Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
MỤC LỤC
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 1
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Ý nghĩa của từ
DTT
Doanh thu thuần
ĐHĐCĐ
Đại hội đồng cổ đông
HĐQT
KPT
Khoản phải thu
HTK
Hàng tồn kho
TSLĐ
Tài sản lưu động
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 2
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Hình 2.1
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty
Hình 2.2
Nguồn hình thành vốn lưu động
Cơ cấu nợ ngắn hạn của công ty
Bảng 2.8
Diến biến vốn lưu động của công ty
Bảng 2.9
Bảng 2.10
Cơ cấu vốn lưu động của công ty các năm 2013-2015
Tình hình sử dụng vốn lưu động của công ty
Bảng 2.11
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Bảng 2.12
Cơ cấu vốn bằng tiền của công ty năm 2013-2015
Bảng 2.13
Một số chỉ tiêu về khả năng thanh toán của công ty
Bảng 2.14
Kết cấu, diễn biến các khoản phải thu năm 2013-2015
Bảng 2.15
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chúng ta chưa đánh giá hết được vai
trò thiết yếu của việc sử dụng vốn nên dẫn đến hiện tượng sử dụng vốn còn hạn chế,
các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong cơ chế này được bao tiêu cung ứng, chính
vì thế hiệu quả sử dụng vốn chưa được chú ý đến, do đó không mang lại hiệu quả cao,
lãng phí nguồn nhân lực. Hiện nay, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với
việc chuyển dịch cơ chế quản lý kinh doanh đó là việc mở rộng quyền tự chủ, giao vốn
cho các doanh nghiệp tự quản lý và sử dụng theo hướng lời ăn lỗ chịu. Bên cạnh đó,
nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế, các doanh nghiệp đang đối mặt với cạnh
tranh gay gắt và điều này đã tạo cơ hội, thách thức cho các doanh nghiệp trong quá
trình sản xuất kinh doanh. Đối với những doanh nghiệp năng động, sớm bắt nhịp cơ
chế thị trường đã sử dụng vốn có hiệu quả nhưng cũng còn có những doanh nghiệp
gặp khó khăn trong tình hình sử dụng vốn. Và có thể nói, vốn là một yếu tố quan trọng
quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn là chìa khóa, là
điều kiện tiền đề cho các doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu kinh tế là lợi nhuận, lợi
thế và an toàn. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh không còn là
khái niệm mới mẻ nhưng nó luôn đặt ra trong suốt quá trình hoạt động của doanh
nghiệp.
Công ty cổ phần may và thương mại quốc tế INDICO đã trải qua quá trình dài
xây dựng và phát triển để có được những thành công như ngày hôm nay thì không thể
không kể đến những lỗ lực của đội ngũ cán bộ công nhân viên công ty cùng sự cố gắng
của ban lãnh đạo công ty. Công ty đang ngày càng mở rộng thị trường các sản phẩm
của công ty không chỉ có mặt ở trong nước mà cả ở nước ngoài. Tuy nhiên, hiện nay
ngành may mặc đang ngày càng phát triển đang có rất nhiều công ty may mặc với
những thương hiệu nổi tiếng khiến cho sức cạnh tranh giữa các công ty ngày càng trở
nên gay gắt. Các công ty vẫn còn nhiều vấn đề vướng mắc cần giải quyết: trang thiết bị
lạc hậu, trình độ chuyên môn và quản lý… Ngoài ra với các phương pháp và cách thức
điều hành doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính nói chung và hiệu quả sử dụng vốn
trong doanh nghiệp nói riêng ngày càng trở nên cấp thiết và cần được quan tâm nhiều
Việc quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp là công việc diễn ra
liên tục, bao quát gần như phần lớn hoạt động của Công ty nên hết sức phức tạp. Muốn
phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty cần phải có thời gian nghiên cứu,
đi sâu vào thực tiễn. Song do hạn chế về thời gian nên đề tài của em chỉ phân tích và
đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty dựa vào Báo cáo
tài chính do công ty công bố và những Báo cáo khác qua 3 năm 2013-2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện chủ yếu dựa vào số liệu thu thập tổng hợp từ Phòng Tài chínhKế toán của Công ty và tài liệu lý thuyết từ các Giáo trình, sách tham khảo và Internet.
