Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh huyện Quế Võ - Pdf 35

Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Khoa quản lý kinh doanh

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

PHIẾU ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT
về CHUYÊN MÔN và QUÁ TRÌNH THỰC TẬP CỦA SINH VIÊN

Họ và tên:

Hứa Thị Nhung Bắc

Mã sinh viên: 0741270047

Lớp: Tài chính ngân hàng 2 – k7

Ngành: Tài chính ngân hàng

Địa điểm thực tập: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Agribank

Giáo viên hướng dẫn: T.S Nguyễn Thị Nguyệt Dung
Đánh giá chung của giáo viên hướng dẫn:

Điểm bằng số

Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

DANH MỤC SƠ ĐỒ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1

BĐS

Bất động sản

2

Cty TNHH

Công ty Trách nhiệm hữu hạn

3

DN

Doanh nghiệp

4

DNNVV


Hội đồng quản trị

10

TSĐB

Tài sản đảm bảo

11

KH

Khách hàng

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

3

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, trên địa bàn huyện Quế Võ nói riêng và tỉnh Bắc Ninh
nói chung số lượng DNNVV không ngừng tăng lên và dần khẳng định mình trong nền


Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

Hệ thống hóa lý luận về chất lượng cho vay đối với DNNVV tại hệ thống ngân hàng
thương mại, làm rõ thực trạng về chất lượng cho vay đối với DNNVV tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh huyện Quế Võ. Trên cơ sở đó đưa ra
một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cho vay đối với DNNVV.

2.2. Mục tiêu cụ thê
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về NHTM, chất lượng cho vay NHTM.
- Phân tích và đánh giá về tình hình hoạt động cho vay, hiệu quả hoạt cho vay của
NHNo&PTNT - chi nhánh huyện Quế Võ.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng hoạt động cho vay
DNNVV tại NHNo&PTNT - chi nhánh huyện Quế Võ.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Chất lượng hoạt động cho vay DNNVV tại NHNo&PTNT - Chi nhánh
huyện Quế Võ.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Những lý luận chung, thực tiễn những vấn đề về
hoạt động cho vay và chất lượng hoạt động cho vay đối với DNNVV tại
NHNo&PTNT - chi nhánh huyện Quế Võ trong 3 năm 2013-2015.

4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp tổng hợp: phương pháp phân
tích, so sánh, tổng hợp, thu thập thông tin…

Cũng qua phần mở đầu này em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới cô T.S
Nguyễn Thị Nguyệt Dung và toàn thể cán bộ Phòng Tín Dụng ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn chi nhánh Quế Võ đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn, tạo điều
kiện giúp đỡ em hoàn thành bài luận văn. Do kinh nghiệm thực tế, kiến thức và thời
gian còn hạn chế nên chắc chắn bài luận văn sẽ khó tránh khỏi nhiều thiếu sót. Rất
mong nhận được nhiều ý kiến tham gia đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn
đồng học để bài luận văn có điều kiện hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

6

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO
VAY VÀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Khái quát chung về Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
1.1.1.Khái niệm về Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp có thể được hiểu một cách chung nhất là tổ chức kinh tế được thành lập
nhằm sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường.
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV được Chính
phủ ban hành ngày 30/6/2009 thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11
năm 2001 của Chính phủ đã đưa ra định nghĩa về DNNVV tại Điều 3 của Nghị Đinh:

