khoa học pháp lý. Tài sản trên thực tế tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau vô cùng phong
phú và đa dạng. Tuy nhiên, mỗi loại tài sản lại có những đặc tính khác biệt cần thiết phải có quy
chế pháp lý điều chỉnh riêng. Mặc dù vậy nhưng cũng chưa có một văn bản pháp lý nào nêu rõ
ràng và đầy đủ khái niệm, đặc điểm, tính chất của tài sản kể cả Bộ luật dân sự Việt Nam năm
2005 vẫn đang còn rất nhiều quan điểm được đưa ra và vẫn chưa đi đến thống nhất. Vì vậy, đề
tài mà em chọn là “ Phân tích, bình luận quy định về tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2005 ” để
phần nào làm rõ hơn vấn đề này, từ đó đưa ra nhưng hướng hoàn thiện chặt chẽ Bộ luật để dễ
dàng áp dụng trong thực tiễn.
1. Phân tích, bình luận về khái niệm tài sản theo Điều 163 BLDS
Điều 163 BLDS quy định: “ Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản ”. Đây
là cách định nghĩa tài sản mang tính chất liệt kê chứ không mang tính khái quát. Theo quy định
này thì tài sản được liệt kê khép kín chỉ tồn tại ở một trong bốn loại: Vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc
quyền tài sản. So với BLDS năm 1995 Điều 172: “ Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị
giá được bằng tiền và các quyền tài sản ” thì BLDS năm 2005 đã kế thừa có phát triển do phát
sinh nhiều vấn đề trong việc áp dụng.
Khái niệm tài sản theo Bộ luật dân sự 2005 đã mở rộng hơn Bộ luật dân sự 1995 về những đối
tượng nào được coi là tài sản, theo đó, không chỉ những “vật có thực” mới được gọi là tài sản
mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản. Nhưng cũng chưa có
một văn bản pháp lý nào hay những “ người có trách nhiệm ” nào giải thích cho giới luật học
hiểu tính đúng đắn và khá quát của những giải nghĩa như vậy. Để xây dựng được một khái
niệm hoàn chỉnh về tài sản thì các nhà làm luật phải đưa ra những quan điểm chứng minh và
dưới đây là một số những quan điểm đó.
được coi là công cụ thanh toán đa năng – một tính năng quan trọng nhất của tiền ” (4).
Như vậy, tiền sẽ được định giá bằng gì? Và nó có được coi là tài sản không?
Nếu cứ những gì định giá được thì được gọi là tài sản, vậy tài sản nợ - nghĩa vụ trả nợ cũng sẽ
được xem là tài sản vì nó cũng có thể định giá được (cứ xem giá của nó là 0 đồng thì giá 0
đồng hoàn toàn khác với không định giá được), trong khi đó, tài sản thì có thể để lại thừa
kế được còn nghĩa vụ trả nợ thì không để lại thừa kế được, trừ nghĩa vụ trả nợ trong phạm
vi di sản do người chết để lại.
Trên đây là năm trong số rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tài sản dưới góc độ pháp
lý. Tuy nhiên, các quan điểm trên như đã phân tích đều bộc lộ những bất cập và chưa đưa ra
được tiêu chí để xác định những gì được gọi là tài sản. Thực tế cho thấy trên thế giới, kể cả đối
với các nước phát triển nhưng cách liệt kê trong khái niệm về tài sản trong bộ luật của họ vẫn
được áp dụng. Tại đây, người ta thể hiện quan niệm tài sản là các mối quan hệ giữa người với
người liên quan tới vật, hơn là nhấn mạnh tới vật có đặc tính vật lý hay vật chất liệu như BLDS
2005.
Tuy nhiên có thể nói đây là cách định nghĩa khai thác vào bản chất của tài sản, nghiêng hơn về
giác độ nghiên cứu, có thể có những khó khăn nhất định khi đưa vào văn bản quy phạm
pháp luật. Cho nên cách định nghĩa theo kiểu liệt kê các phân loại tài sản cơ bản thích hợp
hơn đối với xây dựng văn bản.
1.1. Vật
Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tịa khách quan mà con người có thể cảm giác được
bằng các giác quan của mình. Vật chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành đối tượng trong quan hệ pháp
luật nên nếu bộ phận của thế giới vật mà c on người không thể kiểm soát, chiếm hữu được nó
thì cũng đồng nghĩa với việc con người không thể tác động được vào nó. Hơn nữa, là đối tượng
Giấy tờ có giá là loại tài sản phổ biến trong giao dịch dân sự hiện nay đặc biệt là giao dịch trong
các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.
Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ có trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao
dịch dân sự. Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như: séc, cổ phiếu, tín
phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, công trái…Khác với tiền chỉ do cơ quan duy nhất là Ngân hàng nhà
nước ban hành thì giấy tờ có giá có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, ngân
hàng, kho bạc, các công ty cổ phần…
Cần lưu ý là các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng kí ô tô, sổ tiết
kiệm, sổ đỏ… không phải là giấy tờ có giá. Đó chỉ được coi là vật và thuộc sở hữu của người
đứng tên trên giấy tờ đó.
1.4. Quyền tài sản
Quyền tài sản theo định nghĩa tại điều 181 BLDS 2005 là: “ Quyền tài sản là quyền trị giá được
bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ ”. Theo đó thì
quyền tài sản trước tiên phải được hiểu là xử sự được phép của chủ thể mang quyền. Quyền ở
đây chính là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Quyền tài sản có rất nhiều nhưng chỉ những quyền tài sản nào có thể trở thành đối tượng trong
các giao dịch dân sự thì mới được coi là tài sản tại Điều 163 BLDS 2005. Hiện nay pháp luật
nước ta công nhận một số quyền là quyền tài sản là tài sản như: quyền sử dụng đất, quyền khai
thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị xâm phạm,
quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ…
(Điều 322 BLDS 2005).
Có ý kiến cho rằng quyền tài sản có thể phân chia thành quyền vô hình và quyền hữu hình.
Nhưng theo phân tích quyền vô hình là những quyền không có đối tượng được nhận biết
thuộc về người chơi và vì thế không thể coi tài sản ảo thuộc sở hữu của họ. Ngoài
vấn đề về quyền sở hữu, việc công nhận tài sản ảo còn gặp trở ngại về mặt pháp lý trong giao
dịch. Theo quy định về giao dịch tài sản tại điều 112 Bộ luật Dân sự 2005, người tham gia
giao dịch phải trên 18 tuổi. Trên thực tế, nhiều người chơi chưa đạt được điều kiện trên
nhưng vẫn tiến hành mua bán, trao đổi các đồ vật, nhân vật trong game một cách thoải mái.
Trong khi chưa có một hành lang pháp lý cụ thể, đại diện các cơ quan nhà nước nêu rõ người
chơi phải tự bảo vệ tài sản của mình. Mọi biện pháp của pháp luật chỉ mang tính tương đối và là
cách cuối cùng để giải quyết xung đột.
Có thể hiểu tài sản là một khái niệm động và phụ thuộc vào giá trị kinh tế của nó bởi tài sản
là công cụ của đời sống con người. Trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội
loài người, tài sản có một phạm vi khác nhau, nhưng đều là công cụ đáp ứng các nhu cầu sống
của con người. Vì vậy nó được nhận thức không mấy khác nhau ở các hệ thống pháp luật bởi
con người rất nhạy bén với sự đáp ứng nhu cầu của mình. Tuy nhiên, người ta chỉ có thể nhận
thức đầy đủ về nó qua phân loại tài sản.
3. Phân tích, bình luận về phân loại tài sản theo các điều từ Điều 174 đến Điều 180.
3.1. Bất động sản và động sản.
Cách phân loại tài sản thành động sản và bất động sản là cách phân loại chủ yếu dựa vào đặc
tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được. Cách phân loại này là tiêu
chí mà hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới đều sử dụng bởi việc xác lập, thực hiện
giao dịch liên quan đến hai loại tài sản này rất khác nhau cần phải có quy phạm điều chỉnh riêng
đối với từng loại. Theo điều 174 BLDS thì bất động sản đã được liệt kê bao gồm: “ Đất đai, nhà,
công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng
trước đó, các tài sản khác gắn liền với đất đai, các tài sản khác do pháp luật quy định ”. Còn
động sản theo phương pháp loại trừ là những tài sản không phải bất động sản. Ở đây pháp luật
lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng kí theo quy định của pháp luật bất
động sản phải đăng kí quyền sở hữu.
- Là căn cứ để xác định thời hạn, thời hiệu và các thủ
tục khác.- Xác định phương thức kiện dân sự.
- Xác định tòa án có thẩm quyền giái quyết tranh chấp dân sự là tòa án nơi có bất động sản đó
(theo điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự).
3.2. Hoa lợi, tức lợi
Theo điều 175 BLDS: “ Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại”
Ví dụ như con bê do con bò đẻ ra, hoa quả thu hoạch từ cây cối… “ Lợi tức là các khoản lợi thu
được từ việc khai thác tài sản ”. Ví dụ như tiền lãi, tiền thuê nhà…Như vậy, cả hoa lợi và lợi tức
đều là những tài sản sinh ra từ việc khai thác , sử dụng tài sản gốc. Mặc dù điều luật này đã quy
định rõ như vậy nhưng cũng cần lưu ý một số điểm sau:
- Không phải bao giờ tài sản gốc vẫn là tài sản gốc, hoa lợi, lợi tức sinh ra vẫn là hoa lợi, lợi tức.