Phương pháp chủ yếu dùng để phân tích là phương pháp so sánh và phân tích tỷ lệ.
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 5
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
5. Kết cấu luận văn
Luận văn của em gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động
của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại công ty Cổ phần may và
thương mại quốc tế INDICO.
Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được đưa vào lưu thông nhằm mục đích
kiếm lời. Nhưng suy cho cùng là để mua sắm tư liệu sản xuất và trả công cho người
lao động. Nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục
đích là thu về số tiền lớn hơn ban đầu. Do đó, vốn mang lại giá trị thặng dư cho doanh
nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được quan niệm là toàn bộ những
giá trị ứng ra ban đầu vào các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp. Khái
niệm này không những chỉ ra vai trò là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất mà
còn đề cập tới sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất và
tái sản xuất liên tục, suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình
sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Như vậy, muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp nào
cũng cần phải có một lượng vốn nhất định. Trong nền kinh tế thị trường vốn là điều
kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Vốn kinh doanh là điều kiện để duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở
rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập cho
người lao động.
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 7
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
Ta cũng cần phân biệt giữa tiền và vốn. Muốn có vốn thì thường phải có tiền,
Vốn không tách rời chủ sở hữu trong quá trình vận động, mỗi đồng vốn phải
được gắn với một chủ sở hữu nhất định. Trong nền kinh tế thị trường thì chỉ có xác
định được chủ sở hữu thì đồng vốn mới được sử dụng hợp lý không gây lãng phí và
đạt được hiệu quả cao.
Vốn có giá trị về mặt thời gian và phải được tích tụ tới một lượng nhất định thì
mới có thể phát huy tác dụng. Doanh nghiệp không chỉ khai thác hết tiềm năng vốn
của mình mà phải tìm cách thu hút nguồn vốn từ bên ngoài như vay trong nước, vay
nước ngoài, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp
khác. Như vậy vốn của doanh nghiệp mới tăng lên.
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 8
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
Vốn là một loại hàng hóa đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Những người có
vốn có thể cho vay và những người cần vốn có thể đi vay, có nghĩa là mua quyền sử
dụng vốn của người có quyền sở hữu.
1.1.3 Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn là điều kiện tiền đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Vốn là cơ sở xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp, vốn đảm bảo cho sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp theo mục tiêu đã định.
Về mặt pháp lý
Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên của doanh nghiệp
Nhận thức được vai trò quan trọng của vốn như vậy thì doanh nghiệp mới có
thể sử dụng tiết kiệm có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn.
1.1.4 Phân loại vốn
Trên góc độ pháp luật vốn kinh doanh bao gồm:
- Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu cần phải có để thành lập doanh nghiệp do
pháp luật quy định với từng ngành nghề và từng loại hình sở hữu doanh nghiệp.
-
Dưới mức vốn pháp định không thể thành lập doanh nghiệp.
Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ công
ty. Tùy theo loại hình sở hữu, từng ngành nghề, vốn điều lệ không được thấp
hơn vốn pháp định.
Trên góc độ hình thành vốn:
- Vốn đầu tư ban đầu: là vốn phải có khi thành lập doanh nghiệp, tức là vốn cần
thiết để đăng ký kinh doanh hoặc vốn góp của công ty trách nhiệm hữu hạn,
-
công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc vốn nhà nước giao.
Vốn bổ sung: là vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp, do
nhà nước bổ sung bằng phân phối, phân phối lại nguồn vốn, do sự đóng góp của
-
các thành viên, do bán trái phiếu.
Vốn liên doanh: là vốn do các bên cùng cam kết liên doanh với nhau để hoạt
-
1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm vốn lưu động
Mỗi doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tài sản cố định
còn phải có các tài sản lưu động tùy theo loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu của tài sản
lưu động khác nhau. Tuy nhiên với doanh nghiệp sản xuất tài sản lưu động được cấu
thành bởi hai bộ phận là tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông.
