Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh huyện Quế Võ - Pdf 35

Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

1

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Khoa quản lý kinh doanh

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

PHIẾU ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT
về CHUYÊN MÔN và QUÁ TRÌNH THỰC TẬP CỦA SINH VIÊN

Họ và tên:

Hứa Thị Nhung Bắc

Mã sinh viên: 0741270047

Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG
STT
Bảng 1.1
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
Bảng 2.9

Tên bảng
Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy mô về vốn và số lao động
Chỉ tiêu tài chính của Chi nhánh giai đoạn 2013-2015
Kết quả hoạt động của Chi nhánh giai đoạn 2013-2015
Cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn vay
Dư nợ cho vay DNNVV chia theo thời hạn vay
Dư nợ cho vay đối với DNNVV theo lĩnh vực kinh tế
Cơ cấu dư nợ cho vay DNNVV theo thành phần kinh tế
Bảng số liệu về phân loại nợ cho vay DNNVV theo nhóm
Tỷ lệ nợ quá hạn phân theo thời hạn vay
Tình hình nợ xấu các khoản vay của DNNVV


4

DNNVV

Doanh nghiệp nhỏ và vừa

5

NH

Ngân hàng

6

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

7

NHNo&PTNT

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

8

NHTM

Ngân hàng thương mại

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, trên địa bàn huyện Quế Võ nói riêng và tỉnh Bắc Ninh
nói chung số lượng DNNVV không ngừng tăng lên và dần khẳng định mình trong nền
kinh tế của Tỉnh. Hàng năm DNNVV đóng góp 40% GDP của tỉnh, cùng với đó
DNNVV đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đặc biệt với tỉnh đang phát triển
kinh tế như tỉnh Bắc Ninh. Chính vì vậy tỉnh Bắc Ninh luôn có các chính sách ưu đãi
với các DNNVV nhằm thúc đẩy thành phần kinh tế này phát triển, nâng cao hiệu quả
kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Nhận thức được điều này, trong thời gian qua các NHTM trên địa bàn Bắc Ninh
đã chú trọng quan tâm đến các DN này. Nhất là khi cạnh tranh giữa các ngân hàng
càng trở nên khốc liệt thì việc nhắm đến DNNVV như là một đối tượng khách hàng
đầy tiềm năng và là chiến lược phát triển tất yếu đối với NHTM. Tuy nhiên việc tiếp
cận đến nguồn vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh sản xuất gặp nhiều khó
khăn và hạn chế đồng thời chất lượng hoạt động cho vay các khoản vay với các
DNNVV còn chưa hiệu quả. Chính vì thế loại hình tín dụng đối với các DN này của
các NHTM cần được cải thiện và chú ý nhằm nâng cao chất lượng các khoản vay và
khích thích các DN hoạt động được hiệu quả.
Tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh huyện Quế Võ
vấn đề hoạt động cho vay đặc biệt là hoạt động cho vay đối với DNNVV trong thời
gian qua vẫn chưa đạt được chỉ tiêu đề ra của chi nhánh. Xét về quy mô cũng như tiềm
lực hoạt động tín dụng đối với DNNVV còn chưa thực sự xứng tầm với quy mô và sự
phát triển của chi nhánh trong hệ thống Agribank.
Từ những vấn đề nêu trên, em quyết định lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao
chất lượng hoạt động cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh huyện Quế Võ” làm đề tài luận văn cho
mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát


4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp tổng hợp: phương pháp phân
tích, so sánh, tổng hợp, thu thập thông tin…

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn đối với chất lượng hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
chi nhánh huyện Quế Võ nói riêng.

