Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ở huyện Hoà Vang - thành phố đà nẵng - Pdf 35

1

Luận văn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp ở huyện Hoà Vang - thành
phố đà nẵng

Hà nội - 2006


2
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5
khóa VII về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn toàn diện là vấn đề rất quan trọng
ở huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Thời gian qua nông nghiệp, nông
thôn phát triển khá nhanh, với những thành tựu trong các lĩnh vực như chọn
tạo giống, kỹ thuật canh tác, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật nuôi, đã tạo
ra khối lượng sản phẩm, hàng hoá đáng kể góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền
kinh tế của huyện.
Tuy nhiên, nông nghiệp huyện Hoà Vang phát triển vẫn còn manh mún,
quy mô sản xuất nhỏ, phương thức và công cụ sản xuất lạc hậu, kỹ thuật áp
dụng không đồng đều dẫn đến năng suất thấp, giá thành cao, chất lượng sản
phẩm không ổn định. Hơn nữa, sản phẩm lại chưa được chế biến dẫn đến khả
năng cạnh tranh kém.
Để thúc đẩy nông nghiệp huyện Hoà Vang phát triển nhanh cần đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp trên địa bàn huyện là hết sức
cần thiết. Vì vậy đề tài “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ở
huyện Hoà Vang - thành phố Đà Nẵng” được tác giả lựa chọn làm đề tài
nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình.

lần thứ XIV về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn huyện Hoà Vang theo hướng phát triển nông nghiệp, gắn với nâng cao
hàm lượng khoa học - công nghệ trong giá trị, chất lượng sản phẩm hàng hoá,
với đời sống nông dân của huyện..
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: Dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà
nước, quan điểm của Đảng Bộ huyện Hoà Vang về công nghiệp hoá, hiện đại


4
hoá nông nghiệp để phân tích, đánh giá thực trạng công nghiệp hoá nông
nghiệp huyện Hoà Vang ở thành phố Đà Nẵng. Từ đó đề xuất các giải pháp
chủ yếu nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ở huyện
Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp huyện Hoà Vang ở thành phố Đà Nẵng, trong khoảng thời gian từ 2001
đến 2006.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp để nghiên cứu, như: phương pháp
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với
phương pháp hệ thống, điều tra, thống kê, phân tích, so sánh…,
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp.
- Phân tích và đánh giá thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp huyện Hoà Vang ở thành phố Đà Nằng.
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ở huyện Hoà Vang - thành phố Đà Nẵng
trong giai đoạn tới.

với trình độ công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, có năng suất lao động cao trong các
ngành kinh tế quốc dân. Hiện đại hoá là quá trình tận dụng mọi khả năng để
đạt trình độ công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại.
Trong điều kiện bùng nổ của cách mạng khoa học - công nghệ và sự phát
triển nhanh chóng của quá trình toàn cầu hóa, Đảng ta đã đưa ra khái niệm:


6
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý
kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng
một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện,
phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã
hội cao [13, tr. 65].
Như vậy, vấn đề có ý nghĩa quyết định của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là sự thay đổi kỹ thuật thủ công bằng kỹ thuật máy móc trên qui mô
toàn bộ nền kinh tế, là chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền
kinh tế công nghiệp hiện đại; đồng thời biết tranh thủ ứng dụng những
thành tựu của của cách mạng khoa học - công nghệ để đẩy mạnh phân công
lại lao động, nâng cao năng suất lao động của xã hội. Thực chất của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự phát triển công nghệ, là quá trình chuyển từ
nền kinh tế có trình độ sản xuất lạc hậu lên nền kinh tế có trình độ sản xuất
tiên tiến hiện đại.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu
hoá kinh tế, hiện nay trên thế giới một số nước đã và đang phát triển nền
kinh tế tri thức, thì quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam còn
phải gắn với phát triển kinh trí thức để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Vì vậy, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần X của Đảng
đã xác định Việt Nam cần: "Tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh

này đòi hỏi phải có giải pháp tốt hơn về mối quan hệ giữa phát triẻn ngành
nông nghiệp và ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến cả về
qui trình kỷ thuật, qui mô sản xuất và quan hệ lợi ích. J.Stalin đã khẳng
định: không thể phát triển được công nghiệp nếu trong nước không có