Tài sản lưu động sản xuất bao gồm những tài sản ở khâu dự trữ sản xuất như
nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu…và tài sản ở khâu sản xuất như
bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ…
Tài sản lưu thông của doanh nghiệp bao gồm sản phẩm hàng hóa chưa được
tiêu thụ (hàng tồn kho), vốn bằng tiền và các khoản phải thu.
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên, liên
tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất định. Do vậy để hình
thành nên tài sản lưu động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư vào loại tài
sản này, số vốn đó được gọi là vốn lưu động.
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động sản
xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh
nghiệp được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục.
Như vậy, dưới góc độ tài sản thì vốn lưu động được sử dụng để chỉ các tài sản
lưu động. Vốn lưu động chịu sự chi phối bởi tính luân chuyển của tài sản lưu động,
vốn lưu động luôn được chuyển hóa qua nhiều hình thái vật chất khác nhau và chuyển
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 11
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 12
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
Ngoài ra, vốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh
nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh
quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp.
Vốn lưu động còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh
nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử
dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô, doanh nghiệp phải huy động một lượng vốn
nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ hàng hóa. Vốn lưu động còn giúp cho
doanh nghiệp có thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc
điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hóa bán ra
được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi
nhuận. Do đó, vốn lưu động đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa
bán ra.
1.2.1.3 Phân loại vốn lưu động
Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng hiệu quả thì càng có thể sản xuất
được nhiều sản phẩm nghĩa là càng tổ chức được tốt quá trình mua sắm, quá trình sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển để vốn
thấp, thời gian sử dụng ngắn.
• Vốn lưu động nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất:
– Vốn sản phẩm đang chế tạo là giá trị những sản phẩm dở dang trong quá trình
sản xuất, xây dựng hoặc đang nằm trên các địa điểm làm việc đợi chế biến tiếp
( chi phí trồng trọt dở dang, chi phí chăn nuôi dở dang, súc vật nhỏ…)
– Vốn bán thành phẩm tự chế cũng là những sản phẩm dở dang nhưng khác sản
phẩm đang chế tạo ở chỗ nó đã hoàn thành giai đoạn chế biến nhất định.
• Vốn lưu động nằm trong quá trình lưu thông:
– Vốn thành phẩm: biểu hiện bằng tiền số sản phẩm đã nhập kho và chuẩn bị các
công việc cho tiêu thụ.
– Vốn tiền tệ bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng mà trong quá trình
luân chuyển vốn lưu động thường xuyên có bộ phận tồn tại dưới hình thức này.
– Vốn thanh toán là những khoản phải thu, tạm ứng phát sinh trong quá trình mua
bán vật tư hàng hóa.
Theo cách phân loại này có thể thấy vốn nằm trong quá trình dự trữ vật liệu và
vốn nằm trong quá trình lưu thông không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. Vì
vậy phải hết sức hạn chế khối lượng vật liệu cũng như thành phẩm tồn kho. Đối với
vốn nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất phải chú ý tăng khối lượng sản phẩm đang
chế tạo với mức hợp lý. Vì số vốn này trực tiếp tham gia vào việc tạo nên giá trị mới.
Dựa theo hình thái biểu hiện
– Vốn vật tư hàng hóa: là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng
hiện vật cụ thể như là vốn nguyên, nhiên vật liệu, vốn sản phẩm dở dang, vốn
–
hàng thành phẩm, hàng tồn kho, vốn chi phí trả trước…
Vốn bằng tiền bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi
ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán
ngắn hạn.
trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Dựa theo nguồn hình thành
– Vốn pháp định:
Đối với doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn luân chuyển pháp định thể hiện số
vốn ngân sách nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước như
khoản chênh lệch giá và các khoản nộp nhưng được ngân sách để lại.
Đối với hợp tác xã, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân là một bộ phận vốn
cổ phần về vốn luân chuyển do xã viên, cổ đông đóng góp, vốn do chủ doanh
nghiệp tư nhân tự bỏ ra.
