Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất - Pdf 35

1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nhiệm vụ BVMT luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng. Trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ năm 2011 – 2020 (Tại Đại hội Đảng
XXI năm 2011) đã đề ra mục tiêu đó là phát triển mạnh sự nghiệp y tế,
nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tập trung phát
triển hệ thống chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Nhà
nước tiếp tục tăng đầu tư đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa để phát triển
nhanh hệ thống y tế.
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh
viện đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải nguy hại. Chất thải y tế
nguy hại chủ yếu là chất thải nhiễm khuẩn, chất gây cháy nổ, ăn mòn, chất
thải độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, độc sinh thái, các hóa
chất độc hại phát sinh trong quá trình chuẩn đoán và điều trị bệnh, đó là
những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh từ bệnh
viện tới các vùng xung quanh. Vì vậy cần phải quản lý chất thải nguy hại
(CTNH) phát sinh từ cơ sở y tế một cách an toàn và thích hợp.
Trước nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân và thực
trạng ô nhiễm môi trường do rác thải y tế gây ra ngày càng bức xúc thì việc
trang bị cho các bệnh viện, trạm y tế các trang thiết bị để thu gom, xử lý rác
thải y tế và các kĩ năng, kiến thức về quản lý CTNH nói chung, chất thải y tế
nói riêng là nhu cầu cấp bách hiện nay ở tất cả các bệnh viện, cơ sở y tế.
Đại Từ là một huyện trung du miền núi của tỉnh Thái Nguyên. Tại các
xã trong huyện đều có trạm y tế nhưng chỉ có một bệnh viện đó là bệnh viện
Đa khoa nằm ở trung tâm huyện để chăm sóc sức khỏe cho người dân. Số
lượng người dân cần đến bệnh viện ngày càng tăng, cùng với thực tế đó là
lượng chất thải phát sinh trong quá trình khám chữa bệnh cũng tăng lên nhanh
chóng mà phần lớn là các chất thải nguy hại. Vậy nên vấn đề thu gom, vận

- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế
phục vụ cho công tác sau này.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Đánh giá được hiện trạng quản lý rác thải y tế nguy hại tại bệnh viện
huyện Đại Từ có những khó khăn, hạn chế gì.
- Có những biện pháp đề xuất hiệu quả, khả thi trong công tác quản lý
rác thải y tế của bệnh viện.
- Góp phần chung vào công tác bảo vệ môi trường của đất nước.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Một số khái niệm và thành phần chất thải y tế
2.1.1. Một số khái niệm
- Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ
sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường [6].
- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức
khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ
cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải
này không được tiêu hủy an toàn [6].
- Quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động liên quan đến việc phòng
ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời,
vận chuyển và xử lý CTNH [14].
- Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban
đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu
hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện [6].
2.1.2. Thành phần chất thải y tế
- Thành phần vật lý:

Các chất hữu cơ
Chai nhựa PVC, PE, PP
Bông băng
Vỏ hộp kim loại
Chai lọ, xilanh, ống thuốc
thủy tinh
Kim tiêm, ống tiêm
Giấy loại, catton
Các bệnh phẩm sau mổ
Đất, cát, sành sứ và các chất

Tỷ lệ (%)

Thành phần chất

52.9
10.1
8.8
2.9

nguy hại
Không


Không

2.3




3
4
5
6
7
8

Thành phần rác thải bệnh viện
Giấy các loại
Kim loại, vỏ hộp
Thủy tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm
nhựa
Bông băng, bột bó gãy chân
Chai, túi nhựa các loại
Bệnh phẩm
Rác hữu cơ
Đất đá và các vật rắn khác

