Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp vận tải hàng hóa bằng đường bộ tại chi cục thuế quận hồng bàng thành phố hải phòng - Pdf 35

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi thông tin trích dẫn trong
luận văn đều ghi rõ nguồn gốc.

Hải Phòng, ngày
Tác giả

i

tháng

năm 2016


LỜI CẢM ƠN
Cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các đơn vị, cá nhân đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản
luận văn này.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS DƯƠNG
VĂN BẠO đã trực tiếp hướng dẫn và đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban
giám hiệu Trường Đại học Hàng Hải, Viện Đào tạo sau đại học cùng toàn thể quý
thầy cô đã tận tình giúp đỡ trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân trọng cảm ơn các các đồng nghiệp, các cơ quan ban ngành, Chi
Cục thuế quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng, đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu
thập, tìm kiếm số liệu, tài liệu.
Xin cảm ơn các bạn đồng môn đã đóng góp ý kiến giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn.

ii

3.2.4. Một số kiến nghị đối với Cục thuế Hải Phòng và các cơ quan quản lý nhà nước.
.........................................................................................................................................27

iii


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

Chữ viết tắt
TNHH
DNTN
KHKT
CTCP
GTGT
TNDN
TTĐB


Tên bảng
Số DN vận tải đường bộ mới được thành lập, cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Tổng số DN vận tải đường bộ được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh (số liệu tính đến ngày

Trang
54

55

31/12 của mỗi năm)
Tổng số DN vận tải đường bộ được cấp giấy chứng
2.3

nhận đăng ký kinh doanh thực tế có hoạt động sản

56

xuất kinh doanh dịch vụ
Tổng số DN vận tải đường bộ được cấp giấy chứng
2.4

2.5

2.6

2.7
2.8

57

58

59

62
64
66
68
69
70
74


DANH MỤC CÁC HÌNH
Số bảng
1.1
2.1
2.2

Tên bảng
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Cục thuế Hải Phòng
Sơ đồ cơ cấu trình độ chuyên môn của chủ DN
Sơ đồ so sánh tiền thuế

vi

Trang
49

kinh doanh dịch vụ dài hạn phát triển theo hướng bền vững, hoạt động kinh doanh
còn manh mún, thủ công, thu nhập của người lao động còn thấp...
Để các chính sách thuế đạt được hiệu quả cao hơn nữa, tỏ rõ là công cụ có

1


tầm quan trọng hàng đầu trong quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế thời kỳ đất nước
tham gia hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới đồng thời sớm khắc phục
những hạn chế, tồn tại của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng hoá đường
bộ tại Hải Phòng. Tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: "Hoàn thiện công tác quản lý
thuế đối với các doanh nghiệp vận tải hàng hóa bằng đường bộ tại chi cục thuế
quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng".
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Như chúng ta đã biết: Quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám
sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế
vào ngân sách theo quy định của pháp luật, vấn đề cần quan tâm giải quyết của đề
tài là trên cơ sở nghiên cứu các hoạt động về tố chức, điều hành và giám sát của cơ
quan thuế đối với doanh nghiệp vận tải hàng hóa bằng đường bộ tại quận Hồng
Bàng thành phố Hải Phòng; đề ra những biện pháp quản lý thuế hiệu quả, qua đó
có thể triển khai áp dụng rộng khắp trên phạm vi cả nước, góp phần đảm bảo thực
hiện tốt mục tiêu chung của thuế.
Để đạt được mục đích: “Đề ra những biện pháp quản lý thuế hiệu quả
đối với doanh nghiệp vận tải hàng hóa bằng đường bộ tại chi cục thuế quận
Hồng Bàng thành phố Hải Phòng” cần xác định rõ những nhiệm vụ cụ thể, đó là
thấy rõ thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ; thực trạng chấp hành pháp luật
nhà nước nói chung, pháp luật thuế nói riêng của doanh nghiệp; thực trạng và
những tồn tại, hạn chế của Cơ quan quản lý thuế địa phương trong công tác quản lý
thuế doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải hàng hoá đường bộ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


