Thực trạng sử dụng đất của các dự án trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng (luận văn thạc sỹ nông nghiệp xuất sắc) - Pdf 25

i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ

LÊ THỊ PHƯỚC OANH
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2005 - 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.62.16
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HUỲNH VĂN CHƯƠNG
HUẾ - 2011
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả các số liệu
trong vùng nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ luận văn nào khác.
Tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và tôi xin cam
đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Lê Thị Phước Oanh
iii
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi xin chân
thành cảm ơn quý Thầy - Cô giáo trường Đại học Nông lâm Huế và Khoa Tài nguyên
Đất và Môi trường Nông nghiệp, Phòng Đào tạo sau đại học, đã tận tình truyền đạt cho
tôi những kiến thức quí báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian
học tập tại trường và viết luận văn tốt nghiệp.
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn Thầy giáo, TS. Huỳnh Văn Chương người
hướng dẫn khoa học tận tình, chu đáo đã giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành

của liên hiệp quốc
NN Nông nghiệp
STT Số thứ tự
TĐC Tái định cư
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
XD Xây dựng
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
v
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
vii
DANH MỤC CÁC HỘP THÔNG TIN
viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
ix
MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Như chúng ta đã biết đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là
điều kiện tồn tại, phát triển của mỗi con người và các sinh vật khác trên trái đất. Đất
đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội,
an ninh và quốc phòng…Trong hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia đất đai là nguồn tài
nguyên, nguồn lực, là một yếu tố đầu vào không thể thiếu. Chính vì vậy, việc sử dụng
nguồn tài nguyên này một cách hợp lý và hiệu quả là điều vô cùng quan trọng. Cùng
với sự phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa tất yếu làm tăng thêm các đô thị, các đô
thị sẽ phát triển khắp các vùng đến cả những vùng nông thôn xa xôi và nó sẽ tác động
cải tạo thúc đẩy nông thôn phát triển. Để thực hiện tốt công tác quản lý đất đai thì cần

từng bước được nâng cao. Cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tích cực và đúng
hướng, đạt mức tăng trưởng khá. Mặc dù, diện tích đất nông nghiệp đã giảm do thu hồi
đất để quy hoạch, giải toả chỉnh trang đô thị Thành phố nhưng nhìn chung đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, mức sống được nâng cao hơn
so với trước khi chưa giải tỏa.
Để tìm hiểu các chính sách giải tỏa, bồi thường và bố trí tái định cư, đánh giá
đúng thực trạng triển khai của các dự án và đánh giá hiệu quả sử dụng đất của một số
dự án trên địa bàn huyện Hòa Vang. Từ đó kịp thời đề xuất những giải pháp tích cực
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của các dự án trên địa bàn nghiên cứu, tôi tiến
hành chọn đề tài:
"Thực trạng sử dụng đất của các dự án trên địa bàn huyện Hòa Vang, Thành
phố Đà Nẵng giai đoạn 2005 – 2010"
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất của các dự án, đánh giá việc thực hiện và ảnh
hưởng của các chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng. Trên cơ sở đó, đề xuất
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của các dự án trên địa bàn
nghiên cứu.
2.2. Mục tiêu cụ thể
+ Tìm hiểu các dự án có thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng,
phân nhóm và lựa chọn các dự án nghiên cứu.
+ Phân tích việc thực hiện các chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng và bố
trí tái định cư của các dự án được lựa chọn.
+ Đánh giá thực trạng sử dụng đất của các dự án được lựa chọn nghiên cứu.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của các dự án trên
địa bàn nghiên cứu.
3
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp thông tin về thực trạng sử dụng đất