Tỷ lệ (%)
3.0
0.7
3.2

8.8
10.1
0.6
52.57
21.03
( Nguồn: Bộ Y tế, 2006 )


lỏng, khí.
- Chất thải phóng xạ rắn, gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét
nghiệm, chuẩn đoán, điều trị, như : gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ
đựng chất phóng xạ..
- Chất thải phóng xạ lỏng, gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát
sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các
chất bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ…
- Chất thải phóng xạ khí, gồm: các chất khí lâm sàng như: 113Xe. Các
khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ…[10].
2.2.3. Chất thải hóa học
Chất thải hóa học bao gồm các chất thải rắn, lỏng, khí. Chất thải
trong cấc cơ sở y tế được phân thành hai loại: chất thải hóa học không gây
nguy hại như đường, axit béo, một số muối vô cơ, hữu cơ và chất thải hóa
học nguy hại bao gồm:
- Formaldehyde được sử dụng trong khoa giải phẫu , lọc máu, ướp
xác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa khác.
- Các chất quang hóa có trong các dung dịch cố định và tráng phim
hydroquinone, Kalihydroxide, Bạc, Glutaraldehyde.
- Các dung môi:
Các thuốc mê bốc hơi: Halothane (Fluothane), Enflurane (Ethrane),
Isoflurane (Forane),
Các hợp chất không có Halogen: Xylene, Acetone, Isopropanol,
Toluene, Ethyl acetate, Acetonitrile, Benzene .
- Oxyte ethylene: được sử dụng để tiệt khuẩn các thiêt bị y tế, phòng
phấu thuật nên được đóng thành bình và gắn với thiết bị tiệt khuẩn. Loại khó
này có thể gây ra nhiều độc tính và có thể gây ra ung thư ở người.


7


duyệt chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020;


8

- Quyết định số 64/2003/QĐ- TTg ngày 22 tháng 04 năm 2003 của Thủ
tướng Chính phủ về “ Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng ”;
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ
Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế;
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2011 của Thủ
tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn
2011 đến 2015 và định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2011 của Thủ
tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải
rắn y tế nguy hại đến năm 2025;
- Chỉ thị số 17/2008/CT- TTg ngày 05 tháng 06 năm 2008 của Thủ
tướng Chính phủ về “ Một số giải pháp cấp bách đẩy mạnh công tác xử lý
triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số
64/2003/QĐ- TTg ”.
2.4. Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế
2.4.1. Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế trên thế giới
Nghiên cứu về chất thải y tế (CTYT) đã được tiến hành tại nhiều
nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Pháp...
Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh;
phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử
dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý
chất thải...); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm
giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải

Mỹ

Hà Lan

3.9

4.4

3.3

3.35

5.24

4.2-6.5

-

3.4

3.0

2.5
-

4.5
-

2.7
-

nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc
nhọn. Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT
đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [16].
2.4.2. Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
Theo thống kê năm 2011 của Cục Quản lý Môi trường Y tế - Bộ Y
tế, cả nước có hơn 1.000 bệnh viện, mỗi ngày phát sinh từ 350 - 500 tấn
chất thải y tế, trong đó khoảng 45 tấn chất thải y tế nguy hại. Thế nhưng,
nhiều bệnh viện không có hệ thống lò đốt chuyên dụng. Vì thế, vẫn có
những vụ đốt chất thải y tế nguy hại trong khuôn viên bệnh viện với lượng
lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh nhân cũng như người dân sống xung
quanh. Cục phòng chống tội phạm về môi trường (PCTPVMT) cũng từng
phát hiện một số bệnh viện ở Hà Nội vi phạm quy định về bảo vệ môi
trường, khi trong số tang vật thu được có cả rác thải của bệnh nhân cách ly
như HIV, lao v.v… Một xét nghiệm khoa học đã cho thấy sự nguy hiểm
của rác thải bệnh viện: mỗi một gram bệnh phẩm như mủ, đờm… nếu
không được xử lý, sẽ truyền 11 tỉ vi khuẩn gây bệnh ra ngoài. Thực trạng


10

trong quản lý chất thải y tế khiến dư luận bức xúc và lực lượng cảnh sát
môi trường đang phải tăng cường phát hiện, xử lý vi phạm [13].
Hiện nay trên cả nước, lượng CTR trung bình thải ra mỗi ngày là
0,86kg/giường bệnh, trong đó CTR y tế là 0,14kg/giường bệnh. Tổng lượng
CTR ở các bệnh viện trên toàn quốc lên tới 100 tấn và 16 tấn CTR y tế cần
được xử lý.
Bảng 2.4: Các loại CTR đặc thù phát sinh từ hoạt động y tế
Loại CTR