Vì tài sản có thể trở thành tài sản gốc đối với tài sản này nhưng lại là hoa lợi hay lợi tức của tài
sản khác. Ví dụ con dê là hoa lợi được sinh ra từ con dê mẹ nhưng lại là tài sản gốc khi nó sinh
ra con dê con.
- Chỉ khi tài sản được tách khỏi tài sản gốc thì nó mới được coi là hoa lợi, lợi tức của tài sản đó
còn nó vẫn gắn liền với tài sản đó thì nó là một bộ phận không thể tách rời của tài sản. Ví dụ quả
vẫn ở trên cây, con bê vẫn nằm trong bụng con bò.
- Phân biệt sản phẩm với hoa lợi, lợi tức. Ví dụ cây sống trên đất thì cây thu hoạch là sản phẩm
còn hoa quả thu hoạch mới được coi là hoa lợi.
phải chuyển giao cả vật phụ, trừ trường hợp có thỏa thuận. Ngoài ra còn có ý nghĩa trong
việc xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu trong trường hợp sát nhập tài sản (Điều 236).
3.4. Vật chia được và vật không chia được.
Theo Điều 177 BLDS: “ Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tính
năng sử dụng ban đầu. Vật không chia được là vật khi bị phân chia thì không giữ nguyên được
tính chất và tính năng sử dụng ban đầu. Khi cần phân chia vật không chia được thì phải trị giá
thành tiền để chia ”. Việc phân loại này dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được
chia ra thành nhiều phần nhỏ. Vật chia được ví dụ như gạo, ngô, dầu, vải…Vật không chia
được như ô tô, máy tính, đồng hồ…Vậy nhà có chia được không? Trong dân sự chúng
ta gặp rất nhiều về việc chia thừa kế liên quan đến nhà ở. Nếu là nhà ở 1 tầng hoặc nhà có diện
tích quá hẹp (< 9m2) thì không thể chia được vì khi chia như thế nó sẽ không giữ được nguyên
tính chất và tính năng sử dụng như ban đầu. Còn nếu là nhà cao tầng, nhà chung cư thì vẫn
chia được bởi nó đã được ngăn cách với nhau để đảm bảo có tính năng sử dụng như nhau.
Điều đó dẫn tới khi cần phân chia những tài sản đó chúng ta phải đặt câu hỏi là có cần bán đi và
tính thành tiền để chia hay không? Theo Điều 300 và 301 BLDS quy định về việc thực hiện nghĩa
vụ dân sự phân chia được theo phần và không phân chia được theo phần. Vậy nếu đối tượng
của nghĩa vụ không phải là vật mà là các tài sản khác thì trong trường hợp này có được xem xét
là nghĩa vụ dân sự phân chia được theo phần không? Nếu câu trả lời là không thì nghĩa vụ dân
sự không phân chia được theo phần và nếu có nhiều chủ thể nghĩa vụ thì các chủ thể đó phải
thực hiện nghĩa vụ cùng một lúc hay không? Việc BLDS định nghĩa cả hai loại nghĩa vụ này và
không dùng phương pháp loại trừ dẫn đến có loại nghĩa vụ không thể xếp vào loại này hay
loại kia. Điều này dẫn đến sự không thuận lợi cho các chủ thể nếu nghĩa vụ ở đây là nghĩa
vụ trả tiền hay giấy tờ có giá. Vì vậy, BLDS phải xem xét lại cách phân chia này. Tài sản chia
được là những vật khi chia thành nhiều phần nhỏ và giữ nguyên được hình dạng, tính năng sử
dụng ban đầu hoặc là những tài sản khác mà cần chia thì có thể chia được bằng chính
loại nhưng con người đã đánh dấu bằng các kí hiệu riêng để phân biệt với các vật cùng loại
khác ví dụ nhà chung cư được đánh số, xe máy, ô tô gắn biển số….Việc phân chia này có ý
nghĩa: đối với vật đặc định, khi bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật thì
phải giao đúng vật đó, nếu giao khác mặc dù đúng số lượng, chất lượng nhưng vẫn bị
coi là vi phạm nghĩa vụ và phải chịu trách nhiệm dân sự.
3.7. Vật đồng bộ
“ Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh
thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng
quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.
Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phàn hoặc các
bộ phận hợp thành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác ” (Điều 180 BLDS). Vật đồng bộ thường
được thể hiện tên gọi dưới dạng bộ, đôi, hoặc cặp ví dụ như: đôi giày, đôi khuyên tai,
đôi tất…Cần lưu ý là chỉ cần xem xét là đồng bộ hay không đồng bộ khi vật bao gồm tập hợp
các vật đơn chiếc tạo thành còn nếu vật tồn tại ở dạng đơn chiếc, độc lập thì cách xem xét đó sẽ
không còn ý nghĩa.