6. Kết cấu bài luận văn
Ngoài các mục như phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục
tài liệu tham khảo, các danh mục bảng biểu, biểu đồ… Luận văn được chia làm 3
chương:
CHƯƠNG 1: Những lý luận cơ bản về hoạt động cho vay và chất lượng hoạt động
cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng Thương mại
CHƯƠNG 2: Thực trạng hoạt động cho vay và chất lượng hoạt động cho vay
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triên nông thôn chi
nhánh huyện Quế Võ

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

6

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

Doanh nghiệp có thể được hiểu một cách chung nhất là tổ chức kinh tế được thành lập
nhằm sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường.
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV được Chính
phủ ban hành ngày 30/6/2009 thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11
năm 2001 của Chính phủ đã đưa ra định nghĩa về DNNVV tại Điều 3 của Nghị Đinh:
“DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được
chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn từ 10 tỷ trở xuống
(tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán
của DN) hoặc số lao động bình quân năm không quá 300 người (tổng nguồn vốn là
tiêu chí ưu tiên).”
Ngoài ra theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp
nhỏ và vừa được chia thành hai cấp: nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng
nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm, cụ thể như trên bảng 1:
Bảng số 1.1: Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy mô về vốn và số lao động

Quy mô

Khu vực
Nông, lâm nghiệp &
thủy sản
Công nghiệp và xây
dựng
Thương mại và dịch
vụ

Doanh nghiệp nhỏ

Doanh nghiệp vừa



Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

8

Tổng nguồn
vốn
(tỷ VNĐ)

Số lao động
(người)

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

1.1.2. Đặc điêm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thứ nhất, DNNVV có quy mô hoạt động nhỏ, cơ cấu tổ chức đơn giản, linh
hoạt dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường. Doanh nghiệp nhỏ và vửa có số vốn
đăng kí là dưới 10 tỷ đồng và số lượng lao động trung bình không quá 300 người. Do
đó, có thể nói quy mô hoạt động của những doanh nghiệp này là không lớn khi so sánh
trong tương quan nền kinh tế. Bộ máy quản lý gọn nhẹ, quy mô vốn nhỏ, cơ sở vật
chất không lớn...nên các DNNVV có thể dễ dàng thực hiện chuyên môn hóa nhằm đáp
ứng như cầu ngày càng cao của thị trường. Mặt khác các DNNVV có khả năng phản
ứng nhanh trước những biến động của thị trường, có thể chuyển đổi hoặc thu hẹp quy
mô sản xuất cho phù hợp với nhu cầu trên thị trường.
Thứ hai, năng lực tài chính thấp. Vốn luôn là khó khăn lớn nhất đối với sự phát


Khoa Quản Lý Kinh Doanh

cao cho người lao động nên khó có khả năng thu hút những người lao động có trình độ
chuyên môn cao trong sản xuất kinh doanh và quản lý điều hành doanh nghiệp.
Thứ năm, khả năng cạnh tranh thấp. Do đặc điểm lượng vốn hoạt động nhỏ,
thêm vào đó khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khác là thấp nên các DNNVV
thường gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô hoạt động, triển khai các dự án lớn,
đầu tư sản xuất mới. Điều này làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm. Cũng vì lý do
vốn mà các doanh nghiệp này có nhiều hạn chế trong việc marketing, quảng cáo sản
phẩm, nắm bắt thông tin thị trường... Những điều này đã hạn chế khả năng chiếm lĩnh
thị trường, cũng như việc phát triển doanh nghiệp, do đó mà sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thấp.
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Vai trò của các DNNVV không chỉ thể hiện ở giá trị kinh tế mà các doanh
nghiệp này đóng góp mà còn thể hiện ở việc tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo
và giảm bớt khoảng cách giữa các vùng trong cả nước. Cụ thể là:
Thứ nhất, DNNVV tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động. Việc
làm là một trong những vấn đề cấp bách của nước ta hiện nay. Theo dự báo, từ nay
cho đến năm 2016, mặc dù dân số đã tăng chậm nhưng do nguồn lao động vẫn tăng
nhanh nên sẽ tạo ra sức ép rất lớn cho vấn đề giải quyết việc làm. Trên thực tế, toàn bộ
DNNN trong thời gian qua mỗi năm chỉ thu hút được khoảng 1,6 triệu lao động trong
khi các DNNVV tạo ra khoảng 50-80% việc làm trong khu vực công nghiệp - dịch vụ.
Sự phát triển của các DNNVV cũng giúp tác động tới cơ cấu lao động, tạo sự chuyển
dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực.
Thứ hai, DNNVV góp phần khai thác và tận dụng các nguồn lực xã hội. Hiện
nay, còn rất nhiều tiềm năng trong các bộ phận dân cư mà chúng ta chưa khai thác
được hết như tiềm năng về trí tuệ, tay nghề, vốn… Khu vực DNNVV thu hút được
một lượng vốn lớn trong dân cư do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán, đi sâu vào từng ngõ
ngách, bản làng. Do yêu cầu về số lượng vốn ban đầu không nhiều nên có thể tận dụng