(người)


khó tìm được người bảo lãnh cho mình trong quan hệ tín dụng. Vì thế DNNVV rất khó
tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các Ngân hàng thương mại.
Thứ ba, DNNVV hiện nay đã chú trọng đổi mới công nghệ nhưng còn tương đối
lạc hậu,không đồng bộ. Hầu hết các DNNVV ở Việt Nam đều sử dụng công nghệ lạc
hậu từ nhiều năm về trước nên sản phẩm làm ra thường có giá trị công nghệ thấp, hàm
lượng chất xám ít, giá trị thương mại và sức cạnh tranh kém so với sản phẩm cùng loại
của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Mặc dù cá DNNVV tại Việt Nam
đang cố gắng cải tiến công cụ lao động, máy móc thiết bị song do nguyên nhân chính
là năng lực tài chính thấp nên việc đầu tư còn nhỏ lẻ, chưa đồng bộ.
Thứ tư, trình độ quản lý của chủ DNNVV bị hạn chế, thiếu thông tin và khó có
khả năng thu hút các nhà quản lý và lao động giỏi. Phần lớn các DNNVV được thành
lập do sự góp vốn của những người có vốn và chính họ kiêm luôn vai trò quản lý. Các
nhà quản lý doanh nghiệp chưa được đào tạo, thiếu sự hiểu biết đầy đủ về quản lý doanh
nghiệp trong khi điều kiện hội nhập và cạnh tranh ngày một diễn ra sau rộng trên toàn
thế giới, điều này dễ dẫn đến sự bị động và lúng túng cho các nhà quản lý. Hơn nữa do

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

8

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm tiêu thụ không nhiều, các DNNVV khó có thể trả lương
cao cho người lao động nên khó có khả năng thu hút những người lao động có trình độ
chuyên môn cao trong sản xuất kinh doanh và quản lý điều hành doanh nghiệp.


9

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong dân để đầu tư, tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Thứ ba, DNNVV góp phần hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp lớn. Một
trong những kết quả quan trọng trong thúc đẩy phát triển DNNVV là chúng ta đã tạo
được mối liên kết giữa các DNNVV với các DN lớn, các Tổng công ty của Nhà nước,
các Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia của nước ngoài đang hoạt động tại nước ta. Tuy
mối quan hệ này mới chỉ được xác lập bước đầu như: cung ứng nguyên vật liệu, hợp
đồng phụ,... nhưng đã tạo ra được mạng lưới vệ tinh phân phối. Mối quan hệ này có
những tác động tích cực qua lại, rõ ràng có lợi cho cả hai bên và đặc biệt là làm lợi cho
đất nước, góp phần phát triển kinh tế.
Tóm lại, DNNVV có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất
nước trên mọi mặt kinh tế – xã hội. Do đó, duy trì sự ổn định và phát triển của các
DNNVV là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển của mỗi quốc gia.

1.2.Hoạt động cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại
1.2.1.Khái niệm cho vay, cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu đem lại nguồn thu lớn nhất
cho các NHTM. Khái niệm tín dụng đã xuất hiện từ lâu và rộng khắp trên thế giới và
Việt Nam, Theo cách hiểu hiện nay thì tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa
trên sự tin tưởng số vốn đó được hoàn lại vào một thời điểm trong tương lai.

Số lượng các DNNVV trong nền kinh tế chiếm phần đông, nhu cầu vay vốn lại
lớn nên số lượng các món vay nhiều. Mặt khác, do đặc thù kinh doanh, các DNNVV
có quan hệ trao đổi, mua bán với bạn hàng liên tục, mỗi món hàng có giá trị không
nhiều nhưng do có nhu cầu vay vốn nên doanh nghiệp có thể tạo nhiều tiểu khoản
riêng biệt tại ngân hàng, gây nhiều khó khăn trong việc quản lý các tài khoản cho vay
của cán bộ tín dụng. Vì thế mà cho vay đối với DNNVV đòi hỏi cán bộ tín dụng phải
là người có kinh nghiệm, có cách sắp xếp, quản lý các món vay một cách hợp lý, hạn
chế sai sót gây ảnh hưởng đến chất lượng cho vay.
Do vốn chủ sở hữu thấp, năng lực quản lý yếu kém, cho vay DNNVV luôn tiềm
ẩn rủi ro cao trong mỗi món vay. Hơn nữa, doanh nghiệp còn rất hạn chế trong việc
đưa ra những phương án kinh doanh có tính khả thi cao, các báo cáo tài chính thì
không minh bạch, không đủ sức thuyết phục các ngân hàng, đây chính là những
nguyên nhân khiến cho ngân hàng ít tin tưởng giao vốn cho DNNVV.
Cho vay DNNVV thường được coi là khá rủi ro cho ngân hàng, nhất là trong
bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay. Tuy nhiên, ngành ngân hàng thế giới đang
nhận định “cung cấp tín dụng cho DNNVV là một trong những phương thức cốt yếu
để các tổ chức tài chính đóng góp vào việc xây dựng nền kinh tế bền vững”, bởi vì nó
không chỉ mang lại lợi ích cho DN mà còn tăng được lợi nhuận từ các nghiệp vụ ngân
hàng với DNNVV.cho ngân hàng và nền kinh tế nói chung.
Chất lượng cho vay không chỉ là kết quả của một quá trình kết hợp các hoạt
động của các bộ phận, các tổ chức khác nhau trong hệ thống Ngân hàng mà còn thể

