LUẬN VĂN:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp ở huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa VII về tiếp
tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn toàn diện là vấn đề rất quan trọng ở huyện Hoà Vang, thành phố Đà
Nẵng. Thời gian qua nông nghiệp, nông thôn phát triển khá nhanh, với những thành tựu
trong các lĩnh vực như chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con
vật nuôi, đã tạo ra khối lượng sản phẩm, hàng hoá đáng kể góp phần thúc đẩy tăng trưởng
nền kinh tế của huyện.
Tuy nhiên, nông nghiệp huyện Hoà Vang phát triển vẫn còn manh mún, quy mô sản
xuất nhỏ, phương thức và công cụ sản xuất lạc hậu, kỹ thuật áp dụng không đồng đều dẫn
đến năng suất thấp, giá thành cao, chất lượng sản phẩm không ổn định. Hơn nữa, sản phẩm
lại chưa được chế biến dẫn đến khả năng cạnh tranh kém.
Để thúc đẩy nông nghiệp huyện Hoà Vang phát triển nhanh cần đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp trên địa bàn huyện là hết sức cần thiết. Vì vậy đề tài
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ở huyện Hoà Vang - thành phố Đà Nẵng”
được tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn cũng đã có nhiều tác giả quan tâm, chẳng
hạn như:
- PGS, TS Nguyễn Sinh Cúc (1991), Thực trạng nông nghiệp, nông thôn và nông
dân Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội.
- GS,TS Đào Thế Tuấn (1986), Chiến lược phát triển nông nghiệp, Nxb Nông
nghiệp.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
huyện Hoà Vang ở thành phố Đà Nẵng, trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2006.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp để nghiên cứu, như: phương pháp duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với phương pháp hệ thống,
điều tra, thống kê, phân tích, so sánh…,
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp.
- Phân tích và đánh giá thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp huyện
Hoà Vang ở thành phố Đà Nằng.
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp ở huyện Hoà Vang - thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn tới.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về đẩy nhanh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ở các tỉnh có địa bàn tương đồng như huyện Hoà
Vang - thành phố Đà Nẵng và làm tư liệu giảng dạy và nghiên cứu môn kinh tế chính trị.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
thành 3 chương, 6 tiết.
Chương 1
CƠ Sở lý luận Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp
1.1. Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp nói riêng
1.1.1. Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hoá kinh tế,
hiện nay trên thế giới một số nước đã và đang phát triển nền kinh tế tri thức, thì quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam còn phải gắn với phát triển kinh trí thức
để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vì vậy, Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần X của Đảng đã xác định Việt Nam cần: "Tranh thủ các cơ hội thuận lợi do
bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển
kinh tế trí thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp
hoá, hiện đại hoá" [17, tr.87].
Như vậy, tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử mà sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở từng nước có những con đường khác nhau cho phù hợp. Song cũng phảỉ thấy rằng
hiện nay khoa học - công nghệ đang phát triển như vũ bão, các nước đi sau cần phải có
nhiều giải pháp để giải quyết vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá cho nước mình một
cách phù hợp, có thể có những công nghệ tiên tiến nhất mới được phát minh, nhưng
cũng có thể có những công nghệ đã được các nước tiên tiến đã sử dụng nhưng đối với
những nước đi sau thì sử dụng có hiệu quả kinh tế cao hơn và có điều kiện chuyển giao.
1.1.2. Vai trò của nông nghiệp đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đât nước, cũng như nâng cao đời sống của nhân dân. Vai trò của nông
nghiệp thể hiện ở chỗ:
Một là, nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm nhu cầu cơ bản cho
con người. Xã hội càng phát triển nhu cầu của con người càng tăng lên và phát triển đa
dạng, như C. Mác đã khẳng định: con người trước hết ăn rồi sau đó mới nói đến hoạt
động khác, mà nông nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sinh hoạt cho con người, như vậy
vai trò của nông nghiệp đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao mức sống cho dân cư,
đảm bảo ổn định chính trị - xã hội của một quốc gia, dân tộc hay một địa phương. Ông
cha ta thường nói: phi nông bất ổn.
