câu hỏi ôn tập môn Cơ sở văn hóa Việt Nam - Pdf 35

Câu 1: Anh chị có đồng tình với những quan niệm dân gian kiểu:
“Trong rủi có may”, “Trong họa có phúc”, “Trong dở có hay” ?
Hãy giải thích ngắn gọn sự lựa chọn của mình (áp dụng triết lí âm
dương)
Trong dân gian có các quan niệm như : “Trong rủi có may”, “Trong dở
có hay”, “Trong họa có phúc”. Tôi đồng tình với các quan niệm trên. Bởi:
− Người Việt Nam nhận thức rõ về hai quy luật của triết lý âm
dương:
+ Quy luật về Thành Tố: Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn
toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âm.
+ Quy luật về Quan Hệ: Âm và dương luôn gắn bó mật thiết với
nhau và chuyển hóa cho nhau: âm cực sinh dương và dương cực sinh âm.
− Chính nhờ lối tư duy âm dương từ trong máu thịt người Việt Nam
đã có được triết lý sống quân bình.
− Từ đó, tạo ra ở người Việt khả năng thích nghi cao với mọi hoàn
cảnh (lối sống linh hoạt),dù khó khăn đến đâu cũng không chán nản. Người
Việt Nam là dân tộc sống bằng tương lai (tinh thần lạc quan): có những điều
tưởng như là điều tồi tệ, sui seo nhưng trong đó vẫn ẩn chứa những điều may
mắn, tốt đẹp(Trong họa có phúc, Trong dở có hay, Trong rủi có may).
Câu 2:
Giới thiệu ý nghĩa tục thờ Tứ bất tử của người Việt Nam
Tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử” là một trong những giá trị văn hóa tinh
thần của dân tộc Việt Nam. Nó là biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết cộng
đồng trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước, cho khát vọng xây
dựng một cuộc sống vật chất phồn vinh và tinh thần hạnh phúc. Ngày nay, tín
ngưỡng thờ “Tứ bất tử’ vẫn tiếp tục có những ảnh hướng tích cực đến đời
sống tinh thần cũng như sự nghiệp chấn hưng đất nước của dân tộc Việt Nam.
“Tứ bất tử” là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng
Việt Nam. Theo nghiên cứu của PGS,TS. Phạm Văn Tình khi nói về Tứ bất
tử, gồm 4 vị Thánh: Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Thánh Mẫu
1

Sơn Tây, ngoại thành Hà Nội. Đến thời nhà Lý đã phong Tản Viên là
"Thượng đẳng tối linh thần" và "Đệ nhất phúc thần". Đền chính là Đền
Thượng núi Ba Vì, ngoài ra ở các nơi khác đều có đền thờ Thánh và các bộ
tướng, tập trung nhất là ở các tỉnh Vĩnh Phú (cũ), Hà Tây, Hà Nam Ninh
2


(cũ). Để tưởng nhớ công đức Thánh Tản Viên, ở Đền Và (Ba Vì). Cứ ba năm
một lần vào ngày 15 tháng Giêng Âm lịch, tại đây diễn ra lễ hội lớn, với hàng
vạn người tham dự, lễ tắm ngai, đánh cá thờ, tục thờ làm cỗ thờ 99 đuôi cá,
làm tiệc gỏi, múa Rô, Cướp Kén, múa Gà phủ, rước Chúa gái (Mỵ Nương),
trò Tản Viên đánh Thục. Ngoài đền thờ chính ở núi Ba Vì, Tản Viên Sơn
Thánh được thờ cúng ở nhiều nơi nhất là ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa
Bình.
Trong tâm thức dân gian thì Tản Viên sơn thánh là biểu tượng của sức
mạnh liên kết, liên kết giữa đất và núi, liên kết giữa các bộ lạc, liên kết giữa
con người và thánh thần... sự liên kết ấy tạo nên con người khổng lồ, thông
tuệ, không những có sức mạnh xẻ núi, khơi sông, dời non, lấp bể, chiến thắng
mọi trở lực hung bạo để bảo vệ đất đai, ruộng đồng, làng mạc, khẳng định sức
mạnh của con người trước thiên nhiên hùng vĩ mà còn có sức mạnh sáng tạo
vô biên về giá trị văn hóa của lòng nhân ái cứu nhân độ thế.
• “Tứ bất tử” thứ hai, Đức Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương)
tượng trưng cho tinh thần đoàn kết, chống ngoại xâm.
Theo truyền thuyết, Đức Thánh Gióng sinh ra tại xã Phù Đổng, huyện
Gia Lâm, Hà Nội thời Vua Hùng thứ 6, trong một gia đình nông dân nghèo,
khi lên 3 tuổi không biết nói cười, sống trong tình thương của mẹ và bà con ở
làng Gióng, ven sông Đuống (nay là làng Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội). Rồi
giặc Ân hung dữ từ phương Bắc sang xâm lược. Vua lo lắng, bèn sai sứ giả đi
khắp nơi cầu người tài giỏi cứu nước. Nghe tiếng sứ giả rao, Thánh Gióng
bỗng nhiên cất tiếng nói “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Khi gặp sứ giả, chú bé