9
nguyên liệu, không có lương thực cung cấp cho công nhân, nếu không có
một nền nông nghiệp phát triển ít nhiều đến mức có thể làm thị trường chủ
yếu cho công nghiệp và Ông chỉ rõ muốn phát triển công nghiệp phải có ba
điều kiện: một là, phải có thị trường trong nước mà thị trường trong nước
lại chủ yếu là nông dân; hai là, nông nghiệp phải đảm bảo nguồn nguyên
liệu tương đối phát đạt, ba là phải làm cho nông dân có thể dự trữ một số
lượng cần thiết về nông sản để cung cấp cho công nghiệp, cung cấp cho
công nhân. J.Stalin đã nhắc lại lời Lênin nói: muốn xây dựng công nghiệp
thì cần phải bắt đầu từ nông nghiệp [21, tr.171]
Bốn là, nông nghiệp là ngành cung cấp một khối lượng hàng hoá lớn
cho xuất khẩu dưới dạng thô hoặc qua chế biến. Đối với các nước đang phát
triển nông sản xuất khẩu là chủ yếu để tạo ra tích luỹ cho tái sản xuất và
phát triển nền kinh tế và xã hội.
Năm là, nông nghiệp là khu vực cung cấp lao động phục vụ cho công
nghiệp và các lĩnh vực hoạt động xã hội khác; đây là xu hướng có tính qui
luật trong phân công lại lao động xã hội từ nông nghiệp sang các lĩnh vực
khác phụ thuộc vào nhiều nhân tố: trước hết năng suất lao động nông
nghiệp không ngừng tăng lên, công nghiệp và dịch vụ trong thành thị ngày
càng mở mang, chất lượng lao động ở nông thôn phải được nâng cao;
Sáu là, nông nghiệp có một vai trò đặc biệt quan trọng nữa là bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái. Quá trình phát triển nông
nghiệp gắn liền với sử dụng đất đai, nguồn nước và các loại hoá chất,..;
đồng thời việc trồng và bảo vệ rừng, luân canh cây trồng, phủu xanh đất

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình tạo
lập cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ cấu kinh tế hợp lý để phát triển sản xuất
nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội nông thôn theo hướng gắn
nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ nhờ đó cho phép phát huy có hiệu


11
quả mọi lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới trong mở rộng giao lưu hội
nhập quốc tế. Quá trình này bao gồm các nội dung sau:
- Đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật dựa trên những thành
tựu của cách mạng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công
nghệ chế biến và bảo quản nông phẩm hàng hóa nhằm chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tạo ra khối lượng nông phẩm
hàng hóa lớn và có giá trị xuất khẩu cao.
- Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật và kinh tế xã hội cho việc phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp
hoá hiện đại hoá (điện, đường, trường, trạm... và các dịch vụ "đầu vào",
"đầu ra" của sản xuất nông phẩm hàng hóa).
- Thực hiện phân công mới lao động xã hội trong nông nghiệp, nông
thôn trên cơ sở phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, các làng
nghề truyền thống và dịch vụ theo phương châm "tiểu công nghiệp hiện đại,
thủ công nghiệp tinh xảo", từng bước xác lập cơ cấu kinh tế nông nghiệp công nghiệp - dịch vụ ngay trên địa bàn. Thực hiện chiến lược "li nông bất
li hương" nhằm giải quyết việc làm cho nông dân.
- Thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp sinh thái trong khu vực nông
nghiệp và tạo nên bộ mặt nông thôn mới theo diện mạo của công nghiệp và
đô thị [19, tr. 100-102]
Nghị quyết Ban chấp hành trung ương 7, khóa VII đã chỉ rõ:
…Trong những năm trước mắt, khả năng vốn còn có hạn, nhu
cầu công ăn việc làm rất bức bách, đời sống nhân dân còn nhiều
khó khăn, tình hình kinh tế - xã hội chưa thật ổn định vững chắc.
Vì vậy, cần tập trung, nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hóa nông

cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công


13
nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi
hoá, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ
sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất
nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả, sức cạnh tranh
của nông sản hàng hoá trên thị trường [16, tr.93].
1.2. Các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm của Đảng ta về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp

1.2.1. Các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
nước theo con đường XHCN, lý luận Mác - Lê nin về công nghiệp hoá
được Đảng ta vận dụng sáng tạo và luôn khẳng định công nghiệp hoá là
nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ. Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất
nước, quan điểm về công nghiệp hoá cũng ngày càng đổi mới và hoàn
thiện, phù hợp với qui luật khách quan, điều kiện cụ thể của nước ta và bối
cảnh chung của thế giới.
Công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế theo hướng công
nghiệp, đã diễn ra từ lâu trong lịch sữ xã hội cùng với cuộc cách mạng công
nghiệp trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong quá trình nghỉên cứu của
mình, mặc dù Mác và Ăng-ghen không viết một chuyên luận nào về công
nghiệp hoá, nhưng trong các công trình nghiên cứu của mình các Ông cũng
đã đề cập đến cách mạng công nghiệp trong nền sản xuất tư bản như: trong
đại công nghiệp, điểm xuất phát của cuộc cách mạng trong phương thức sản
xuất là tư liệu lao động, trước hết là máy công cụ. Máy móc thúc đẩy phân
công lao động xã hội, giảm lao động cơ bắp và làm cho việc nâng cao trình

nông nghiệp, công nghiệp sẽ làm cho công cụ lao động ngày càng tiến bộ


15
hơn, dẫn đến năng suất lao động trong nông nghiệp tăng khi đó đòi hỏi phải
phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo máy móc phục vụ
nông nghiệp và kéo theo nó là những ngành công nghiệp khác cũng phát
triển. Theo Lênin:
Ngoài máy móc ra, sự cần thiết phải cày bừa ruộng đất tốt hơn nữa sẽ
đưa đến chỗ thay thế những công cụ thô sơ trước đây, bằng những công cụ
cải tiến hơn, và thay thế gỗ bằng sắt, bằng thép. Sự thay đổi đó tất nhiên sẽ
đưa đến chỗ phải xây dựng tại chỗ những nhà máy chế tạo ra những công
cụ đó, vì công nghiệp thủ công không thể làm ra được những công cụ tốt
như thế’ và “nhờ có sự phát triển của công nghiệp chế biến bằng máy móc
và công nghiệp khác cho nên yêu cầu về khoáng sản cũng ngày một tăng
thêm [21, tr.89].
V.I.Lênin còn nhấn mạnh rằng:
Công nghiệp là chìa khoá để cải tạo nền nông nghiệp lạc hậu
và phân tán trên cơ sở tập thể hoá… Do đó, nhiệm vụ là phải cung
cấp cho nông nghiệp đến mức tối đa những công cụ và tư liệu sản
xuất cần thiết để xúc tiến và đẩy mạnh cải tạo nông nghiệp trên cơ
sở kỹ thuật mới” và việc cải tạo một nền nông nghiệp bị chia nhỏ,
phân tán là một việc làm hết sức khó khăn cần phải đi dần từng
bước nhưng liên tục và kiên quyết bền bỉ, làm cho nông nghiệp
chuyển qua một cơ sở kỹ thuật mới, cơ sở của nền đại sản xuất,
đưa nông nghiệp lên ngang tầm trình độ công nghiệp xã hội chủ
nghĩa. Nếu làm được việc đó thì thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa
xã hội mới được đảm bảo [21, tr.157, 158, 159].
Lênin còn chỉ ra rằng, Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng khi xây
dựng được một nền sản xuất hiện đại trên cơ sở vật chất- kỹ thuật tiên tiến,

công nghiệp hoá nông nghiệp. Người cho rằng đời sống của nông dân chỉ
có thể thật dồi dào khi chúng dùng máy móc để sản xuất một cách thật