Hai là, nông nghiệp cũng là thị trường lớn để tiêu thụ sản phẩm hàng hoá không
nhân, nếu không có một nền nông nghiệp phát triển ít nhiều đến mức có thể làm thị
trường chủ yếu cho công nghiệp và Ông chỉ rõ muốn phát triển công nghiệp phải có ba
điều kiện: một là, phải có thị trường trong nước mà thị trường trong nước lại chủ yếu là
nông dân; hai là, nông nghiệp phải đảm bảo nguồn nguyên liệu tương đối phát đạt, ba là
phải làm cho nông dân có thể dự trữ một số lượng cần thiết về nông sản để cung cấp
cho công nghiệp, cung cấp cho công nhân. J.Stalin đã nhắc lại lời Lênin nói: muốn xây
dựng công nghiệp thì cần phải bắt đầu từ nông nghiệp [21, tr.171]
Bốn là, nông nghiệp là ngành cung cấp một khối lượng hàng hoá lớn cho xuất khẩu
dưới dạng thô hoặc qua chế biến. Đối với các nước đang phát triển nông sản xuất khẩu
là chủ yếu để tạo ra tích luỹ cho tái sản xuất và phát triển nền kinh tế và xã hội.
Năm là, nông nghiệp là khu vực cung cấp lao động phục vụ cho công nghiệp và
các lĩnh vực hoạt động xã hội khác; đây là xu hướng có tính qui luật trong phân công lại
lao động xã hội từ nông nghiệp sang các lĩnh vực khác phụ thuộc vào nhiều nhân tố:
trước hết năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, công nghiệp và dịch
vụ trong thành thị ngày càng mở mang, chất lượng lao động ở nông thôn phải được
nâng cao;
Sáu là, nông nghiệp có một vai trò đặc biệt quan trọng nữa là bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên và môi trường sinh thái. Quá trình phát triển nông nghiệp gắn liền với sử
dụng đất đai, nguồn nước và các loại hoá chất,..; đồng thời việc trồng và bảo vệ
rừng, luân canh cây trồng, phủu xanh đất trống đồi núi trọc, đều có ảnh hưởng đến
môi trường. Phải thấy rằng, việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường
sinh thái còn là điều kiện để quá trình tái sản xuất nông nghiệp diến ra bình thường
và
có
hiệu quả.
Có thể nói, nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế,
việc phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá (điện,
đường, trường, trạm... và các dịch vụ "đầu vào", "đầu ra" của sản xuất nông phẩm hàng
hóa).
- Thực hiện phân công mới lao động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn trên
cơ sở phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống và
dịch vụ theo phương châm "tiểu công nghiệp hiện đại, thủ công nghiệp tinh xảo", từng
bước xác lập cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ ngay trên địa bàn.
Thực hiện chiến lược "li nông bất li hương" nhằm giải quyết việc làm cho nông dân.
- Thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp sinh thái trong khu vực nông nghiệp và
tạo nên bộ mặt nông thôn mới theo diện mạo của công nghiệp và đô thị [19, tr. 100-102]
Nghị quyết Ban chấp hành trung ương 7, khóa VII đã chỉ rõ:
…Trong những năm trước mắt, khả năng vốn còn có hạn, nhu cầu công
ăn việc làm rất bức bách, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tình hình
kinh tế - xã hội chưa thật ổn định vững chắc. Vì vậy, cần tập trung, nỗ lực đẩy
mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, ra sức phát triển các ngành
công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, công nghiệp hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu, các ngành du lịch, dịch vụ... cả ở thành thị và nông thôn [13,
tr.7].
Sở dĩ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là cấp thiết và là nội dung trọng yếu
của CNH, HĐH nền kinh tế trong những năm trước mắt là vì:
Thứ nhất, nước ta có khoảng 80% dân số sống ở nông thôn và làm nông nghiệp,
do đó muốn ổn định tình hình kinh tế, chính trị xã hội của đất nước để tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thì trước hết phải ổn định tình hình kinh tế chính trị xã hội ở
nông thôn. Vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn là vấn đề có vị trí chiến lược trong
sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng XHCN;
Thứ hai, nông nghiệp, nông thôn, nông dân có vai trò và tác dụng tích cực trong
việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;
Thứ ba, kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta cho thấy đẩy mạnh phát triển
ra từ lâu trong lịch sữ xã hội cùng với cuộc cách mạng công nghiệp trong nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa. Trong quá trình nghỉên cứu của mình, mặc dù Mác và Ăng-ghen
không viết một chuyên luận nào về công nghiệp hoá, nhưng trong các công trình nghiên
cứu của mình các Ông cũng đã đề cập đến cách mạng công nghiệp trong nền sản xuất tư
bản như: trong đại công nghiệp, điểm xuất phát của cuộc cách mạng trong phương thức
sản xuất là tư liệu lao động, trước hết là máy công cụ. Máy móc thúc đẩy phân công lao
động xã hội, giảm lao động cơ bắp và làm cho việc nâng cao trình độ học vấn trở thành
bắt buộc đối với người lao động. Mác dự đoán: theo đà phát triển của đại công nghiệp,
việc tạo ra của cải thật sự trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lượng lao
động đã chi phí mà chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và của tiến bộ kỹ
thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất.