Khí hậu, địa hình, đất, thổ nhưỡng, thủy văn, thực vật, động vật, những biến đổi của
đất do hoạt động của con người [15].
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ Trái đất
tương đối tơi xốp do các loại đá phong hoá ra, có độ phì, trên đó cây cỏ có thể mọc được.
Đất hình thành do tác động tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ [38].
Nếu nhìn nhận đất đai trên phương diện từ vạt đất thì đất đai là một phần diện
tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm cả các yếu tố cấu thành môi trường sinh thái
ngay trên và dưới bề mặt đất [23].
5
Như vậy, tùy theo quan điểm trong từng lĩnh vực về chuyên môn mà đất đai được
các tác giả nhìn nhận trên các phương diện khác nhau và có nhiều ý nghĩa khác nhau.
Tuy nhiên, hiện nay khi nói đến đất người ta thường dùng hai khái niệm là đất
(soil) và đất đai (land). Đất (soil) là lớp đất mặt của vỏ trái đất gọi là thổ nhưỡng. Thổ
nhưỡng phát sinh là do tác động lẫn nhau của khí trời (khí quyển), nước (thủy quyển),
sinh vật (sinh quyển) và đá mẹ (thạch quyển) qua thời gian lâu dài. Khái niệm đất theo
nghĩa đất đai (land) có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, đất như là không
gian, cộng đồng lãnh thổ, vị trí địa lý, nguồn vốn, môi trường, tài sản [12]. Trong quản
lý Nhà nước về đất đai người ta thường đề cập đến đất đai theo khái niệm đất (land).
* Phân loại đất (land/soil classification)
Hiện nay, trên thế giới tùy theo mục đích phân loại mà có nhiều cách phân loại
đất khác nhau. Ở Việt Nam đất thường được phân loại theo hai cách: Phân loại đất
theo thổ nhưỡng và phân loại đất theo mục đích sử dụng [12].
+ Phân loại đất theo thổ nhưỡng (soil classification)
Phân loại đất theo thổ nhưỡng (theo Khoa học đất) mục đích
nhằm

xây
dựng bản đồ thổ nhưỡng. Trên thế giới có 3 trường phái chủ yếu [12]:
• Phân loại đất theo nguồn gốc phát sinh
• Phân loại đất theo định lượng các tầng đất

6
của mỗi thửa đất được xác định theo giấy tờ pháp lý về quyền sử
dụng
đất hoặc theo
hiện trạng sử dụng đất [6].
- Nhóm đất nông nghiệp: Đất NN là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên
cứu, thí nghiệm về NN, lâm nghiệm, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo
vệ, phát triển rừng. Nhóm đất NN được phân thành các
phân

nhóm
gồm đất sản xuất
NN, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất NN khác [2], [7].
- Nhóm đất phi NN: Đất phi NN là đất đang được sử dụng
không

thuộc
nhóm đất NN. Nhóm đất phi NN bao gồm đất ở, đất chuyên dùng,
đất

tôn
giáo tín
ngưỡng, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất sông ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước
chuyên dùng và đất phi NN khác [2], [7]. Trong các phân nhóm của nhóm đất NN,
phi NN lại được chia thành nhiều loại đất khác nhau.
- Nhóm đất chưa sử dụng: Đất chưa sử dụng là đất chưa xác định mục đích sử
dụng. Đất chưa sử dụng bao gồm đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng,
núi đá không có rừng cây [2], [7].
Tóm lại, theo mục đích sử dụng đất, ở nước ta đất được chia làm 3 loại: Đất NN,
đất phi NN và đất chưa sử dụng. Với tốc độ CNH, ĐTH

g qua
chuyển nhượng, thuê hoặc góp vốn quyền sử dụng đất sau đó thực hiện chuyển
đổi mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Chuyển đổi đất đai theo cơ
chế này, khi chuyển đất NN sang đất phi NN người sử dụng đất phải xin phép cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền.
7
CĐĐĐ bắt buộc với cơ chế Nhà nước thu hồi đất để giao, cho thuê
vào

mục
đích
khác, thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất. Chỉ cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền mới được thu hồi đất, việc thu hồi đất NN để chuyển sang
mục đích phi NN phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt. Nhà
nước có chính sách bồi thường, hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người mất đất NN
để đảm bảo sinh kế cho người dân. Trong thực tế đất đai được chuyển đổi mục
đích theo cơ chế bắt buộc là chủ yếu và tác động lớn đến đời
sống

người
dân.
* Sử dụng đất: Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ
giữa con người - đất đai trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và
môi trường.
* Quan điểm sử dụng đất “bền vững”
Quản lý đất đai “bền vững” theo quy định Dumanski (1993) [43]: “kết hợp công
nghệ, chính sách và các hoạt động nhằm tích hợp các nguyên tắc kinh tế - xã hội với
các vấn đề môi trường đồng thời:
- Duy trì hoặc tăng cường sản xuất và dịch vụ;
- Giảm mức độ rủi ro sản xuất;

thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi [25].
Đối với các dự án tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở và tiến hành phân lô
theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để bố trí lại cho các hộ giải tỏa
sau khi đã thi công hạ tầng cơ sở thì được gọi là tái định cư tại chỗ. Việc bố trí lại đất
tái định cư tại nơi ở mới phải có điều kiện sinh hoạt tốt hơn hoặc bằng nơi cũ.
Giải toả, đền bù và bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào
các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển
kinh tế là những hành vi được qui định tại Hiến pháp năm 1992, mục 4 chương II Luật
Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành [1] [4].
1.2. Kinh nghiệm giải toả đền bù và bố trí tái định cư của một số quốc gia trên thế giới.
Nhu cầu sử dụng đất luôn thay đổi theo quá trình phát triển của nền kinh tế - xã
hội. Do vậy, công tác giải toả, đền bù và tái định cư được thực hiện ở tất cả các quốc
gia trên thế giới. Tuy nhiên, trong phạm vi của đề tài Tôi xin nêu khái quát kinh
nghiệm của một số nước có điều kiện tương tự hoặc có thể áp dụng được trong điều
kiện nước ta hiện nay.
 Tại Singapore
Singapore là một đảo quốc, một thành phố với 682 km
2
và dân số 3,4 triệu người.
Với quy mô quốc gia nhỏ bé và có nhiều điểm đặc thù, Singapore khá thành công
trong việc quản lý và điều tiết thị trường bất động sản.
Singapore có chế độ sở hữu đất đai đa dạng, trong đó chấp nhận sở hữu tư nhân
về đất đai. Đất do Nhà nước sở hữu chiếm tỷ trọng lớn nhất (gần 90%), số còn lại do
tư nhân chiếm hữu, nhưng việc sở hữu này phải tuân thủ theo các chế độ quy hoạch sử
9
dụng đất do Nhà nước quy định. Người nước ngoài được quyền sở hữu căn hộ hoặc
căn nhà (biệt thự) kèm theo với đất ở.
Sau khi có quy hoạch chi tiết và có dự án cụ thể, Nhà nước tiến hành thu hồi đất
để triển khai thực hiện. Nhà nước toàn quyền quyết định trong vấn đề thu hồi đất,
người dân có nghĩa vụ phải tuân thủ (theo Luật về thu hồi đất – Land Acquisition Act).

10
Phương thức thanh toán khi đền bù là trả trước 20% khi chủ nhà thực hiện việc
tháo dỡ, phần còn lại trả khi hoàn tất việc di dời. Nếu hộ gia đình có nhu cầu cấp bách
về nhà ở, sẽ thu xếp cho thuê với giá phù hợp.
Ngoài ra, nhà nước Singapore còn có các chính sách hỗ trợ khác đảm bảo quyền
lợi của chủ bất động sản phải di dời. Trong quá trình đền bù, chủ bất động sản có
quyền khiếu kiện về giá trị đền bù. Hội đồng đền bù sẽ là tổ chức quyết định giá trị
đền bù đối với người khởi kiện. Nếu chủ bất động sản vẫn không đồng ý có thể đưa vụ
việc lên Tòa Thượng thẩm.
Nhìn chung, chính sách đền bù được tiến hành thận trọng (nhất là đất của tư
nhân), có văn bản luật quy định chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi và chính sách đền bù
công bằng đối với mọi tổ chức, cá nhân. Do đó, tạo được sự đồng thuận cao trong xã
hội. Tỷ lệ cưỡng chế chiếm một tỷ trọng không đáng kể, dưới 1%.
* Một số kinh nghiệm khác trong đền bù thiệt hại khi giải toả:
- Có chính sách hỗ trợ tối đa về thiệt hại và tạo điều kiện công ăn việc làm cho
người nông dân khi chuyển thành thị dân (chủ yếu trong thời gian cách đây 20-30
năm). Tuy nhiên, do số lượng nông dân không nhiều nên đây không là vấn đề nghiêm
trọng. Đối với các hộ kinh doanh thương mại hoặc cơ sở công nghiệp, hướng đền bù
bằng tiền mặt và căn cứ vào thu nhập thực tế trước đó.
- Đối với các cơ sở tôn giáo như chùa chiền, nhà thờ khi giải tỏa được bố trí xây
dựng mới trên địa điểm và diện tích khu đất phù hợp (thường rộng rãi hơn), nhằm
phục vụ khu dân cư mới.
- Việc giải tỏa di dời ít làm xáo trộn công ăn việc làm của người dân (do đất nước
Singapore quá nhỏ bé nên việc đi lại thuận tiện).
- Không có trường hợp người nông dân tự chuyển nhượng đất cho nhà đầu tư để
xây dựng các khu dân cư (như ở Việt Nam). Lý do là thời gian sử dụng đất khác nhau
và Nhà nước không cho phép. Mọi việc chuyển nhượng làm thay đổi mục đích sử
dụng phải thông qua cơ quan Nhà nước. Nhà nước đóng vai trò trung gian giữa người
sử dụng đất và chủ đầu tư, tránh những tiêu cực trong việc đền bù giải tỏa và không để
ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện dự án theo quy hoạch nói riêng và phát triển kinh tế