3


CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng, phân loại và vai trò của thuế
Thuế luôn gắn liền với sự tồn tại, phát triển của nhà nước và là một công cụ
quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ
của mình. Quản lý thuế là một trong những hoạt động quản lý hành chính nhà nước
nhằm thực hiện các mục tiêu đặt ra cho thuế trên cơ sở tổ chức bộ máy quản lý
thuế theo mô hình quản lý phù hợp từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội. Quản lý
thuế được thực hiện bằng các quy trình nghiệp vụ cụ thể theo các nguyên tắc nhất
định trên cơ sở thông tin có chất lượng thu được từ hệ thống bảo đảm thông tin
quản lý thuế nhằm phát huy hiệu lực và hiệu quả của cơ chế hành thu.
1.1.1.1. Khái niệm thuế
Trên thực tế thuế đã tồn tại từ khi các Nhà nước hình thành, song các lý luận
về kinh tế của thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm
về thuế [13]. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ra mới nhìn nhận
từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chưa phản ánh đầy đủ bản chất
chung nhất của phạm trù này.
Chẳng hạn, theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản:
“Để đạt được quyền lực công cộng đó, cần phải có những đóng góp của những
người công dân của nhà nước, đó là thuế” [1].
C.Mác đã viết “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước”; Ăng ghen
cũng đã viết “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công
dân cho nhà nước, đó là thuế ” [44].
Theo Benjamin Franklin, một trong những tác giả của bản tuyên ngôn độc
lập nổi tiếng của nước Mỹ đã đưa ra một lời tuyên bố bất hủ trong lịch sử thuế

1.1.1.2. Đặc điểm của Thuế
- Thuế luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước: quá trình động viên nguồn
thu từ thuế cho nhà nước là quá trình chuyển giao quyền sở hữu một bộ phận thu
nhập của các pháp nhân và thể nhân thành quyền sở hữu của nhà nước; do vậy đặc
điểm này được thể chế hóa trong hiến pháp, pháp luật của mọi quốc gia.
Ở nước ta, Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong

5


Hiến Pháp: “Các cơ sở SXKD thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ
các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật...”;
“Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của
pháp luật”.
- Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho
nhà nước.
Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị buộc người nộp thuế chuyên giao một
phần thu nhập cho Nhà nước thông qua quy định pháp luật về thuế.
- Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả
trực tiếp.
Thuế không mang tính chất đổi giá mà nhận được lợi ích do Nhà nước cung
cấp cho cộng đồng xã hội (cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng...);
Thu thuế ở công dân này, lĩnh vực này, địa phương này không nhất thiết
phải trực tiếp chi lại cho công dân đó, lĩnh vực hay địa phương đó, cũng không
nhất thiết đưa tất cả nguồn thu được từ thuế vào đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh, cung cấp dịch vụ mà có thể trả lại ở những mức độ khác nhau, hình thức
khác nhau thông qua chi cho những khoản khác, lĩnh vực khác như trợ cấp thất
nghiệp, trợ cấp người nghèo...
1.1.1.3. Chức năng, vai trò của thuế
- Huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước: Trong lịch sử phát triển của

+ Điều chỉnh tích luỹ tư bản: Thông qua việc giảm dần thuế suất huy động,
thay đổi thuế suất;
+ Thuế góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước;
+ Áp dụng các biện pháp ưu đãi thuế.
- Điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội.
+ Thuế là công cụ để nhà nước can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập,
của cải xã hội, hạn chế sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng
lớp dân cư trong xã hội.
+ Điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư có thể được thực hiện thông
qua các sắc thuế trực thu; ngoài ra việc điều hoà thu nhập, định hướng tiêu dùng
còn có thể được thực hiện một phần thông qua các sắc thuế gián thu.