Nguồn tạo thành

Buồng tiêm

Loại chất thải phát sinh
Chất thải hóa học, bình áp suất, chất
thải sinh hoạt


11

2
3
4
5
6
7
8

Chất thải lâm sàng, chất thải hóa
học, chất thải sinh hoạt
Chất thải phóng xạ, chất thải hóa
Phòng xét nghiệm Xquang
học,bình áp suất, chất thải sinh hoạt
Chất thải lâm sàng, chất thải phóng
Phòng cấp cứu
xạ
Phòng bệnh nhân không lây lan Chất thải sinh hoạt
Chất thải phóng xạ,bình áp suất,
Phòng bệnh nhân truyền nhiễm
chất thải sinh hoạt
Chất thải lâm sàng, chất thải phóng

Tổng lượng chất thải y tế
nguy hại (kg/giường.ngày)
BV
Trung BV
BV Trung
ương Tỉnh Huyện bình
(TW)
0.30 0.31 0.18

0.64
0.50
1.01
0.82
0.66

0.04
0.04
0.26
0.21
0.12

0.47
0.41
0.87
0.95
0.68

0.45
0.45
0.73


12

BV chuyên khoa TW
BV Đa khoa tỉnh
BV Chuyên khoa tỉnh
BV huyện, ngành

0.23- 0.29
0.29
0.17- 0.29
0.17- 0.22

0.28- 0.35
0.35
0.21- 0.35
0.21- 0.28
( Nguồn: Bộ Y tế, 2010 )
Lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện có xu hướng ngày càng
tăng lên qua các năm. Theo Cục Quản lý Môi trường Y tế, hiện mới có
khoảng 44% bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế nhưng nhiều nơi đã
rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Ngay ở các bệnh viện tuyến T.Ư
vẫn còn tới 25% cơ sở chưa có hệ thống xử lý chất thải y tế; bệnh viện tuyến
tỉnh gần 50% và tuyến huyện tới trên 60%. PGS.TS Nguyễn Huy Nga, Cục
trưởng Cục Quản lý Môi trường Y tế dự báo, năm 2015, con số này sẽ trên
700 tấn/ngày và hơn 800tấn/ngày vào năm 2020. Rác thải y tế không được
xử lý đúng cách sẽ là ẩn họa cho cuộc sống của người dân [13].
Tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại chất thải rắn y tế là 95,6% và thu
gom chất thải rắn y tế là 90,9%. Tuy nhiên chỉ có khoảng 50% các bệnh
viện trên thực hiện phân loại, thu gom đạt yêu cầu theo quy chế quản lý

Bệnh phẩm
Các đồ vật bằng nhựa
Các đồ vật bằng kim loại
Thủy tinh vỡ, chai lọ…
Thuốc hết hạn sử dụng
Các chất khác
Thành phần phân tích
Tỷ trọng chất thải nguy hại (tấn/m3)
Độ ẩm của chất thải nguy hại (%)
Độ tro của chất thải nguy hại (%)
Nhiệt trị (Kcal/kg)

26.8- 40
3.0- 9.84
1.3- 2.29
4.58- 18.1
1.31- 13.8
22.63- 3.2
0.64- 1.4
1.8- 2.63
0.1- 1.6
11.5- 26

0.12- 0.16
38.2- 40.5
12.5- 15.6
2400- 3200
( Nguồn: Nguyễn Thị Kim Thái, 2007)
Nhiều chuyên gia bảo vệ môi trường đã khuyến cáo, nếu chất thải y tế
không được quản lý, xử lý đúng quy trình sẽ gây ra nguy cơ đối với môi