thương mại
1.2.1. Khái niệm cho vay, cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu đem lại nguồn thu lớn nhất
cho các NHTM. Khái niệm tín dụng đã xuất hiện từ lâu và rộng khắp trên thế giới và
Việt Nam, Theo cách hiểu hiện nay thì tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa
trên sự tin tưởng số vốn đó được hoàn lại vào một thời điểm trong tương lai.
Theo quyết định số 127/2005/QĐ – NHNN của Thống đốc NHNN về việc ban
hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với KH, cho vay là một hình thức cấp
tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho KH sử dụng một khoản tiền để sử dụng
vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc
và lãi.
Cho vay DNNVV là hình thức cho vay mà theo đó NHTM cho DNNVV sử dụng
một khoản tiền để dùng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên
tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Khái niệm cho vay DNNVV là cơ sở trong việc phân loại các phương thức cho
vay cũng như xác định đối tượng KH vay vốn của NHTM.
1.2.2. Đặc điêm cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa so với các đối tượng khác
Quy mô hợp đồng cho vay thường nhỏ nhưng ngân hàng vẫn phải thực hiện các thủ
tục cho vay bao gồm tất cả các công đoạn như tìm hiểu thông tin về khách hàng, thẩm

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7
Nghiệp

11

Luận Văn Tốt


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội


1.2.3. Quy trình cho vay
Hầu hết các NHTM đều thiết kế cho mình quy trình cho vay cụ thể, bao gồm
nhiều bước đi khác nhau và quy trình cho vay DNNVV cũng nằm trong quy trình cho

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7
Nghiệp

12

Luận Văn Tốt


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

vay chung được thực hiện theo một trình tự 7 bước:
Bước 1: Hướng dẫn KH lập hồ sơ xin vay: Lập hồ sơ xin vay được thực hiện
ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu vay vốn. Tùy theo mối
quan hệ của khách hàng với NH, loại cho vay yêu cầu và quy mô vốn vay, cán bộ tín
dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ với những thông tin yêu cầu khác nhau.
Bước 2: Tiếp nhận, phân tích và thẩm định hồ sơ: Phân tích và thẩm định cho
vay là phân tích tình hình thực tế và tiềm năng tài chính của khách hàng, thẩm định tính
khả thi của dự án và các phương án sử dụng vốn vay, khả năng hoàn trả, thu hồi vốn
vay, tính hợp pháp của tài sản thế chấp cầm cố.
Bước 3: Quyết định và ký hợp đồng tín dụng: NH căn cứ vào kết quả của quá
trình phân tích và thẩm định ở khâu trước để quyết định có cho vay hay không. Sau khi
ra quyết định tín dụng, nếu chấp thuận cho vay thì cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn khách
hàng ký kết hợp đồng tín dụng.
Bước 4: Giải ngân: Là khâu tiếp theo sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết. Đó