Việc cách mạng trong phương thức sản xuất ở lĩnh vực công nghiệp gây ra cuộc
cách mạng trong các lĩnh vực khác làm biến đổi cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao
động. Cách mạng công nghiệp khi Mác - Ăng-ghen nghiên cứu đã diễn ra bắt đầu từ
công nghiệp nhẹ, rồi lan sang nông nghiệp, giao thông vận tải… và cuối cùng xâm nhập
vào công nghiệp nặng. Sự biến đổi cơ cấu ngành diễn ra không ngừng kéo theo sự biến
đổi cơ cấu lao động xã hội, đòi hỏi phải chuyển đổi lao động từ nông nghiệp sang công
nghiệp và các ngành dịch vụ, làm cho lao động nông nghiệp giảm cả tương đối và tuyệt
đối.
Công nghiệp hoá đã làm chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực nông nghiệp và Mác
đã dự đoán công nghiệp hoá sẽ làm chuyển dịch lao động trong nông nghiệp sang các
lĩnh
vực
công
nghiệp
thêm [21, tr.89].
V.I.Lênin còn nhấn mạnh rằng:
Công nghiệp là chìa khoá để cải tạo nền nông nghiệp lạc hậu và phân tán
trên cơ sở tập thể hoá… Do đó, nhiệm vụ là phải cung cấp cho nông nghiệp
đến mức tối đa những công cụ và tư liệu sản xuất cần thiết để xúc tiến và đẩy
mạnh cải tạo nông nghiệp trên cơ sở kỹ thuật mới” và việc cải tạo một nền
nông nghiệp bị chia nhỏ, phân tán là một việc làm hết sức khó khăn cần phải
đi dần từng bước nhưng liên tục và kiên quyết bền bỉ, làm cho nông nghiệp
chuyển qua một cơ sở kỹ thuật mới, cơ sở của nền đại sản xuất, đưa nông
nghiệp lên ngang tầm trình độ công nghiệp xã hội chủ nghĩa. Nếu làm được
việc đó thì thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội mới được đảm bảo [21,
tr.157, 158, 159].
Lênin còn chỉ ra rằng, Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng khi xây dựng được một
nền sản xuất hiện đại trên cơ sở vật chất- kỹ thuật tiên tiến, có năng suất lao động cao
hơn hẳn chủ nghĩa tư bản. Đối với nước có kinh tế lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá
như nước Nga lúc đó thì công nghiệp hoá là bước đi quan trọng để xây dựng cơ sở vật
chất cho chủ nghĩa xã hội, trong đó điện khí hoá là bước quan trọng nhất. Người luôn
coi trọng ngành sản xuất có công nghệ hiện đại và đào tạo cán bộ công nhân có trình độ
cao, nên trong thời kỳ khó khăn sau chiến tranh, vẫn giành chi phí hàng triệu rúp để cử
người ra nước ngoài học tập.
J.Stalin đã tiếp nối quan điểm của Lênin về vấn đề công nghiệp hoá nông nghiệp,
Ông cho rằng muốn đưa nông dân thoát khỏi cảnh nghèo đói thì chỉ có con đường là
phải giúp đỡ nông dân chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu lên một cơ sở kỹ thuật
mới, cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất lớn, hiện đại. Để làm được việc đó thì phải đẩy
nhanh tốc độ phát triển của công nghiệp [21, tr.162].
Không chỉ tác động trực tiếp đến nông nghiệp, công nghiệp phát triển còn thúc đẩy
các quá trình kinh tế khác, gián tiếp mở mang phát triển nông nghiệp, đưa nông nghiệp
hội nhập kinhtế thế giới. Cách mạng công nghiệp tạo điều kiện mở rộng thị trường trong
Đại hội VI vẫn tiếp tục triển khai tư tưởng của Đảng tại đại hội V.
Đại hội VII, Đảng ta đã nhận thức được rằng do chính nhu cầu phát triển của nông
nghiệp, nông thôn mà phải tiến hành công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn. Tư tưởng
này được đưa ra tại Hội nghị trung ương 5, khoá VII. Văn kiện hội nghị trung ương 5,
khoá VII đã viết "Cùng với sự chuyển dịch nội bộ nông nghiệp như trên, phải có chính
sách và chương trình, biện pháp xúc tiến quá trình công nghiệp hoá nông thôn, nhằm
triệt để giải phóng sức sản xuất, tạo thêm việc làm, thúc đẩy phân công lao động theo
hướng ai giỏi việc gì làm việc nấy [12, tr. 12].