7


1.1.1.4. Phân loại thuế
a. Phân loại theo phương thức đánh thuế
- Thuế trực thu: là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của
người nộp thuế.
+ Ưu điểm: động viên trực tiếp vào thu nhập chịu thuế;
+ Nhược điểm: dễ gây ra phản ứng từ phía người nộp thuế.
- Thuế gián thu: là loại thuế thu một cách gián tiếp thông qua giá cả
hàng hoá, dịch vụ;
+ Ưu điểm: Đối tượng chịu thuế rộng, thuế ẩn vào giá bán hàng hoá dịch vụ
nên người chịu thuế thường không cảm nhận được gánh nặng của loại thuế này;
+ Nhược điểm: Do có tính chất luỹ thoái nên không đảm bảo tính công bằng
trong nghĩa vụ nộp thuế.
Tuỳ theo đặc điểm trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước mà xác
định một tương quan theo tỷ lệ huy động hợp lý giữa thuế trực thu và thuế gián
thu.

Người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế là thể nhân hoặc pháp
nhân có trách nhiệm trực tiếp nộp thuế cho nhà nước; trong một số trường hợp,
người nộp thuế không đồng thời là người chịu thuế.
- Đối tượng chịu thuế: Là đối tượng được đưa ra để đánh thuế; mỗi một sắc
thuế có đối tượng chịu thuế riêng, như hàng hoá, dịch vụ, thu nhập...; đối tượng
chịu thuế thường được tính theo đơn vị giá trị hoặc theo đơn vị vật lý.
- Căn cứ tính thuế: Căn cứ tính thuế đối với một số sắc thuế là cơ sở tính
thuế và thuế suất;
+ Cơ sở tính thuế là số lượng đơn vị (theo giá trị hoặc theo đơn vị vật lý) của
đối tượng chịu thuế; mỗi sắc thuế có một cơ sở tính thuế riêng.
+ Mức thuế (thuế suất): Thể hiện mức độ động viên của nhà nước trên một
đơn vị so với cơ sở tính thuế và được biểu hiện dưới hình thức thuế suất hay định
suất thuế;
Nguyên tắc xây dựng thuế suất: Phù hợp với khả năng thu thuế, đảm bảo
nguồn lực cho ngân sách nhà nước và phát triển sản xuất kinh doanh.
- Ưu đãi thuế: Mục đích để khuyến khích phát triển sản xuất, thu hút đầu tư,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế...

9


+ Ưu đãi về thuế suất: Áp dụng thuế suất thấp hơn trong thời gian nhất định
với ngành nghề hoặc địa bàn đầu tư;
+ Ưu đãi về miễn thuế, giảm thuế: Miễn, giảm thuế cho toàn bộ thu nhập
hoặc phần thu nhập cần khuyến khích; bên cạnh ưu đãi thuế suất, miễn giảm còn
có các hình thức khấu hao nhanh, chuyển lỗ...
1.1.2. Tổng quát về doanh nghiệp và doanh nghiệp vận tải bộ
1.1.2.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
a. Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động

vốn góp. Loại hình này gồm công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần:
Công ty trách nhiệm hữu hạn: là một loại công ty đối vốn gồm các thành viên
không có quy chế của nhà kinh doanh và các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về
các khoản nợ của công ty cho đến hết những phần vốn góp của họ.
Công ty cổ phần: là một loại công ty đối vốn trong đó các thành viên có cổ phiếu
và chỉ chịu trách nhiệm đến hết giá trị những cổ phần mà mình có.
Hợp tác xã: là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi
ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra, theo quy định của pháp luật để
phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp nhau thực hiện có
hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp
phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
*Phân loại doanh nghiệp căn cứ vào quy mô:
Các chỉ tiêu đánh giá quy mô:
- Giá trị tổng sản lượng
- Tổng số vốn
- Tổng doanh thu
- Số lượng lao động
- Tổng mức lãi một năm.
Dựa vào các chỉ tiêu trên, chúng ta chia doanh nghiệp thành 3 loại hình cơ bản:
- Doanh nghiệp quy mô lớn
- Doanh nghiệp quy mô vừa
- Doanh nghiệp quy mô nhỏ
1.1.2.2. Vận tải và doanh nghiệp vận tải