nguồn nhân tạo là do chiếu xạ y tế. Cả nước hiện có hơn 2.000 cơ sở Xquang, nhưng tới 55% phòng chụp không đảm bảo che chắn, 70% không đủ
tiêu chuẩn kích thước và nhiều phòng chụp có mức chiếu xạ vượt 2,5 lần giới
hạn cho phép [13].
Đó là chưa kể chất bài tiết của những người vừa chụp X-quang cũng
gây hại lớn với những người xung quanh nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
Chỉ một số ít bệnh viện có hệ thống kiểm soát nguồn phóng xạ hiện đại như
Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện K, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Đa
khoa Phú Thọ (TP Hồ Chí Minh) v.v… còn hầu hết chưa có. Mà theo các
chuyên gia y tế, tác hại của nhiễm phóng xạ là lâu dài với các hậu quả như có
thể ngừng hoạt động tủy xương, tiêu chảy, sụt cân, nhiễm độc máu, vô sinh,
ung thư vv…[13]
Để cho việc quản lý chất thải được tốt thì việc phân luồng chất thải
trong bệnh viện trước khi đem đi xử lý là rất cần thiết.


15

Chất thải sinh hoạt

Chất thải lây
nhiễm

Kim tiêm

Chất thải phóng
xạ, hóa học và
thủy ngân

Thu gom
tại chỗ

(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Thái, 2011)
Hình 2.1: Sơ đồ phân luồng chất thải trong các bệnh viện trước khi xử lý
2.4.3. Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại tỉnh Thái Nguyên
Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 21 đơn vị y tế trong đó có 01 đơn
vị cấp trung ương quản lý là bệnh viện Đa khoa TW, 11 đơn vị thuộc tỉnh
quản lý và 09 cơ sở y tế thuộc huyện quản lý (chưa kể các trạm y tế xã
phường). Tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại các đơn vị y tế là 6187
kg/ngày, trong đó tỷ lệ chất thải rắn nguy hại chiếm 9,6% tổng khối lượng
chất thải rắn phát sinh. Đối với các cơ sở y tế tuyến huyện, khối lượng CTR
phát sinh hằng ngày khoảng 1233 kg/ngày, chiếm 20% so với chất thải rắn
phát sinh trong các đơn vị y tế của toàn tỉnh. CTR y tế nguy hại phát sinh
tại các đơn vị y tế cấp huyện khoảng 58 kg/ngày, chiếm khoảng 4,7% tổng
lượng thải phát sinh của các đơn vị y tế cấp huyện [11].
2.4.3.1. Hình thức thu gom CTR tại các cơ sở y tế
- Các cơ sở tuyến tỉnh: phân loại, thu gom theo quy định của bộ y tế.
CTR sinh hoạt đựng trong túi nilon màu xanh, CTR sinh hoạt y tế đựng trong
túi nilon màu vàng, CTR sinh hoạt y tế nguy hại đựng trong túi nilon màu
vàng, đen.
+ Đối với CTR sinh hoạt các cơ sở y tế đều tự thu gom và thuê công ty
CP Môi trường và Công trình đô thị Thái Nguyên vận chuyển hàng ngày và
xử lý tại bãi chôn lấp của thành phố.
+ Rác có thể tái chế như chai lọ, giấy, nhựa… đều do các nhân viên của
bệnh viện tự thu gom để bán cho các cơ sở tái chế.
+ Đối với CTR y tế nguy hại: có 03 bệnh viện được trang bị lò đốt để
xử lý tại chỗ là bệnh viện C, bệnh viện Lao và bệnh phổi, Bệnh viện Gang
thép. Các bệnh viện còn lại đều thuê Công ty CP Môi trường và Công trình
Đô thị Thái Nguyên vận chuyển và xử lý tại lò đốt rác y tế của thành phố.
- Cơ sở y tế tuyến huyện: Các cơ sở y tế tuyến huyện đều đã thực hiện
phân loại rác thành 04 loại theo quy định của Bộ Y tế và thu gom riêng của
Bộ Y tế. Ngoài bệnh viện Đa khoa Phổ Yên đã được trang bị lò đốt chất thải

Chỉ có bệnh vện Đa kha huyện Phổ Yên được trang bị lò đốt chất thải rắn
y tếtrong năm 2009 nhưng chi phí vận hành gặp khó khăn. Còn lại các bệnh viện
đều xử lý bằng biện pháp đốt thủ công và chôn lấp ngay trong khuôn viên của
bệnh viện không đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh môi trường [11].
Trong số 19 BV trên địa bàn tỉnh (tính cả BV Đa khoa T.Ư Thái
Nguyên là BV tuyến T.Ư) chỉ có 5 BV có lò đốt nằm ở 3 BV tuyến tỉnh và 2
BV tuyến huyện nhưng 1 lò đã lâu không được sử dụng.