có chính sách đền bù thiệt hại. Khi Nhà nước thu hồi đất, kể cả đất nông nghiệp, tuỳ
trường hợp cụ thể, Nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi đất.
Về phương thức đền bù thiệt hại, Nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết
trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm. Người dân có quyền lựa chọn
các hình thức đền bù thiệt hại bằng tiền và tự tìm chỗ ở mới phù hợp với công việc nơi
làm việc của mình.
Về giá đền bù thiệt hại, tiêu chuẩn là giá thị trường. Mức giá này cũng được Nhà
nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà. Đồng thời, được điều chỉnh tại thị
trường đó. Đối với đất nông nghiệp, việc đền bù thiệt hại theo tính chất của đất và loại
đất (tốt, xấu).
12
Về tái định cư, các khu tái định cư và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ và
kịp thời, thường xuyên đáp ứng yêu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu sử dụng khác
nhau. Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền chú ý điều kiện về việc làm,
đối với các đối tượng chính sách xã hội được Nhà nước có chính sách xã hội riêng [17].
 Tại Hàn Quốc
Luật đền bù ở Hàn Quốc được chia làm 02 thể chế. Một là “đặc lệ” liên quan đến bồi
thường thiệt hại cho đất công cộng đã được theo thủ tục thương lượng của pháp luật. Hai
là Luật: “sung công đất” theo thủ tục qui định cưỡng chế của công pháp [42], [20].
Luật “Sung đất công” đã được thiết lập trước vào năm 1962. Sau đó, theo pháp
luật ngoài mục đích thương lượng thu hồi đất công cộng thì còn muốn thống nhất việc
này trên toàn quốc và đảm bảo quyền tài sản của công nên luật này đã được lập vào
năm 1975.
Tuy nhiên, dưới 2 thể chế luật và trong quá trình thực hiện luật “Đặc lệ” thương
lượng không đạt được thoả thuận thì luật “Sung công đất” được thực hiện bằng cách
cưỡng chế nhưng nếu như thế thì phải lặp đi lặp lại quá trình này và đôi khi bị trùng
hợp cho nên thời gian có thể bị kéo dài hoặc chi phí bồi thường sẽ tăng lên. Do đó, cho
đến nay đã có nhiều thoả thuận thống nhất 2 thể chế này thành một và thi hành vào
tháng 01/2003.
Thực hiện luật bồi thường của Hàn Quốc theo luật mới thì sẽ thực hiện theo 3 giai đoạn:

1.875 ha/năm, Long An 2.697 ha/năm, Bến Tre 1.725 ha/năm [40].
Phần lớn quỹ đất để thực hiện các dự án trên địa bàn cả nước được thu hồi một
phần hoặc tất cả diện tích đã giao cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài.
Vì vậy, việc thu hồi đất gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và công việc của đa số
những người dân nằm trong diện có đất bị thu hồi.
Theo Điều 38 Luật đất đai năm 2003 đã quy định Nhà nước thu hồi đất trong
trường hợp “Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không
được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn
hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất
trên thực địa mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất,
cho thuê đất đã cho phép”. Tuy nhiên, quỹ đất thu hồi để giao lại cho các dự án vẫn
còn tình trạng sử dụng không đúng mục đích và không đúng tiến độ theo phương án đã
được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đây là nguyên nhân gây ra lãng phí quỹ đất,
đặc biệt là quỹ đất sản xuất nông nghiệp của người nông dân và sự mất lòng tin của
người dân vào các cấp chính quyền. Tình trạng này không chỉ xảy ra cục bộ ở một địa
phương mà xảy ra ở khá nhiều tỉnh thành trên cả nước.
 Hà Nội
Tình trạng sử dụng quỹ đất thu hồi sai mục đích hoặc không theo tiến độ xảy ra ở
hàng loạt dự án được cấp phép tại Hà Nội. Theo thống kê của Sở Tài nguyên và Môi
trường Hà Nội tính đến năm 2010 có 32 dự án chậm triển khai hơn 12 tháng sau khi
được bàn giao đất, với tổng diện tích hơn 76ha. Mặc dù đã được gia hạn thêm 6 tháng
kể từ tháng 2 năm 2010 đến tháng 9 năm 2010, chỉ có 21 dự án đã tiến hành đầu tư xây
dựng, 6 dự án vẫn chưa xây dựng công trình, với tổng diện tích gần 13ha. Toàn bộ
diện tích đất được giao mới chỉ được san lấp mặt bằng và có tường rào bao quanh.
14
Ngoài ra, còn 5 dự án chưa triển khai do bị điều chỉnh dự án, vướng mắc trong vấn đề
đền bù giải phóng mặt bằng. Như dự án Trung tâm kỹ thuật và tư vấn ở Mê Linh do
báo Phụ nữ Việt Nam làm chủ đầu tư; dự án xây dựng bãi đỗ xe chuyên dùng ở cụm 7,
phường Phú Thượng, Tây Hồ, do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước 1 thành
viên môi trường đô thị Hà Nội làm chủ đầu tư; Dự án xây dựng trụ sở và nhà ở công