17
rộng rãi và muốn đưa máy móc vào sản xuất nông nghiệp thì phải khoanh
vùng sản xuất nông nghiệp. Trong văn kiện quan trọng và nổi tiếng mang
tên Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Bác nhấn mạnh: Phải cải tạo và
phát triển nông nghiệp để tạo điều kiện cho việc công nghiệp hoá nước
nhà. Phải có một nền nông nghiệp phát triển thì công nghiệp mới có thể
phát triển mạnh. Nông nghiệp phát triển tốt thì công nghiệp sẽ phát triển
nhanh. Bác đã ví bằng một câu rất dễ hiểu như: "công nghiệp và nông
nghiệp là hai chân của nền kinh tế… công nghiệp phát triển thì nông
nghiệp mới phát triển...” [23, tr. 545].
Nói tới vấn đề công nghiệp hoá nông nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh
còn đề cập tới kinh tế gia đình và nghề phụ của người nông dân. Nghề phụ
ở đây có thể hiểu là các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, nông
dân có thể tăng thêm thu nhập cho mình từ các ngành nghề này. Người luôn
nhắc nhở cần phải phát triển kinh tế phụ gia đình xã viên, phải vừa chú ý
tới việc trang bị kỹ thuật mới, vừa phải biết tận dụng cải tiến công nghệ
hiện có và sử dụng những công cụ cải tiến. Người nhận định: muốn cơ giới
hoá nông nghiệp cũng còn phải mất 15, 20 năm chứ không làm ngay một
lúc được. Cho nên phải cải tiến nông cụ hiện có, phải làm những loại máy
mới giản đơn, thợ mộc cũng dùng được, nông dân cũng làm được. Khoa
học kỹ thuật phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục
vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngững cải
thiện đời sống nhân dân. Tư tưởng này đã được thực tiễn chứng minh
trong những năm trước đổi mới và đã chứng tỏ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp khi đã được điều chỉnh cho phù hợp thì nền kinh tế sẽ
phát triển, nước ta từ chỗ luôn phải nhập khẩu gạo, nay sản xuất gạo ở

chặng đường trước mắt [9, tr. 62-63].


19
Đại hội VI vẫn tiếp tục triển khai tư tưởng của Đảng tại đại hội V.
Đại hội VII, Đảng ta đã nhận thức được rằng do chính nhu cầu phát
triển của nông nghiệp, nông thôn mà phải tiến hành công nghiệp hoá nông
nghiệp, nông thôn. Tư tưởng này được đưa ra tại Hội nghị trung ương 5,
khoá VII. Văn kiện hội nghị trung ương 5, khoá VII đã viết "Cùng với sự
chuyển dịch nội bộ nông nghiệp như trên, phải có chính sách và chương
trình, biện pháp xúc tiến quá trình công nghiệp hoá nông thôn, nhằm triệt để
giải phóng sức sản xuất, tạo thêm việc làm, thúc đẩy phân công lao động
theo hướng ai giỏi việc gì làm việc nấy [12, tr. 12].
Đồng thời Đảng cũng chỉ rõ: “phải sớm phát triển công nghiệp nông
thôn, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản …. cần phát triển
công nghiệp nông thôn một cách toàn diện, từ công nghiệp hàng tiêu dùng
đến công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí chế tạo và sửa chữa
với qui mô vừa và nhỏ" [12, tr. 13]
Tại hội nghị trung ương 7, khoá VII, "điểm mới lần này là gắn công
nghiệp hoá với hiện đại hoá, với việc áp dụng rộng rãi những thành tựu của
khoa học và công nghệ tiên tiến của thời đại" [13, tr. 5].
Công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn cũng được gắn với hiện
đại hoá. Hơn thế nữa, do những điều kiện đặc thù phát triển kinh tế xã hội
nước ta thời kỳ đó Đảng ta đã xác định cần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Văn kiện Hội nghị trung ương 7, khoá VII đã nêu:
Trong những năm trước mắt, khả năng vốn còn có hạn, nhu
cầu công ăn việc làm rất bức bách, đời sống nhân dân còn nhiều
khó khăn, tình hình kinh tế xã hội chưa thật ổn định vững chắc. Vì
vậy, cần tập trung nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp

tư tưởng công nghiệp hoá hiện đại hoá từ các Đại hội trước và khẳng


21
định tiếp tục phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta,
trước hết phải xác định đặc thù nước ta thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá trong xu thế hội nhâp và toàn cầu hoá, nên bên cạnh những thuận
lợi còn rất nhiều khó khăn, thách thức. Vì vậy cần phải “Tranh thủ cơ hội
thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nước ta để
rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định
hướng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là
yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [17,
tr.87] và trước hết tập trung đầu tư nhiều hơn nữa cho công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nhất là qui hoạch kinh kế vùng, ngành và
thông tin dự báo thị trường.
Như vậy, có thể thấy rằng, trong quá trình hoạch định đường lối phát
triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp luôn luôn được đặt
trong quan hệ với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta như:
 Từ chỗ xác định nông nghiệp là cơ sở để tiến hành công nghiệp hoá
đến chỗ xác định nông nghiệp là nội dung của công nghiệp hoá.
 Tiếp theo là đến xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn là nội dung chính để phát triển kinh tế -xã hội nông thôn và phải
được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.
 Từ chỗ đẩy mạnh đến chỗ cần phải đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
 Đó là biện chứng của quá trình nhận thức của Đảng về phát triển nông
nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta, mà mỗi bước