hay khách hàng. Việc xem xét chất lượng cho vay phải có sự đánh giá từ nhiều góc độ
khác nhau: từ phía ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.
Xét từ góc độ ngân hàng thì chất lượng cho vay thể hiện ở mức độ an toàn và
khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động này mang lại. Khi cho vay, điều mà
ngân hàng quan tâm là khoản vay đó phải được đảm bảo an toàn, sử dụng đúng mục
đích, phù hợp với chính sách cho vay của ngân hàng, được hoàn trả cả gốc và lãi đúng
hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh
tranh của ngân hàng trên thị trường.
Xét từ góc độ khách hàng, một khoản cho vay được khách hàng đánh giá là tốt
khi nó thoả mãn được nhu cầu của họ. Mức độ thoả mãn của khách hàng thể hiện ở
chỗ khoản cho vay đó được cung ứng một cách đầy đủ, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn
của họ với lãi suất, kỳ hạn, phương thức giải ngân, thu nợ hợp lý, các thủ tục vay vốn
được tiến hành nhanh gọn, tiết kiệm thời gian và chi phí.
Xét từ góc độ nền kinh tế – xã hội, chất lượng cho vay là khả năng đáp ứng
những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong lĩnh vực mà khoản cho vay của ngân
hàng tham gia hoạt động. Chất lượng các khoản cho vay tốt đồng nghĩa với việc sản
xuất kinh doanh có hiệu quả, sản phẩm cung ứng với chất lượng tốt và giá thành hợp
lý, đáp ứng nhu cầu trong nước, một phần cho xuất khẩu và có sức cạnh tranh trên thị
trường góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao
động, ngoài ra nó còn thể hiện tính an toàn cao của hoạt động ngân hàng, nâng cao khả
năng thanh toán, chi trả và hạn chế được rủi ro.
1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thứ nhất, việc đánh giá hiệu quả cho vay này giúp ngân hàng đánh giá được
mức độ rủi ro và khả năng sinh lời của các khoản cho vay DNNVV. Từ đó ngân hàng
đưa ra các giải pháp nhằm tăng doanh thu và lợi nhuận và tránh được những rủi ro do
hoạt động cho vay DNNVV đem lại.
Thứ hai, giúp ngân hàng có những điều chỉnh trong quy trình vay vốn, điều kiện vay
vốn và chính sách ưu đãi về lãi suất phù hợp hơn để khuyến khích các DNNVV sử


duy trì hoạt động mà còn giúp Ngân hàng phát triển. Nếu đi ngược lại mục tiêu trên,
Ngân hàng sẽ đi đến chỗ tự huỷ diệt chính mình.
Thứ ba, khi việc đánh giá chất lượng hoạt động cho vay DNNVV đã là tiền đề
để nâng cao chất lượng của hoạt động này, giúp cho các DNNVV sẽ tiếp cận được
nguồn vốn ngân hàng thuận lợi hơn. Điều này không chỉ mang lại hiệu quả cho doanh
nghiệp nói riêng, mà còn cho các NHTM và cả nền kinh tế nói chung.
Do đó, việc đánh giá chất lượng cho vay DNNVV là rất cần thiết, bởi lẽ các
DNNVV là bộ phận khách hàng có tiềm năng rất lớn đối với NHTM nói riêng và có ý
nghĩa quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia nói chung. Chính vì vậy, việc đánh giá
hoạt động cho vay sẽ đưa ra được một kết luận về chất lượng của hoạt động này ở các

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7
Nghiệp

15

Luận Văn Tốt


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

NHTM, từ đó tìm ra được những thiếu sót còn tồn tại, lấy đó làm tiền đề tìm cách khắc
phục và nâng cao chất lượng của hoạt động cho vay DNNVV trong tương lai.
1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và
vừa
Thực tế chất lượng hoạt động tín dụng là một khái niệm tương đối và không có
một chỉ tiêu tổng hợp nào để phản ánh nó một cách chính xác. Để đánh giá chất lượng
tín dụng của một NHTM, người ta dùng một tập hợp các chỉ tiêu khác nhau. Về cơ

16

Luận Văn Tốt


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cho vay DNNVV thấp sẽ được đánh giá là có
chất lượng cho vay cao và ngược lại nếu tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là chất
lượng cho vay thấp.
Đây có thể nói là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất
lượng cho vay của NH. Vì trong nền kinh tế thị trường nhiều biến động, rủi ro thì nợ
quá hạn của NH luôn tồn tại tất yếu, khó có thể tránh khỏi. Tỷ lệ nợ quá hạn DNNVV
cho biết tỷ trọng các khoản nợ quá hạn DNNVV trong tổng dư nợ cho vay DNNVV
của NH. Việc có quá nhiều các khoản nợ quá hạn DNNVV hay tỷ trọng của khoản
mục này càng cao sẽ càng làm giảm thu nhập, kéo dài thời gian thu hồi vốn của NH
trong một khoảng thời gian nhất định, và thậm chí có thể xảy ra tình trạng xấu nhất là
mất vốn, NH cho vay mà không thu hồi được vốn của mình. Từ đó làm giảm hiệu quả
khoản vay và lợi nhuận của NH. NH có tỷ lệ nợ quá hạn cho vay DNNVV cao sẽ bị
đánh giá là chất lượng cho vay thấp. Vậy nên, để đảm bảo an toàn vốn, khả năng sinh
lời và tăng khả năng cạnh tranh NH phải cố gắng giảm thiểu tỷ lệ nợ quá hạn.