11


a. Khái niệm và phân loại vận tải
Vận tải là hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đáp ứng nhu cầu
di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển. Đối tượng vận chuyển gồm con người

duy nhất và chỉ có 1 người tổ chức chuyên chở chịu trách nhiệm trong suốt quá
trình vận chuyển.
- Vận tải đứt đoạn: Hàng hoá và hành khách được vận chuyển từ nơi đi tới nơi
đến bằng hai hay nhiều công cụ vận tải khác nhau, sử dụng các chứng từ vận tải
khác nhau và có nhiều người chuyên chở phải chịu trách nhiệm trong quá trình vận
tải.
- Vận tải hàng nguyên (toa, tàu): Khi khối lượng hàng hoá lớn đủ xếp đầy một
toa xe, một container, 1 ôtô, máy bay, tàu thuỷ…
- Vận tải hàng lẻ: Khối lượng hàng hoá ít, không đủ xếp đầy phương tiện vận tải
kê trên.
- Vận tải hàng hỗn hợp.
Tất cả các phương thức vận tải kể trên tạo thành 1 hệ thống vận tải thống nhất
trong 1 nước, 1 khu vực hay trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệm vụ chủ yếu của hệ
thống vận tải thống nhất là phối hợp hoạt động đồng bộ nhằm thoả mãn nhu cầu
chuyên chở của toàn xã hội, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, kĩ thuật của các loại
hình vận tải khác nhau nhằm mục đích mang lại chất lượng dịch vụ cao nhất cho
khách hàng, cũng như hợp lí hoá các chi phí cho người tổ chức vận tải.
b. Đặc điểm ngành sản xuất vận tải
Đối với ngành sản xuất vật chất: trong qúa trình lao động sản xuất đều có sự kết
hợp 3 yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động. Vận tải cũng là 1
ngành sản xuất vật chất vì trong quá trình sản xuất của ngành sản xuất vận tải cũng
có sự kết hợp 3 yếu tố đó. Ngoài ra trong quá trình sản xuất ngành vận tải cũng đã
tiêu thụ 1 lượng vật chất nhất định: vật liệu, nhiên liệu, hao mòn phương tiện vận
tải… Đối tượng lao động trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng trải qua
sự thay đổi vật chất nhất định.
Là ngành sản xuất vật chất, vận tải cũng có sản phẩm của riêng mình, đó là sự
di chuyển của con người và vật phẩm trong không gian. Sản phẩm vận tải cũng là 1
dạng hàng hoá, cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hoá là lượng lao
động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hoá đó . Còn giá trị sử dụng của vận tải là


Tạo ra một phần đáng kể trong GDP & GNP
Đáp ứng nhu cầu di chuyển ngày càng tăng của hàng hoá, hành khách trong xã

14


hội.
Góp phần khắc phục sự phát triển không đồng đều giữa các địa phương, mở
rộng giao lưu trao đổi hàng hoá trong một nước, khu vực, châu lục cũng như thế
giới.
Rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền núi góp
phần cải thiện đời sống nhân dân.
Mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài.
Tăng cường khả năng quốc phòng và bảo vệ đất nước.
d. Vận tải bằng đường bộ
Ưu điểm:
- Vận tải ôtô có tính linh hoạt và cơ động cao, mềm dẻo do: Ôtô nhỏ, có thể hoạt
động ở mọi nơi từ thành thị đến nông thôn, miền xuôi đến miền ngược. Vận tải ôtô
không bị lệ thuộc nhiều vào đường xá, bến bãi như ga xe lửa, sân bay, cảng biển
của các phương thức vận tải đường sắt, đường hàng không, đường biển. Vận tải
ôtô không đòi hỏi phải có quy trình quá phức tạp như vận tải hàng không. Ôtô có
thể giao hàng tận nhà mà không có khó khăn gì. Thủ tục đối với vận tải ôtô thừng
đơn giản do số lượng hàng hóa chuyên chở nhỏ, dễ kiểm tra. Người chuyên chở
cũng như chủ hàng có khả năng kiểm soát được hàng hóa trong quá trình giao
nhận, ít sợ lầm lẫn, thời gian giao nhận thường nhanh chóng, ít tranh chấp.
- Tốc độ vận chuyển ôtô khá cao: Tốc độ vận chuyển bằng ôtô tuy nhỏ hơn vận tải
hàng không nhưng gần ngang bằng đường sắt và lớn hơn nhiều so với vận tải
đường biển và dường thủy nội địa cũng như đường sông. Tốc độ này đứng hàng
trung bình sau máy bay và tàu hỏa. Tuy nhiên ưu điểm lớn nhất về giao nhận hàng
hóa nhanh chóng, thực hiện vận chuyển thẳng từ nơi gửi đến nơi nhận hàng.