15
Trước tình hình sử dụng đất không đúng mục đích và tiến độ thực hiện không
đảm bảo của các dự án, Thanh tra Chính phủ đã tổ chức kiểm tra và rà soát lại quỹ đất
đã được giao cho các dự án trên phạm vi cả nước. UBND các Tỉnh và Thành phố cũng
đã có những quyết định thu hồi quỹ đất không sử dụng đúng mục đích của các dự án.
Các tỉnh như Bình Phước, Phú Yên, Thừa Thiên Huế, Tây Ninh, Vĩnh Phúc đã ra
quyết định thu hồi nhiều diện tích đất trong khi Thanh tra Chính phủ cũng đề nghị xử
lý nhiều sai phạm đất đai.
Đà Nẵng cũng yêu cầu rà soát thu hồi các khu đất chậm xây dựng chung cư cho
công nhân tại khu vực đất kẹp giữa Khu công nghiệp Hòa Khánh và đường ĐT 602,
thuộc dự án của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mabuchi Motor Đà Nẵng, Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Daewon Đà Nẵng và Công ty cổ phần Dệt Hoà Khánh… Đặc
biệt là 2 dự án lớn là Viễn Đông Medirian Towers và Danang Center cũng đã nhận
quyết định thu hồi đất từ UNND Thành phố.
Đáng chú ý nhất là việc cuối năm 2010, Phú Yên cũng thu hồi giấy phép đầu tư
của siêu dự án 11 tỉ USD và 20 dự án treo.
1.4. Quản lý và sử dụng đất trên quan điểm phát triển bền vững
Khái niệm phát triển bền vững do Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển
đưa ra năm 1987 đã được thừa nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Theo đó, phát triển bền
vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm mất đi khả
năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Tư tưởng chủ đạo của phát triển bền
vững chính là sự bình đẳng trong một thế hệ và giữa các thế hệ. Hay nói cách khác,
phát triển bền vững là sự phát triển bảo đảm hài hòa được các mục tiêu về kinh tế, xã
hội và môi trường [26].
Tư tưởng phát triển bền vững đã được hai nhà khoa học Hích (Hicks) và Kan-đô
(Kaldor) đưa ra từ nửa đầu của thế kỷ trước. Theo tư tưởng này, một dự án bất kỳ có
thể xem là có đóng góp vào sự phồn vinh chung của toàn xã hội miễn sao không làm
cho cuộc sống của bất cứ thành viên nào trong xã hội xấu đi. Tuy nhiên, tư tưởng này
rất khó áp dụng trong thực tế vì đại đa số các dự án/chính sách phát triển thường mang
lại lợi ích cho nhóm người này nhưng lại gây thiệt hại cho nhóm người khác. Ví dụ, dự

Quan điểm chủ đạo về phát triển bền vững đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IX xác định là “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi
với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Quan điểm này đã được thể hiện
trong Điều 4 của Luật Bảo vệ môi trường, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua năm 2005. Tuy nhiên, cho đến nay, do quan điểm trên vẫn
chưa được triển khai đầy đủ thành các cơ chế chính sách cụ thể về phát triển bền vững
trong thực tế nên các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan và chủ đầu tư đang rất
lúng túng trong việc giải quyết những bức xúc, khiếu kiện của người dân. Cơ chế,
chính sách bồi thường quyền sử dụng đất hiện hành đang có những bất cập lớn trong
thực tiễn, chưa đặt đúng mức các lợi ích về xã hội và môi trường. Sự thiếu hụt các cơ
chế, chính sách phát triển bền vững còn là một nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng
trong phân chia lợi ích cũng như chia sẻ ô nhiễm môi trường của phát triển. Vì vậy,
trước mắt cần có những nghiên cứu chính sách cụ thể hoá quan điểm chủ đạo về phát
triển bền vững trong quản lý và sử dụng đất, trong đó có những nguyên tắc và cơ chế
bồi thường phù hợp cho người dân [26].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status