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

11

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

cam kết của hợp đồng tín dụng, cùng nợ thanh toán nợ khi đến hạn theo hợp đồng tín
dụng đã ký kết.
Bước 7: Thanh lý hợp đồng tín dụng: Nếu hết hạn hợp đồng tín dụng mà khách
hàng đã hoàn tất thanh toán nợ và lãi thì NH và khách hàng làm thủ tục thanh lý hợp
đồng, giải chấp tài sản và lưu hồ sơ vay vốn của khách hàng vào kho lưu trữ.

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

12

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

1.3.Chất lượng cho vay DNNVV của Ngân hàng thương mại
1.3.1.Khái niệm
Quan hệ cho vay có sự tham gia của hai chủ thể ngân hàng và khách hàng, mối
quan hệ này được đặt trong sự vận động chung của nền kinh tế xã hội. Vì thế sẽ thật
phiến diện khi xem xét chất lượng cho vay của ngân hàng chỉ từ góc độ của ngân hàng
hay khách hàng. Việc xem xét chất lượng cho vay phải có sự đánh giá từ nhiều góc độ
khác nhau: từ phía ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.
Xét từ góc độ ngân hàng thì chất lượng cho vay thể hiện ở mức độ an toàn và
khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động này mang lại. Khi cho vay, điều mà
ngân hàng quan tâm là khoản vay đó phải được đảm bảo an toàn, sử dụng đúng mục
đích, phù hợp với chính sách cho vay của ngân hàng, được hoàn trả cả gốc và lãi đúng
hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh
tranh của ngân hàng trên thị trường.

hoạt động cho vay DNNVV đem lại.
Thứ hai, giúp ngân hàng có những điều chỉnh trong quy trình vay vốn, điều kiện vay
vốn và chính sách ưu đãi về lãi suất phù hợp hơn để khuyến khích các DNNVV sử
dụng các sản phẩm dịch vụ của mình từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị
trường tài chính. Ngân hàng thương mại giống như các nhà kinh doanh: bỏ vốn của
mình ra và mong muốn thu được lợi nhuận và thu hồi vốn. Như vậy đảm bảo chất
lượng cho các khoản vay và cho vay bản thân nó đối với Ngân hàng đã là một nhu cầu
cấp thiết. Đặc biệt đối với các NHTM ở Việt Nam hiện nay không còn là cái bóng của
NHTW mà đã và đang dần trở thành một chủ thể kinh doanh độc lập, tự kiếm lợi
nhuận lời ăn lỗ chịu, chịu trách nhiệm với khách hàng, với NHTW. Do vậy mà Ngân
hàng không thể không cần đến sự an toàn với các khoản vay.
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ để chuyển sang một nền
kinh tế thị trường. Bản thân mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chưa thoát khỏi tư
tưởng bao cấp, tư duy về nền kinh tế thị trường còn nhiều hạn chế, do đó việc làm ăn
của các doanh nghiệp có nguy cơ dẫn đến rủi ro là rất lớn. Vì thế để nâng cao chất
lượng cho vay Ngân hàng không chỉ là người cung cấp vốn cho các doanh nghiệp mà
Ngân hàng còn phải là người hiểu rõ hơn ai hết về lĩnh vực kinh doanh của doanh
nghiệp, có như thế thì Ngân hàng mới mở rộng được các dịch vụ của mình như dịch vụ
tư vấn...giúp doanh nghiệp tránh khỏi được những rủi ro không đáng có.
Như vậy, có thể thấy mục tiêu nâng cao chất lượng cho vay là điều kiện tối ưu
cần thiết cho mỗi Ngân hàng, nó vừa là yếu tố không những đảm bảo cho Ngân hàng
duy trì hoạt động mà còn giúp Ngân hàng phát triển. Nếu đi ngược lại mục tiêu trên,
Ngân hàng sẽ đi đến chỗ tự huỷ diệt chính mình.