Đồng thời Đảng cũng chỉ rõ: “phải sớm phát triển công nghiệp nông thôn, đặc biệt
là công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản …. cần phát triển công nghiệp nông thôn
một cách toàn diện, từ công nghiệp hàng tiêu dùng đến công nghiệp vật liệu xây dựng,
công nghiệp cơ khí chế tạo và sửa chữa với qui mô vừa và nhỏ" [12, tr. 13]
Tại hội nghị trung ương 7, khoá VII, "điểm mới lần này là gắn công nghiệp hoá
với hiện đại hoá, với việc áp dụng rộng rãi những thành tựu của khoa học và công nghệ
tiên tiến của thời đại" [13, tr. 5].
Công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn cũng được gắn với hiện đại hoá. Hơn
thế nữa, do những điều kiện đặc thù phát triển kinh tế xã hội nước ta thời kỳ đó Đảng ta
đã xác định cần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Văn kiện Hội nghị trung ương 7, khoá VII đã nêu:
Trong những năm trước mắt, khả năng vốn còn có hạn, nhu cầu công ăn
việc làm rất bức bách, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tình hình kinh
tế xã hội chưa thật ổn định vững chắc. Vì vậy, cần tập trung nỗ lực đẩy mạnh
công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn…từng bước hiện đại hoá các
ngành nghề tiểu thủ công truyền thống có thị trường tiêu thụ lớn trong và
ngoài
nước [13, tr.7].
Đại hội VIII, tiếp tục tư tưởng Đại hội VII - đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
nghiệp hoá, hiện đại hoá” [17, tr.87] và trước hết tập trung đầu tư nhiều hơn nữa cho
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nhất là qui hoạch kinh kế vùng, ngành
và thông tin dự báo thị trường.
Như vậy, có thể thấy rằng, trong quá trình hoạch định đường lối phát triển kinh tế,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp luôn luôn được đặt trong quan hệ với quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta như:
Từ chỗ xác định nông nghiệp là cơ sở để tiến hành công nghiệp hoá đến chỗ xác
định nông nghiệp là nội dung của công nghiệp hoá.
Tiếp theo là đến xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
là nội dung chính để phát triển kinh tế -xã hội nông thôn và phải được coi là nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu.
Từ chỗ đẩy mạnh đến chỗ cần phải đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn.
Đó là biện chứng của quá trình nhận thức của Đảng về phát triển nông nghiệp,
nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta, mà mỗi bước thực hiện đều làm cho kinh tế - xã
hội nông thôn ngày càng phát triển và đóng vai trò ngày càng to lớn hơn vào sự phát
triển kinh tế - xã hội đất nước.
Như vậy, rõ ràng là phải xuất phát từ nhu cầu nội tại của phát triển nông nghiệp,
nông thôn mà gắn công nghiệp hoá, hiện đại hoá vào trong quá trình phát triển này để
nâng cao năng suất lao động, tạo việc làm, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của
nông dân mới đảm bảo được sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội bền vững.
Có thể khẳng định rằng quá trình nhận thức của Đảng ta về phát triển nông nghiệp,
nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã chứng tỏ Đảng ta ngày càng
chú ý tới đặc điểm quá trình xây dựng CNXH từ một nước nông nghiệp. Đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hiện nay là khơi dậy tiềm
năng của đất nước, chuẩn bị các tiền đề để hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.
năng phát triển kinh tế và giao lưu với các vùng xung quanh huyện và thành phố Đà
Nẵng.
Về địa hình, Hoà Vang có địa hình rộng trên cả ba vùng miền núi, trung du và
đồng bằng, đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của tất cả các ngành kinh tế
và xã hội của huyện, có nhiều tiềm năng và thế mạnh cho sự tăng trưởng kinh tế, đồng
thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho huyện phải vượt qua.
- Vùng núi và núi cao phân bổ hầu hết ở các xã phía Tây Bắc, trong đó có 4 xã miền
núi là Hoà Bắc, Hoà Ninh, Hoà Phú và Hoà Liên với diện tích 56.476,8 ha, bằng 79,84%
tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, đa số đồi núi có độ cao từ 400m đến 500 m, cao nhất là
đỉnh núi Bà Nà (1487m). Đất đai có nguồn gốc chủ yếu đá biến chất, đất đỏ vàng… ở đây
tạp trung nhiều rừng đầu nguồn, có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của huyện và thành
phố.