bụi tre khổng lồ kia. Ngựa Gióng đi đến đâu, vết chân để lại thành hồ ao san
sát đến đó, ngựa phun lửa dữ dội làm cháy cả một làng nên làng đó giờ vẫn
mang tên Làng Cháy. Những bụi tre bên đường bị lửa táp vàng tạo thành
giống tre ngà nay còn nổi tiếng khắp vùng trung châu Bắc Bộ.
Giặc đã dẹp yên, quê hương được thái bình, vị anh hùng cởi bỏ giáp trụ,
không màng vinh hoa phú quý, lặng lẽ lên đỉnh núi Vệ Linh (núi Sài tại Sóc
Sơn, Hà Nội) bay về trời.
Vua Hùng ghi nhận công lao của Ngài, phong danh hiệu Phù Đổng
Thiên Vương và cho lập đền thờ tại Vệ Linh. Làng Gióng được đổi tên thành
làng Phù Đổng. Hàng năm vào ngày 9 tháng 4 Âm lịch, làng tổ chức lễ hội rất
long trọng, tái hiện truyền thuyết Thánh Gióng với các hoạt động như tập
trận, đấu cờ người… Những nơi mang dấu tích chiến công của Thánh Gióng
đều được nhân dân lập đền thờ, gìn giữ. Ngoài đền thờ chính ở làng Phù
Đổng, còn có đền thờ ở Sóc Sơn ở núi Vệ Linh, nơi Thánh Gióng đánh giặc
xong cởi áo giáp sắt treo lên cây để về trời.
4


Trong tâm thức của người dân đất Việt, Thánh Gióng là niềm tự hào
của dân tộc Việt Nam, là hiện thân của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, khi có
giặc đến nhà kể cả người già, người trẻ, đàn ông, đàn bà đều tham gia đánh
giặc, ai có công quyên góp công, có sức quyên góp sức, có của quyên góp của
để đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Bên cạnh
đó, truyền thuyết Thánh Gióng còn ẩn chứa giá trị triết lý sinh tồn của dân tộc
Việt Nam: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”, đồng thời giáo dục truyền
thống đoàn kết, yêu nước, thương dân cho các thế hệ sau. Với ý nghĩa giá trị
nhân văn sâu sắc, năm 2010 lễ hội Thánh Gióng được UNESCO công nhận là
di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
• “Tứ bất tử” thứ ba, Thánh Chử Đạo Tổ (Chử đồng tử) tượng
trưng cho tình yêu, hôn nhân và sự sung túc, giàu sang.

Vua Hùng nghe chuyện thì giận dữ vô cùng, không cho Tiên Dung về
cung, toan bắt trị tội. Nàng biết ý nên cùng chồng lẩn trốn ở lại trong dân
làng, làm nhiều nghề để mưu sinh. Một hôm có người bày cho cách ra ngoài
buôn bán nhiều lãi, Tiên Dung khuyên chồng nghe theo. Chử Đồng Tử bèn
theo khách buôn đi khắp ngược xuôi. Có lần theo khách buôn đi qua ngọn núi
giữa biển tên Quỳnh Tiên (có bản ghi là Quỳnh Vi – theo “Việt sử giai thoại”
– Chuyện kể Chử Đồng Tử; đây là tên một ngọn núi chỉ có trong thần thoại),
Chử Đồng Tử trèo lên am trên núi, tình cờ gặp một đạo sĩ tên Phật Quang.
Chàng bèn giao tiền cho khách buôn đi mua hàng, còn mình thì ở lại học phép
thuật. Sau thuyền quay lại đón, Phật Quang tặng Chử Đồng Tử một cây gậy
và một chiếc nón lá, nói rằng đây là vật thần thông. Trở về nhà, Chử Đồng Tử
truyền mọi sự lại cho vợ, Tiên Dung giác ngộ bèn dừng việc buôn bán, cùng
chồng chu du tìm thầy học đạo.
Một hôm tối trời, đã mệt mà không có hàng quán ven đường, hai vợ
chồng dừng lại cắm gậy úp nón lên trên cùng nghỉ. Bỗng nửa đêm, chỗ đó nổi
dậy thành quách, cung vàng điện ngọc sung túc, người hầu lính tráng la liệt.
Sáng hôm sau, dân chúng quanh vùng kinh ngạc bèn dâng hương hoa quả
ngọt đến xin làm bầy tôi. Từ đấy chỗ đó phồn thịnh, sung túc như một nước
riêng.
Nghe tin, Vua Hùng cho là có ý tạo phản, vội xuất binh đi đánh. Quân
nhà vua đến, mọi người xin ra chống cự nhưng Tiên Dung chỉ cười và từ chối
không kháng cự cha mình. Trời tối, quân nhà Vua đóng ở bãi Tự Nhiên cách
đó một con sông. Đến nửa đêm bỗng nhiên bão to gió lớn nổi lên, thành trì,
cung điện và cả bầy tôi của Tiên Dung-Chử Đồng Tử phút chốc bay lên trời.
Chỗ nền đất cũ bỗng sụp xuống thành một cái đầm rất lớn. Nhân dân cho đó
là điều linh bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế và gọi đầm đó là đầm Nhất Dạ
6