18

Theo tính toán của Sở Y tế Thái Nguyên trung bình một ngày mỗi
giường bệnh thải ra 0,15 - 0,3kg rác y tế. Giả sử các BV đều hoạt động hết
công suất giường bệnh, với số lượng 1.560 giường bệnh của 8 BV tuyến
tỉnh lượng rác y tế mỗi ngày khoảng 234 - 468kg, con số này với các BV
tuyến huyện là 125 - 250kg.
Đối với rác thải y tế, ngoài một số BV làm hợp đồng thuê đốt số còn lại
tự đốt rồi chôn lấp dù cách này không đảm bảo vệ sinh.
Mỗi ngày, Cty CP MT&CTĐT Thái Nguyên chỉ tiêu huỷ trung bình
130kg rác thải y tế, số rác y tế rất lớn còn lại không biết đi về đâu? Tại các
bệnh viện huyện và Trung tâm y tế rác thải được chôn lấp không hợp vệ
sinh ngay trong khuôn viên bệnh viện hoặc chôn cùng rác thải sinh hoạt tại
bãi rác của huyện, tiềm tàng nguy cơ gây ô nhiễm tới môi trường và sức
khoẻ con người.
2.5. Tác động của chất thải y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
Chất thải y tế không được xử lý đúng cách thì sẽ dẫn đến tình trạng ô
nhiễm môi trường đất, nước, không khí và gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khỏe con người, hệ sinh thái.
Chất thải rắn tại nơi tập trung nếu không được bảo quản tốt sẽ sinh ra
mùi gây ô nhiễm môi trường xung quanh, các vi khuẩn lây nhiễm có hại trong

Theo điều tra của WHO, điều dưỡng viên, hộ lý và những người thu
gom vận chuyển rác thải là nhóm người có nguy cơ cao do bị tổn thương bởi
các vật sắc nhọn trong khi tiếp xúc trực tiếp với chúng, trong quá trình phân
loai, thu gom, lưu trữ, vận chuyển chất thải.
Nguy cơ nhiễm bệnh từ các vật sắc nhọn được tóm tắt trong bảng sau:
Bảng 2.9: Tỷ lệ nguy cơ nhiễm bệnh từ vật sắc nhọn
Nhiễm khuẩn
HIV
Viêm gan A và B
Viêm gan C

Nguy cơ (%)
0.03
22 - 40
10
(Nguồn: Hồng Hải, 2010)

2.5.3. Tác động của hóa chất thải và dược phẩm
Nhiều hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong cơ sở y tế gây ảnh
hưởng đến sức khỏe con người các chất gây độc gen, chất độc tế bào, chất ăn
mòn, chất dễ cháy, chất gây phản ứng, gây nổ. Có thể là các loại thuốc quá
hạn, hết tác dụng cần vứt bỏ.
Bác sỹ hay dược sỹ gây mê có thể mắc các bệnh về đường hô hấp hoặc
viêm da khi pha chế dược liệu để gây mê cho bệnh nhân. Chúng có thể gây


20

độc cho người tiếp xúc lần đầu tiên hoặc thường xuyên tiếp xúc với chúng
như tổn thương qua da hoặc bị bỏng…