Trên đây là bảy cách phân chia tài sản theo BLDS năm 2005, ngoài ra còn có một số cách phân
chia khác nữa. Ví dụ: tài sản có đăng kí quyền sở hữu với tài sản không đăng kí quyền sở hữu,
tài sản cấm lưu thông, hạn chế lưu thông và tự do lưu thông, tài sản hiện có và tài sản hình
thành trong tương lai (7) , tài sản vô hình và hữu hình, tài sản vô chủ và tài sản không xác định
được chủ sở hữu.
Căn cứ vào giá trị của tài sản, vai trò và ý nghĩa của tài sản đối với chính trị, an ninh, quốc
phòng, quản lí nhà nước mà pháp luật mà pháp luật có quy định về việc đăng kí quyền sở hữu
đối với một số tài sản nhất định. Tài sản có đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà pháp luật bắt
buộc phải đăng kí, nếu không đăng kí sẽ không được công nhận quyền sở hữu đối với tài sản
nhưng chắc chắn nó sẽ được hình thành trong tương lai ví dụ tiền lương sẽ được hưởng, nhà
đang được xây, hoa trái trên cây sắp đến mùa…khi những tài sản đó hình thành thì nó đều là tài
sản hữu hình.
Nhận xét:
Gắn trực tiếp với Điều 163, có một số điều luật thể hiện rõ quan niệm của nhà làm luật về tài
sản, như Điều 174, Điều 175, Điều 176,. Điều 180 của BLDS 2005. Qua giải nghĩa khái niệm tài
sản tại Điều 163 và các điều luật này của BLDS 2005, có thể rút ra mấy nhận xét sơ bộ như sau:
Thứ nhất, giải nghĩa được đưa ra theo kiểu liệt kê các loại tài sản, chứ không xác định phạm vi
dứt khoát của tài sản.
Thứ hai, các quy định tiếp đó tại “ Chương XI- Phân loại tài sản ” (các Điều từ 174 đến 180 )
diễn giải cụ thể các loại tài sản được nêu ra trong giải nghĩa này không đề cập gì tới tiền
và giấy tờ có giá trong khi tiền và giấy tờ có giá là hai trong bốn ý được liệt kê trong khái niệm tài
sản.
Thứ ba, Điều 173, Điều 181 và toàn bộ các quy định của BLDS 2005 không diễn giải một cách
có thể hiểu được phạm vi của quyền tài sản một cách cụ thể nhất.
Thứ tư, quyền sở hữu được quy định dường như tách biệt với tài sản tại Điều 164 và Điều
174, BLDS 2005, có nghĩa là khái niệm tài sản dường như không bao trùm quyền sở
hữu, trong khi vẫn quy định các vấn đề chuyển dịch tài sản gắn với quyền sở hữu tại rất nhiều
các quy định.
4. Định hướng cải cách các quy định về tài sản và phân loại tài sản trong Bộ luật dân sự năm
2005
dân.
3. Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập I – TS.Lê Đình Nghị - NXB Giáo dục Việt Nam.
4. Bùi Đăng Hiếu “ Tiền – một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự ” – Tạp chí luật học số
1/2005 tr 37-41.
5. Nguyễn Minh Oanh “ Các loại tài sản trong luật dân sự Việt Nam ” – Tạp chí luật học số
1/2009.
6. Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của bộ luật dân sự và định hướng cải
cách – TS.Ngô Huy Cương – Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội –
thongtinphapluatdansu.wordpress.com.
7. Cần xây dựng lại khái niệm “ Quyền tài sản ” trong luật dân sự - TS.Nguyễn Ngọc
Điện – Khoa luật Đại học Cần Thơ – thongtinphapluatdansu.wordpress.com.
8. Vấn đề tài sản ảo phải đặt trong thực tế cuộc sống – Hạ Thảo –
thongtinphapluatdansu.wordpress.com
____________
(1) Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong luật dân sự Việt Nam, NXB Trẻ TPHCM ,
1999
(2) Từ điển Luật học.
(3) Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập I, Trường ĐH Luật HN, NXB CAND, năm 2007.
(4) Bùi Đăng Hiếu “Tiền – Một loại tài sản trong QHPL dân sự”, Tạp chí luật học số 1/2005
(5) Bùi Đăng Hiếu “Tiền – Một loại tài sản trong QHPL dân sự”, Tạp chí luật học số 1/2005
(6) Nguyễn Minh Oanh “Các loại tài sản trong luật dân sự Việt Nam”, Tạp chí luật học số 1/2009.
(7) TS.Lê Đình Nghị, Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập I, NXB Giáo dục, 2009