– Nguồn vốn tự bổ sung: đây là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung mà chủ
yếu do doanh nghiệp lấy một phần tự lợi nhuận sau thuế để tăng thêm vốn luân
chuyển mở rộng hoạt động kinh doanh. Đối với doanh nghiệp nhà nước việc tự
bổ sung này thực hiện dưới hình thức lấy một phần từ quỹ khuyến khích phát
triển sản xuất bổ sung cho vốn luân chuyển.
– Nguồn vốn liên doanh liên kết: để mở rộng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp
có thể thực hiện việc liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác. Các doanh
nghiệp có thể góp vốn bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư hàng hóa.
– Nguồn vốn huy động thông qua việc phát hành cổ phiếu: đối với loại hình công
ty cổ phần có phát hành cổ phiếu để tăng thêm vốn sản xuất công ty có thể phát
hành thêm cổ phiếu mới.
– Nguồn vốn đi vay: đây là một nguồn vốn quan trọng mà doanh nghiệp có thể sử
dụng để đáp ứng nhu cầu về số vốn luân chuyển thường xuyên, cần thiết trong
kinh doanh. Tùy theo điều kiện cụ thể của doanh nghiệp có thể vay vốn của
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 15
đóng góp. Trong hoạt động kinh doanh vốn lưu động dài hạn có vai trò cực kỳ quan
trọng trong việc thay đổi phương thức kinh doanh, phương thức đáp ứng nhu cầu của
khách hàng trên thị trường. Bên cạnh các nguồn có thể huy động trong nội bộ doanh
nghiệp còn có thể huy động vốn lưu động từ các nguồn sau:
–
–
–
–
Phát hành chứng khoản chuyển đổi
Phát hành trái phiếu công ty
Vay vốn dài hạn và vốn trung hạn của ngân hàng
Sử dụng máy móc thiết bị hiện đại theo hình thức thuê mua
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 16
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
–
Khoa Quản lý kinh doanh
Liên kết đầu tư dài hạn với các doanh nghiệp trong và ngoài nước để phát triển
công ty.
• Huy động vốn lưu động ngắn hạn
Page 17
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
•
Khoa Quản lý kinh doanh
Nhu cầu vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất:
Xác định nhu cầu
vốn dự trữ sản xuất
Xác định lượng dự trữ
• NVL chính
•
•
•
•
Xác định lượng dự trữ
nguyên vật liệu phụ
Vp = M1 x T%
Vnvlc = Mnvlc x Nnvlc
Nhu cầu vốn lưu động trong khâu sản xuất:
Page 18
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
Ưu điểm: Kết quả dự báo nhu cầu vốn lưu động tương đối sát với nhu cầu vốn
thực tế của doanh nghiệp.
Hạn chế: Tính toán phức tạp, mất nhiều thời gian trong xác định nhu cầu vốn
lưu động của doanh nghiệp.
Phương pháp gián tiếp
• Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu vốn lưu động so với
năm báo cáo:
Thực chất phương pháp này là dựa vào thực tế nhu cầu vốn lưu động năm báo
cáo và điều chỉnh nhu cầu theo quy mô kinh doanh và tốc độ luân chuyển vốn lưu
động năm kế hoạch.
Cách xác định:
Vkh = Vbq bc x
x (1+t%)
Trong đó: t% =
•
x 100%
Phương pháp dựa vào tổng mức luân chuyển vốn và tốc độ luân chuyển
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả thu được khi đầu tư thêm vốn lưu
động một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh số tiêu thụ với
yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng vốn lưu động.
Hiệu quả vốn lưu động là hiệu quả phản ánh số lợi nhuận thu được khi bỏ ra
một đồng vốn lưu động.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là thời gian ngắn nhất để vốn lưu động quay
một vòng.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả đem lại cao nhất khi mà số vốn lưu
động cần cho một vòng luân chuyển là ít nhất.