21

Công nghệ lò hấp sử dụng sự kết hợp giữa xử lý ở nhiệt độ cao, hấp hơi và
tạo áp lực lớn để khử vi trùng, vi rút gây bệnh và các mầm sinh học để biến
rác thải y tế độc hại trở thành rác thải thông thường có thể được xử lý theo
quy trình bình thường như chôn xuống đất. Công nghệ lò hấp có mức độ
tiêu diệt virus và tác nhân gây bệnh cao nhất so với các loại hình công nghệ
khác. Vì những ưu điểm trên, công nghệ lò hấp được lựa chọn phổ biến sử
dụng trong các bệnh viện để thay thế dần cho công nghệ lò đốt.
2.6.3. Tiệt trùng bằng hóa chất
Xử lý rác thải y tế bằng hóa chất tức là sử dụng hóa chất để loại bỏ sự độc
hại của rác thải y tế, biến chúng thành rác thải thông thường. Hóa chất được kết
hợp với nước nóng để khử trùng. Các loại hóa chất hay sự dụng là Chlorine, khí
Ozone, Formaldehyde, Ethylene, khí oxit, khí propylene oxide và axít periacetic.
Công nghệ này cho phép xử lý triệt để một số loại rác thải, tuy nhiên nó vẫn tạo ra
những hiệu ứng phụ đối với phần rác thải sau xử lý. Vì vậy việc sử dụng cách thức
tiệt trùng bằng hóa chất ít được sử dụng trong các bệnh viện do các loại rác thải y
tế rất đa dạng dẫn tới khó đảm bảo rác thải sau xử lý hoàn toàn đã tiệt trùng.
2.6.4. Xử lý bằng công nghệ vi sóng
Công nghệ xử lý bằng vi sóng được sử dụng khá phổ biến tại các cơ
sở y tế. Quy trình xử lý đó là rác thải trước hết được nghiền và trộn với
nước, sau đó dùng vi sóng xử lý. Khi kết hợp việc nghiền rác thải khi xử lý
khiến cho tổng khối lượng rác thải giảm tới 80% trong quá trình tiêu diệt
các chất độc hại và tiệt trùng. Tuy nhiên xử lý vi sóng được đánh giá không
phù hợp với một số loại rác thải chứa hóa chất do tạo ra những tác động
phụ có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của người tham gia vào quy trình xử lý
rác thải. Mặt khác công nghệ vi sóng chỉ thích hợp cho những trung tâm y
tế có quy mô xử lý rác thải nhỏ.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các loại rác thải y tế nguy hại phát sinh trong bệnh viện huyện Đại Từ.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực thu gom, vận
chuyển, xử lý rác thải tại bệnh viện.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Những vấn đề có liên quan đến rác thải y tế trong quá trình hoạt động
của bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ.
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 8/01/2012 – 30/04/2012
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đại Từ
Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Đại Từ.
- Một số đặc điểm chính của bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ.
- Hiện trạng phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý rác thải y
tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ.
- Hiểu biết của cán bộ nhân viên bệnh viện, bệnh nhân về vấn đề quản
lý rác thải y tế của bệnh viện.
- Giải pháp nâng cao công tác quản lý rác thải y tế tại bệnh viện Đa
khoa huyện Đại Từ.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
- Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực.
- Thu thập tài liệu về quy mô, cơ cấu tổ chức của bệnh viện.
- Thu thập tài liệu về hồ sơ đăng kí chủ nguồn thải chất thải nguy hại
của bệnh viện.
- Thu thập tài liệu về hợp đồng thu gom rác thải của bệnh viện với
Ban quản lý vệ sinh môi trường đô thị huyện Đại Từ.

nam giáp huyện Phổ Yên và Thành Phố Thái Nguyên; Phía đông giáp
huyện Phú Lương; Phía tây bắc và đông nam giáp tỉnh Tuyên Quang và
tỉnh Phú Thọ.

Huyện Đại Từ có 31 đơn vị hành chính, tổng diện tích đất tự nhiên toàn
huyện là 57.790 ha chiếm 16,58% diện tích toàn tỉnh; Dân số 159.569 người
chiếm 16,12% dân số cả tỉnh Thái Nguyên, trong đó có 8 dân tộc anh em cùng
chung sống: Kinh, Tày, Nùng, Sán chay, Dao, Sán dìu, Hoa, Ngái; Mật độ
dân số bình quân 277,16 người/km 2.


Trích đoạn Tỡnh hỡnh thu gom, lưu trữ, vận chuyển rỏc thải tại bệnh viện Biện phỏp về quản lý mụi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status