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

14

Luận Văn Tốt Nghiệp


Chỉ tiêu lãi từ hoạt động cho vay DNNVV

Chỉ tiêu này cho thấy mức lợi nhuận mà NH đạt được khi cho vay DNNVV.
NH trả lãi cho các khoản tiền mà NH huy động, đi vay nên NH cần phải tận dụng hết
các khoản vốn này để tạo ra lợi nhuận và bù đắp được chi phí lãi của mình. Chính vì
vậy chỉ tiêu này phản ánh rõ mục đích và hiệu quả sử dụng vốn của NH. Chỉ tiêu này
càng cao chứng tỏ việc sử dụng vốn của NH là có hiệu quả.


Chỉ tiêu nợ quá hạn cho vay DNNVV

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

15

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 22/04/2005 thì nợ quá
hạn của DNNVV là những khoản cho vay đến hạn mà KH không trả được số tiền
trong hợp đồng tín dụng, tiền lãi của số tiền đó và không được NH gia hạn. Hay nợ
quá hạn còn được định nghĩa là những khoản nợ mà thời gian tồn tại của nó vượt quá
thời gian cho vay theo thỏa thuận giữa NH và KH cộng với khoảng thời gian đã được
gia hạn thêm nếu KH yêu cầu.

Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cho vay DNNVV thấp sẽ được đánh giá là có

Dự phòng rủi ro cho vay DNNVV
Tổng dư nợ cho vay DNNVV

16

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

Tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay DNNVV là khoản tiền được trích lập trên một
đồng vốn cho vay để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra khi DNNVV không
thực hiện nghĩa vụ cam kết. Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt cho NH.


Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu cho vay DNVVV
Nợ xấu là khoản nợ được phân loại từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo quyết định

493/2005/QĐ-NHNN ban hàng ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước. Chỉ tiêu
nợ xấu càng cao thì khả năng rủi ro mất vốn của NH càng lớn, ảnh hưởng đến chất
lượng cho vay DNNVV của NH đó.
Tỷ lệ nợ xấu cho vay DNNVV

=

Nợ xấu cho vay DNNVV
Tổng dư nợ cho vay DNNVV


Khoa Quản Lý Kinh Doanh

tính toàn thiện để có thể nhận định hoạt động cho vay thì chúng ta vẫn chủ yếu sử
dụng các chỉ tiêu định lượng.

1.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động cho vay Doanh nghiệp
nhỏ và vừa
Có nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng DNNVV của NHTM,
có thể xuất phát từ phía NH hoặc KH, hoặc cũng có thể do những nhân tố bên ngoài
tác động.