Chỉ tiêu tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay DNNVV

Dự phòng rủi ro được nêu trong quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ban hành
ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước. Theo đó:
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Tỷ lệ nợ xấu cho vay DNNVV

=

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

Nợ xấu cho vay DNNVV
Tổng dư nợ cho vay DNNVV

1.3.3.2. Nhóm chỉ tiêu định tính
Trong quá trình đánh giá hoạt động cho vay DNNVV, ngoài những chỉ tiêu có
thể lượng hoá được như các chỉ tiêu định lượng thì còn có rất nhiều yếu tố, chỉ tiêu mà
chúng ta không dùng các công thức để có thể lượng hoá được. Đó là các chỉ tiêu định
tính. Các chỉ tiêu định tính trong quy chế, chế độ, thể lệ tín dụng, qua mức độ thoả mãn
của KH đối với sản phẩm của NH, hay độ tín nhiệm của KH đối với NH.
Thứ nhất, chất lượng cho vay thể hiện ở sự thỏa mãn nhu cầu vốn của các
DNNVV. Điều này được biểu hiện bằng việc các DNNVV có được đáp ứng vốn một
cách kịp thời, nhanh chóng và thuận tiện hay không? Mỗi DN khác nhau có nhu cầu
vay vốn, thời hạn vay và phương thức vay khác nhau. Do vậy, các NH cần đưa ra được
các phương thức cho vay đa dạng và phù hợp với từng nhu cầu của các DN với một
quy trình cho vay khoa học, chi tiết, rõ ràng nhưng phải nhanh chóng, tiết kiệm được
thời gian và chi phí.
Thứ hai, chất lượng cho vay thể hiện ở việc chấp hành các bước cụ thể trong
quy trình tín dụng: Đây là việc làm cơ bản mà theo nguyên tắc là không thể bỏ qua bất
kỳ một khâu nào. Nó là cơ sở pháp lý đảm bảo cho món vay được an toàn, hiệu quả,
đúng quy trình.
Nhóm chỉ tiêu định tính trên đây đã có thể phản ánh một phần của hiệu quả hoạt

DNNVV nói riêng đạt được hiệu quả.

1.4.1.2. Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của một NHTM được xem như là kim chỉ nam trong hoạt
động cho vay của NH đó và chính sách cho vay DNNVV cũng nằm trong khuôn khổ
chính sách tín dụng của NH. Khi mà NH có một chính sách tín dụng đúng đắn, đồng
bộ, khoa học và thống nhất thì nó sẽ xác định cho các cán bộ tín dụng một phương
hướng đúng đắn khi thực hiện nhiệm vụ của mình từ đó nâng cao được hiệu quả của
hoạt động cho vay. Tuy nhiên, khi chính sách tín dụng đặt ra không đầy đủ, đúng đắn,
khoa học sẽ tạo ra một định hướng lệch lạc cho họat động tín dụng, dẫn đến việc cấp
tín dụng không đúng đối tượng, không đúng mục đích hoặc tạo ra khe hở cho người sử
dụng vốn và từ đó sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế thậm chí dẫn đến rủi ro tín dụng.

1.4.1.3. Chất lượng và tính đa dạng của các hình thức cho vay
Đây là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay của NH. Một
NH sẽ ít có khả năng lớn mạnh, khả năng mở rộng cho vay nếu những sản phẩm cho
vay mà nó cung cấp cho khách hàng là đơn điệu, chất lượng hoạt động không cao. Đặc
biệt trong điều kiện các sản phẩm dành cho DNNVV của NH có tính khác biệt hóa
không cao và cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, khốc liệt như ngày nay thì buộc
các NH phải không ngừng nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ và thực hiện đa
dạng hóa sản phẩm, tạo ra tính khác biệt cho sản phẩm NH để củng cố và mở rộng thị
phần, duy trì khả năng cạnh tranh của chính NH mình.