Trạch (Đầm Một Đêm), bãi cát đó là Bãi Tự Nhiên hoặc Bãi Màn Trù và chợ


7


Theo truyền thuyết, vào đầu thời Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vị Nhuế,
huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam có ông Phạm Huyền Viên,
người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ
cùng xã Vị Nhuế (nay là thôn Vi Nhuế, xã Yên Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam
Định). Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một
nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần
báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu
thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm
Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi
đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm
nhà và bà sinh một bé gái. Vì vậy, ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.
Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh
đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi
nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu,
canh cửi quán xuyến công việc gia đình. Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ
(1462) thân phụ của nàng qua đời. Hai năm sau mẫu thân của nàng cũng về
nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ
Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, nơi đây có đền thờ Phụ thân và Mẫu thân
của Phạm Tiên Nga).
Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu
chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi). Bà đã
ủng hộ tiền của và công sức giúp dân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia
phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch Nhi (nay chính là đường đê Ba
Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng). Đây cũng chính là con
đường nối di tích Phủ Dày với Phủ Quảng Cung. Cùng với việc đắp đê, bà
còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven

Hoá, vào ngày 10 tháng 10 năm Canh Dần, tái hợp với ông Trần Đào lúc này
đã tái sinh là Mai Thanh Lâm, sinh được một con trai tên là Cổn. Bà mất ngày
23 tháng Chạp năm Mậu Thân, thời Lê Cảnh Trị thứ 6 (1668). Đền thờ Bà là
Phủ Sòng Sơn, Thanh Hoá.
Theo PGS.Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, không phải ngẫu nhiên Thánh
Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện vào cuối thời Lê khoảng thế kỷ XVI . Đây là thời
kỳ ý thức hệ Nho giáo ở nước ta đang đi vào con đường suy thoái, thực trạng
xã hội loạn lạc, chiến tranh liên miên, làm cho nhân dân vô cùng cực khổ,
thân phận của người phụ nữ bị xâm phạm nghiêm trọng, khao khát cháy bỏng
về một cõi tâm linh an lạc, siêu thoát. Liễu Hạnh là một điển hình về sự khẳng
định vai trò của người phụ nữ, dám nói lên tiếng nói phản kháng với triều
đình phong kiến, còn mang nặng tư tưởng Nho giáo, không coi trọng vai trò
của người phụ nữ. Liễu Hạnh được dân gian tôn sùng là Thánh Mẫu. Trong
9


tâm thức của nhân dân, Bà Chúa Liễu Hạnh là một vị thần, một biểu tượng
của khát vọng tự giải phóng, nhất là phụ nữ muốn thoát khỏi sự ràng buộc của
xã hội, của lễ giáo phong kiến, khát vọng vươn tới đạt được những ước vọng
của hạnh phúc gia đình. Đó cũng là ý thức hệ nhân sinh của người dân
Việt Nam đã được ký thác niềm tin vào biểu tượng người Mẹ qua câu thành
ngữ (Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ). Tại Phủ Giầy, quê hương của Bà,
một quần thể kiến trúc được xây dựng để thờ cúng, tại Phủ Sòng, Thanh Hóa,
có đền Sòng thờ Bà, tại Hà Nội có Phủ Tây Hồ-nơi tương truyền diễn ra cuộc
gặp gỡ đàm đạo văn chương giữa Bà Chúa Liễu Hạnh với Trạng Bùng Phùng
Khắc Khoan, cũng thờ phụng Bà.
Tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử” là một nét sáng tạo độc đáo, riêng biệt
thuần túy của người Việt Nam được kết tinh từ những giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh “dựng nước và giữ
nước”, là một bộ phận không thể tách rời trong di sản văn hóa của dân tộc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status