1.4.1.Các nhân tố bên trong
1.4.1.1. Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Trong nền kinh tế hiện nay, quá trình cạnh tranh càng ngày càng trở nên gay
gắt, mỗi NH phải xây dựng cho mình một phương châm, chiến lược kinh doanh đúng
đắn và hiệu quả nhằm khai thác tốt nhất tiềm lực hiện có và có thể thích ứng tốt với
những biến đổi của môi trường kinh doanh ngày càng gay gắt hiện nay. Chỉ như vậy
mới tạo điều kiện để hoạt động tín dụng của NH nói chung và hoạt động cho vay
DNNVV nói riêng đạt được hiệu quả.

1.4.1.2. Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của một NHTM được xem như là kim chỉ nam trong hoạt
động cho vay của NH đó và chính sách cho vay DNNVV cũng nằm trong khuôn khổ
chính sách tín dụng của NH. Khi mà NH có một chính sách tín dụng đúng đắn, đồng
bộ, khoa học và thống nhất thì nó sẽ xác định cho các cán bộ tín dụng một phương
hướng đúng đắn khi thực hiện nhiệm vụ của mình từ đó nâng cao được hiệu quả của
hoạt động cho vay. Tuy nhiên, khi chính sách tín dụng đặt ra không đầy đủ, đúng đắn,
khoa học sẽ tạo ra một định hướng lệch lạc cho họat động tín dụng, dẫn đến việc cấp
tín dụng không đúng đối tượng, không đúng mục đích hoặc tạo ra khe hở cho người sử
dụng vốn và từ đó sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế thậm chí dẫn đến rủi ro tín dụng.

xứng về đối tượng đầu tư từ đó nâng cao được hiệu quả hoạt động cho vay.

1.4.1.5. Chất lượng cán bộ tín dụng
Để đảm bảo hiệu quả hoạt động cho vay DNNVV thì đòi hỏi nhiều yếu tố,
trong đó con người là nhân tố trung tâm, là yếu tố quyết định sự thành bại trong quản
lý vốn, tài sản của NH. Chất lượng nhân sự ngày càng được đòi hỏi cao để có thể đáp
ứng kịp thời với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh và hoạt động cho
vay nói riêng cũng như hoạt động cho vay của ngân hàng. Nền kinh tế ngày càng phát
triển thì hoạt động của NH cũng càng ngày càng tinh vi và phức tạp, vì vậy cán bộ NH
có đủ phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn để lĩnh hội và ứng dụng khoa học tiên
tiến. Trong những phẩm chất cần thiết của cán bộ tín dụng thì năng lực thẩm định tín
dụng là một trong những yếu tố cốt yếu của người cán bộ tín dụng trong hoạt động tín
dụng nói chung và hoạt động cho vay DNNVV nói riêng.

 Năng lực thẩm định tín dụng của đội ngũ cán bộ ngân hàng
Các DN khi vay vốn trước hết phải lập hồ sơ gửi đến NH, bao gồm các giấy tờ
thể hiện năng lực của DN, các giấy tờ liên quan đến TSĐB, lập dự án đầu tư và một số
giấy tờ khác. Khi đó cán bộ tín dụng sẽ kiểm tra tính hợp lệ hợp pháp của các loại giấy

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

19

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh


thu, lợi nhuận đạt được, hay các chỉ tiêu như chỉ tiêu như khả năng thanh toán , ROA,
ROE,… Và khi DN có tình hình tài chính tốt sẽ là một điều kiện cần thiết để có thể

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

20

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

vay vốn NH, qua đó có thể giảm thiểu được rủi ro xảy ra.
Khả năng quản trị DN là hiệu quả quản lý doanh nghiệp của chủ DN, được thể
hiện qua: việc lập kế hoạch, xây dựng các phương án sản xuất kinh doanh và thực hiện
kế hoạch kinh doanh của DN có hiệu quả, quả lý nhân viên tốt. Đây cũng là một trong
các cơ sở để NH đánh giá khả năng hoạt động, phát triển, thích ứng với môi trường
kinh doanh và tạo lợi nhuận của DN.
Nếu DN chứng minh được với NH về khả năng quản lý, năng lực tài chính cũng
như sự nhạy bén trong kinh doanh thì sẽ rất thuận lợi trong việc cho vay bởi năng lực
DN là một trong những yếu tố nhất thiết mà NH sẽ phải xem xét và cân nhắc trước khi
có quyết định cho vay hay không.