1.4.1.4. Thông tin tín dụng
Khi cho vay, thông tin người đi vay hay rộng hơn thông tin tín dụng là tất cả
các thông tin về tài chính, quan hệ tín dụng, đảm bảo tiền vay, tình hình tín dụng và

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7
Nghiệp


giấy tờ khác. Khi đó cán bộ tín dụng sẽ kiểm tra tính hợp lệ hợp pháp của các loại giấy
tờ, xem xét khả năng tài chính của DN và tính khả thi của dự án. Việc này đòi hỏi cán
bộ tín dụng phải có trình độ về kế toán, kiểm toán, nắm chắc các quy định của pháp
luật và quy chế cho vay của NH. Bên cạnh đó cán bộ tín dụng phải có khả năng xử lý
tổng hợp thông tin về các vấn đề kinh tế xã hội có liên quan tới lĩnh vực kinh doanh
của DN, như nhu cầu của thị trường, khả năng xâm nhập thị trường, khả năng cung
ứng nguyên vật liệu cho dự án... Nếu cán bộ NH có hiểu biết rộng các lĩnh vực kinh tế
xã hội và đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn thì mới đưa ra được đánh giá chính xác
nhất năng lực tài chính của DN, đưa ra hạn mức tín dụng đáp ứng được nhu cầu về vốn
vay của DN và phù hợp với khuôn khổ cho vay của NH. Điều này không chỉ hữu ích

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7
Nghiệp

20

Luận Văn Tốt


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

đối với DN mà còn giúp NH tăng thêm mối quan hệ với những KH tiềm năng là
DNNVV, hạn chế rủi ro đối với khoản vay. Ngược lại, nếu cán bộ tín dụng không có
đầy đủ kiến thức, năng lực và không nắm chắc quy định cho vay của NH sẽ dẫn đến
việc không xác định đúng năng lực của DN và tính khả thi của dự án đầu tư, khiến cho
DN không được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời. Mặt khác, nếu đánh giá tính khả thi của
dự án cao hơn thực tế sẽ tăng thêm nhiều rủi ro trong cho vay của NHTM.




Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

DN là một trong những yếu tố nhất thiết mà NH sẽ phải xem xét và cân nhắc trước khi
có quyết định cho vay hay không.

 Sự minh bạch trong hệ thống kế toán tài chính của các DNNVV và Đạo đức kinh
doanh của chủ doanh nghiệp
Sự minh bạch trong các hệ thống báo cáo tài chính, giấy tờ sổ sách kế toán của
DN thể hiện ở việc DN đó có áp dụng đúng các chuẩn mực kế toán, có hệ thống kiểm
soát độc lập, hoàn toàn tuân thủ đúng pháp luật về chế độ tài chính – kế toán. Khi đó
các thông tin trên các tài liệu kế toán, báo cáo tài chính sẽ là một cơ sở để đánh giá
tình hình tài chính của KH, từ đó mà có thể ra quyết định cho vay đối với KH.
Đạo đức kinh doanh của DNNVV thể hiện ở việc DN trung thực, sử dụng vốn
đúng mục đích, quản lý tốt, báo cáo thật, đảm bảo hoạt động kinh doanh được lành
mạnh, đảm bảo trả nợ được cho NH. Đây là một trong những yếu tố quyết định đến
khả năng tiếp cận vốn NH của DNNVV và đồng thời cũng thể hiện thiện chí trả nợ của
chủ DNNVV.