- Vùng trung du phân bổ tiếp giáp giữa vùng núi và đồng bằng với diện tích
11.171 ha chiếm 15,79%, hầu hết là đồi núi thấp xen kẽ với những cánh đồng nhỏ hẹp,
bao gồm các xã Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà Nhơn và Hoà Sơn. ở đây phần lớn đất bị
xói mòn, bên cạnh đó có một số diện tích được bồi đắp bởi lớp phù sa mới và phù sa
ven suối bồi tụ hằng năm.
- Vùng đồng bằng hẹp, tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 2 đến dưới
10m, đất chủ yếu được bồi dắp bởi phù sa ven sông mang lại hằng năm do lũ lụt ngập
lớn, gồm các xã Hoà Phước, Hoà Châu và Hoà Tiến, có tổng diện tích tự nhiên 3087.2
ha, chiếm tỷ lệ 4,36%, nhưng dân số lại tập trung chiếm 33 % của toàn Huyện.
Về khí hậu, Hoà Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, có một mùa
mưa và một mùa khô, thỉnh thoảng có đợt rét mùa đông nhưng không rét đậm và kéo
dài. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,6 0C, độ ẩm tương đối trung bình là 82%, lượng
mưa trung bình 1870mm.
Hướng gió thịnh hành xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 2 là gió mùa Đông Bắc,
hướng gió chính từ tháng 5 đến tháng 7 là gió mùa Đông Nam và Tây Nam.
Chế độ ánh sáng, mưa ẩm phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp, trồng rừng. Tuy nhiên, do địa hình dốc, lượng mưa thường tập trung vào tháng
nuôi trồng thuỷ sản vẫn còn tương đối lớn cần khai thác trong thời gian đến. Đặt biệt
Hoà Vang là địa bàn diện tích đất rừng lớn, có khả năng phát triển kinh tế trang trại và
mô hình VACR.
Vốn diện tích đất rừng 53.306,05 ha và c hủ yếu nằm về phía Tây và Tây Bắc
Hoà Vang, ngoài phát triển kinh tế, rừng Hoà Vang có vai trò rất quan trọng trong
việc phòng hộ, chống lũ lụt và bảo vệ môi trường sinh thái cho huyện và thành phố
Đà Nẵng. Đồng thời, còn làm phong phú đa dạng hệ sinh thái và tài nguyên động
thực vật, có ý nghĩa phục vụ cho nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch, nhất là
khu vực Bà Nà - Núi Chúa.
Vùng núi và trung du có hệ sinh thái đa dạng, thuộc vùng khí hậu nhiết đới gió
mùa, các điều kiện tự nhiên đã hình thành và phát triển một thảm thực vất phong phú,
có nhiều lớp thực vật và phát triển theo tầng. Song do ảnh hưởng của chiến tranh và sự
tàn phá của con người làm cho thảm thực vật đần dần bị huỷ diệt, hiện nay trong vùng
này đang trong giai đoạn phục hồi, nhưng vẫn chưa phủ xanh hết.
Nói chung rừng và thảm thực vật có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi
trường, hạn chế mức độ rửa trôi bạc màu do tốc độ lũ hàng năm tàn phá. Do vậy Hoà
Vang rất chú trọng đến bảo vệ rừng và thảm thực vật để hạn chế suy thoái môi trường
đất.
Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất tính đến tháng 10 năm 2006 (*)
Hiện trạng
TT
Hạng mục
*
Diện tích tự nhiên
102,09
0,17
72,49
0,12
6290,18
8,89
Đất ở
2569,13
40,84
Đất chuyên dùng
1500,61
23,86
37,72
0,60
487,27
Đất nuôi trồng thuỷ sản
Đất nông nghiệp khác
2
Đất phi nông nghệp
Trong đó:
Đất tín ngưỡng, tôn giáo
Đất nghĩa trang, nghĩa địa
3
Trong đó:
Đất bằng chưa sử dụng
Nguồn: Báo cáo của UBND huyện về tổng kết 5 năm (2001-2005) và phát triển
nông nghiệp huyện Hoà Vang.
Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
TT
Loại đất
Đất nông nghiệp
Diện tích
Tỷ lệ
(ha)
1537,44
29
903,40
14,56
Đất Lâm nghiệp
53.306.05
89,31
2.1 Đất rừng kinh tế
29.794,93
55,89
2.2 Đất rừng phòng hộ
12.658,72
23,75
10.852,7
20,36
ngói, đồ gốm.
Tài nguyên du lịch: Hoà Vang có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho các loại
hình phát triển du lịch đa dạng: du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng khu vực Bà Nà- Núi