Tóm lại, cho dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về hiệu quả sử dụng vốn lưu
động, song khi nói đên hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta phải có một quan
điểm toàn diện hơn và không thể tách rời nó với một chu kỳ sản xuất kinh doanh hợp
lý, một mức sử dụng đầu vào hợp lý, công tác tổ chức quản lý sản xuất, tiêu thụ và thu
hồi nợ chặt chẽ.
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 20
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
1.2.2.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn .
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 21
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Sử dụng vốn lưu động hiệu quả gắn liền với lợi ích và hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Đây là vấn đề có tính cấp thiết đối với sự tồn tại của doanh
nghiệp và là một tất yếu khách quan mà doanh nghiệp cần đạt được. Việc quản lý và
sử dụng vốn lưu động kém hiệu quả sẽ làm tốc độ luân chuyển vốn chậm, hiệu quả sử
dụng vốn thấp, ở mức độ nghiêm trọng hơn hiện tượng này rất dễ dẫn đến thất thoát
vốn và ảnh hưởng đến quá trình tái sản xuất: quy mô vốn giảm khiến cho chu kỳ sản
xuất sau thu hẹp hơn so với chu kỳ trước. Tình trạng trên nếu kéo dài liên tục thì chắc
chắn doanh nghiệp không thể đứng vững trên thị trường.
1.2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình các doanh nghiệp đã sử dụng
vốn lưu động để đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được diễn ra
bình thường và liên tục. Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng
hiệu quả từng đồng vốn lưu động. Việc sử dụng hợp lý, có hiệu quả vốn lưu động
được đánh giá thông qua các chỉ tiêu:
+ Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn lưu động: phản ánh khả năng sinh lời của vốn
+
Số vòng quay vốn lưu động, chỉ tiêu này đánh giá tốc độ lưu chuyển vốn lưu
động trong kỳ phân tích, vốn lưu động của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng.
Hoặc cứ một đồng vốn lưu động bình quân dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ tạo
ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
Số vòng quay vốn lưu động =
+
Độ dài bình quân một lần luân chuyển, chỉ tiêu này phản ánh cứ một vòng quay
của vốn lưu động trong kỳ phân tích hết bao nhiêu ngày, chỉ tiêu này càng thấp, số
ngày của một vòng quay vốn lưu động càng ít, hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
Thời gian một vòng luân chuyển =
+
Hàm lượng vốn lưu động, chỉ tiêu phản ánh mức đảm nhận về vốn lưu động
trên doanh thu. Chỉ tiêu này cao hay thấp cũng được đánh giá ở các ngành khác nhau.
Đối với ngành công nghiệp nhẹ thì hàm lượng vốn lưu động chiếm trong doanh thu rất
cao, còn đối với ngành công nghiệp nhẹ thì hàm lượng vốn lưu động chiếm tỷ trọng
thấp trong doanh thu.
Hàm lượng vốn lưu động
+
=
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng
quả hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu thuần trong kỳ
chia cho số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ. Hệ số vòng quay các khoản
phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng
chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt càng cao, điều này giúp cho doanh
nghiệp nâng cao luồng tiền mặt tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu
động trong sản xuất.
Vòng quay các khoản phải thu =
+
–
Các hệ số về khả năng thanh toán:
Hệ số thanh toán ngắn hạn, là mối quan hệ giữa tài sản lưu động với các khoản
nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động
đối với các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán là chỉ tiêu đánh giá tốt nhất
khả năng thanh toán ngắn hạn mà giá trị càng lớn thì khả năng thanh toán càng
cao.
Hệ số thanh toán ngắn hạn=
– Hệ số thanh toán tức thời, thể hiện khả năng bù đắp nợ ngắn hạn bằng số tiền
đang có của doanh nghiệp. Do tiền có tầm quan trọng đặc biệt quyết định tính
thanh toán nên chỉ tiêu này được sử dụng nhằm đánh giá khe khắt khả năng
thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp.
Hệ số thanh toán tức thời =
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 24
vốn hoặc thiếu vốn lưu động trong sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng không tốt đến quá
trình sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Sv: Nguyễn Quỳnh Ngọc
Luận văn tốt nghiệp
Page 25