1.4.2.2. Môi trường vĩ mô
 Môi trường kinh tế
Mọi hoạt động kinh doanh đều chịu sự chi phối của các chính sách kinh tế vĩ
mô của nhà nước, các quy luật cung-cầu, các biến động vĩ mô của thị trường . Bản
thân NH là một chủ thể hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng rất
lớn từ môi trường kinh tế. Trên cơ sở tình hình kinh tế cùng với những chủ trương,
chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước thì các DN sẽ xác định mục tiêu kinh
doanh của mình, cân đối tài chính để xác định nhu cầu vay vốn NH. Đồng thời, các

Môi trường pháp lý là một hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến toàn bộ các
hoạt động của NH nói chung và hoạt động cho vay nói riêng. Khi một hệ thống pháp
luật đồng bộ, phù hợp thì sẽ tạo ra được một hành lang an toàn cho hoạt động của các
NHTM, không chỉ tạo điều kiện cho các NHTM xây dựng chính sách tính dụng, cơ
cấu cho vay một cách hợp lý mà còn giúp các DN nắm bắt thông tin, xây dựng các
chiến lược kinh doanh dựa trên những nguồn vốn có khả năng tiếp cận. Trong khi đó,
một hệ thống pháp lý chồng chéo, không đồng bộ thì sẽ gây ra những khó khăn cho
NH trong việc thực hiện các hợp đồng tín dụng và sẽ ảnh hưởng đến khả năng cho vay
đối với các thành phần kinh tế.

 Môi trường cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh hoạt động giữa các NHTM hay giữa
các doanh nghiệp là nhân tố khách quan. Nếu môi trường cạnh tranh chịu ảnh hưởng
của một thế lực nào đó, từ đó phản ánh sai lệch tình hình thực tế sẽ gây ra tổn thất lớn
cho không chỉ NHTM mà cả DNNVV. Nó đồng nghĩa với việc giảm chất lượng tín
dụng đối với DNNVV ở các NHTM. Thực tế cho thấy các doanh nghiệp lớn có sức
mạnh thị trường có thể làm cho môi trường cạnh tranh trở nên méo mó. Khi đó, ngân
hàng có thể chỉ thu thập được các thông tin sai lệch so với thực tế về DNNVV, từ đó
dẫn đến những quyết định sai lầm. Rõ ràng, môi trường cạnh tranh có tác động không
nhỏ đến chất lượng của hoạt động cho vay đối với các DNNVV.
Bên cạnh đó, chất lượng tín dụng đối với các DNNVV còn chịu ảnh hưởng của
một số nhân tố bất khả kháng như thảm hoạ tự nhiên, hỏa hoạn, chiến tranh,… Chúng

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7
Nghiệp

23

Luận Văn Tốt


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN CHI CHÁNH HUYỆN QUẾ VÕ
2.1.

Tổng quan về Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bắc Ninh

2.1.1. Tình hình phát triên Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm: tam giác tăng trưởng Hà Nội Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế
mạnh. Bắc Ninh hiện là một trong 15 tỉnh dẫn đầu cả nước về thu hút FDI, trở thành
điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Cùng với đó Bắc Ninh cũng đã quy hoạch nhiều
cụm công nghiệp làng nghề và đa nghề. Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp vừa
và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề đã được đầu tư hạ tầng kỹ thuật, sẵn sàng mời nhà
đầu tư vào thực hiện đầu tư. Đến nay, tỉnh Bắc Ninh đã quy hoạch, xây dựng 23 khu
công nghiệp, cụm công nghiệp vừa và nhỏ ở tất cả các huyện, thị xã với tổng diện tích
514,96 ha phục vụ cho chủ trương phát triển mạnh sản xuất công nghiệp để đến năm
2015 tỉnh đạt được mục tiêu cơ bản là tỉnh công nghiệp.
Số lượng, quy mô doanh nghiệp trong năm 2010, Tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện
cấp GCN ĐKKD cho 797 doanh nghiệp, trong đó: 748 doanh nghiệp được cấp GCN
ĐKKD theo Luật Doanh Nghiệp, 100% doanh nghiệp được thành lập mới năm 2010 là
doanh nghiệp nhỏ và vừa; 49 doanh nghiệp FDI được cấp GCN đầu tư gắn với thành
lập doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện theo Luật Đầu tư; đến hết năm 2014,
tỉnh Bắc Ninh có tổng số 5293 doanh nghiệp, trong đó có 5 doanh nghiệp nhà nước và
5013 doanh nghiệp tư nhân, 275 doanh nghiệp FDI.

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7
Nghiệp

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status