 Sự minh bạch trong hệ thống kế toán tài chính của các DNNVV và Đạo đức kinh
doanh của chủ doanh nghiệp
Sự minh bạch trong các hệ thống báo cáo tài chính, giấy tờ sổ sách kế toán của
DN thể hiện ở việc DN đó có áp dụng đúng các chuẩn mực kế toán, có hệ thống kiểm
soát độc lập, hoàn toàn tuân thủ đúng pháp luật về chế độ tài chính – kế toán. Khi đó


 Môi trường chính trị xã hội
Môi trường chính trị – xã hội tạo nên sự ổn định cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của tất cả các chủ thể trong nền kinh tế. Một nền kinh tế dù có phát triển đến
đâu mà không có sự ổn định về chính trị - xã hội thì cũng rất khó thu hút các nhà đầu
tư nói chung và các NHTM nói riêng vì trong điều kiện đó, dù có thể thu được lợi
nhuận rất lớn nhưng rủi ro tiềm ẩn cũng rất cao và khó có thể lường trước được. Sự bất
ổn về chính trị - xã hội còn tác động đến những khoản tín dụng đã cấp phát thông qua
những ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
đang hoạt động trong môi trường đó, từ đó làm cho chất lượng tín dụng giảm xuống.
Hơn thế nữa, môi trường xã hội còn được phản ánh bằng trình độ dân trí cũng như
nhận thức của dân cư. Nếu như trình độ dân trí thấp, kém hiểu biết thì sẽ giảm hiệu
quả sử dụng vốn vay, khiến cho hoạt động tín dụng không đạt được chất lượng cao.

 Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý là một hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến toàn bộ các
hoạt động của NH nói chung và hoạt động cho vay nói riêng. Khi một hệ thống pháp
luật đồng bộ, phù hợp thì sẽ tạo ra được một hành lang an toàn cho hoạt động của các
NHTM, không chỉ tạo điều kiện cho các NHTM xây dựng chính sách tính dụng, cơ
cấu cho vay một cách hợp lý mà còn giúp các DN nắm bắt thông tin, xây dựng các
chiến lược kinh doanh dựa trên những nguồn vốn có khả năng tiếp cận. Trong khi đó,
một hệ thống pháp lý chồng chéo, không đồng bộ thì sẽ gây ra những khó khăn cho
NH trong việc thực hiện các hợp đồng tín dụng và sẽ ảnh hưởng đến khả năng cho vay
đối với các thành phần kinh tế.

 Môi trường cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh hoạt động giữa các NHTM hay giữa
các doanh nghiệp là nhân tố khách quan. Nếu môi trường cạnh tranh chịu ảnh hưởng

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7


Khoa Quản Lý Kinh Doanh

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về tín dụng và chất lượng tín dụng, cũng
như kinh nghiệm về quản lý và nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM có ý
nghĩa hết sức quan trọng, nhằm trang bị những kiến thức cơ bản để có thể nhìn
nhận và đánh giá một cách đầy đủ, chính xác về thực trạng chất lượng cho vay
của một NHTM. Từ đó, đề ra những giải pháp phù hợp có tính khả thi cao trong
việc góp phần nâng cao chất lượng cho vay, đảm bảo cho NHTM kinh doanh ổn
định, phát triển bền vững và có hiệu quả.

Sv : Hứa Thị Nhung Bắc TCNH2-K7

24

Luận Văn Tốt Nghiệp


Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Quản Lý Kinh Doanh

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ CHẤT
LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN CHI CHÁNH HUYỆN QUẾ VÕ
2.1.Tổng quan về Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bắc Ninh
2.1.1.Tình hình phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm: tam giác tăng trưởng Hà Nội Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status