- Phía Đông giáp với 2 quận Cẩm Lệ và quận Ngũ Hành Sơn;
- Phía Nam giáp với 2 huyện Điện Bàn, Đại Lộc của tỉnh Quảng
Nam;
- Phía Tây giáp với huyện Đông Giang (Quảng Nam);
- Phía Bắc giáp với quận Liên Chiểu và huyện Phú Lộc của tỉnh Thừa
Thiên - Huế.
Từ 15/8/2005, thực hiện Nghị định 102/2005/NĐ-CP của Chính phủ
về tách 3 xã Hoà Thọ, Hoà Phát, Hoà Xuân về để thành lập quận Cẩm Lệ,
huyện Hoà Vang còn lại 11 xã. Tổng diện tích tự nhiên là 70.734,82 ha
chiếm hơn 53% so với toàn thành phố, theo điều tra dân số 31/12/2005 Hoà
Vang có 107.980 nhân khẩu chiếm 15,7% so với thành phố, mật độ dân số
152 người/Km2, khu vực đông nhất là Hoà Phước, Hoà Châu 1412
người/Km2, thấp nhất là Hoà Bắc 10 người/Km2.
Trong giai đoạn tới, tốc độ tăng dân số của huyện tăng gắn liền với sự
phát triển kinh tế - xã hội của huyện và sự lan toả của khu vực nội thành.
Trên địa bàn huyện sẽ hình thành cụm công nghiệp nhỏ ở Hoà Khương với
500 ha, Thuỷ Tú Hoà Liên với hơn 400 ha và các cụm kinh tế, khu trung
tâm hành chính mới của huyện. Từ đó khả năng tăng dân số cơ học sẽ


24
chiếm tỷ lệ lớn, đồng thời thu hút nhiều lao động và bố trí dân cư từ các
quận nội thành vào địa bàn huyện.
Trên địa bàn huyện Hoà Vang có các quốc lộ 1A, 14B, đường sắt
thống nhất, đường tránh Nam Hải Vân, tương lai có đường cao tốc Dung
Quốc - Liên Chiểu, nhánh rẽ đường Hồ Chí Minh đi qua, từ đó tạo điều
kiện rất thuận lợi cho sự khai thác tiềm năng phát triển kinh tế và giao lưu
với các vùng xung quanh huyện và thành phố Đà Nẵng.
Về địa hình, Hoà Vang có địa hình rộng trên cả ba vùng miền núi,
trung du và đồng bằng, đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của

triển nông nghiệp, trồng rừng. Tuy nhiên, do địa hình dốc, lượng mưa
thường tập trung vào tháng 10 và 11 nên lũ lụt thường xuất hiện trong thời
gian này hàng năm, gây ngập úng các vùng thấp.
Lũ quét lịch sử chưa từng thấy đã xuất hiện năm 1999 tại các điểm
Hoà Phú, Hoà Ninh, Hoà Phong, Hoà Bắc và Hoà Liên ngay trong thời gian
mưa lớn, lũ lên rất nhanh nhưng rút lại rất chậm, mực nước trên báo động
cấp 3 duy trì trong nhiều ngày. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn chịu ảnh
hưởng của bão, bình quân hàng năm từ 1 đến 2 cơn bão. đặt biệt cơn bão số
6 năm 2006 vừa qua là cơn bão lịch sử từ trước đến nay mà nhân dân Hoà
Vang chịu nhiều thất thoát, làm sập nhà và tốc mái hơn 90% nhà dân và các
công trình, cơ quan, trường học. Tổng thiệt hại ước tính 702 tỷ đồng. Về
kinh tế có gia đình và xã phải mất vài ba năm mới khôi phục lại được.
Về nguồn nước, Hoà Vang có 3 con sông chính là: Sông Cu Đê, Sông
Yên (là nhánh của sông Thu Bồn), Sông Tuý Loan (nhánh của sông
A.Vương), sông Bầu Sấu, Sông Vĩnh Điện, Sông Quá Giáng và nhiều ao
hồ. Phần lớn nguồn nước và chất lượng nước các sông đáp ứng được nhu
cầu kinh tế và sinh hoạt của nhân dân trong huyện.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status