Hạn chế về mặt chuyên chở do cước phí cao: Làm cho vận tải ôtô không có

khả năng chuyên chở các mặt hàng có giá trị thấp. Điều này hạn chế việc chuyên
chở các loại nguyên liệu, bán thành phẩm có giá trị thấp.
Tuy vận tải ôtô không phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên so với các loại
phương tiện khác nhưng cũng phụ thuộc nhiều vào tình trạng của đường xá, không
thể hoạt động trong điều kiện mưa bão lớn trong khi tàu hỏa hay tàu biển vẫn hoạt
động bình thường.
e. Doanh nghiệp vận tải
Doanh nghiệp vận tải là doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp
- Doanh nghiệp vận tải là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải nên
mang đầy đủ các đặc điểm của hoạt động vận tải.
- Hoạt động vận tải là ngành sản xuất vật chất đặc biệt, sản phẩm của nó chỉ là sự
di chuyển người hay hàng hoá từ nơi này đến nơi khác. Đây là một hoạt động
mang tính phục vụ, không chỉ hoạt động trong phạm vi sản xuất, mà còn cả trong

16


khâu lưu thông phân phối. Hoạt động vận tải không có sản xuất dự trữ, không có
khâu trung gian và là một hoạt động phức tạp.
Từ những đặc điểm trên cho thấy, doanh nghiệp vận tải muốn tổ chức tốt và có
hiệu quả quá trình vận tải thì phải biết phối hợp chặt chẽ giữa vận tải và chủ hàng
cũng như phải có phương tiện dự trữ để đáp ứng nhu cầu vận tải.
1.2. CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM
1.2.1. Những vấn đề chung về quản lý thuế
Trên thế giới, có nhiều mô hình tổ chức quản lý thuế, chẳng hạn như: Mô
hình tổ chức quản lý thuế theo sắc thuế, mô hình tổ chức bộ máy theo nhóm đối
tượng nộp thuế, mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng, mô hình kết hợp giữa các

quy định của pháp luật.
1.2.1.2. Nội dung quản lý thuế chia thành 3 nhóm như sau
- Các thủ tục hành chính thuế gồm đăng ký, khai thuế, thủ tục hoàn thuế...;
- Giám sát tuân thủ bao gồm quản lý thông tin, kiểm tra và thanh tra
thuế;
- Chế tài xử lý vi phạm gồm cưỡng chế, xử lý vi phạm pháp luật về
thuế.
1.2.1.3. Nguyên tắc quản lý thuế
- Tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội đều có trách nhiệm tham
gia quản lý thuế;
- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế và
các quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đắng; bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.
1.2.1.4. Phương pháp tổ chức quản lý thuế: tổ chức quản lý thu thuế theo các chức
năng sau
- Chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế;
- Chức năng xử lý hồ sơ khai thuế và kế toán thuế;
- Chức năng kiểm tra thuế, thanh tra thuế;
- Chức năng quản lý thu nợ và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính
thuế.

18


Về tổ chức bộ máy quản lý thuế: ở Trung ương có Tổng cục thuế trực thuộc
Bộ Tài chính và tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có các Cục thuế
chịu sự chỉ đạo song trùng của Tổng cục thuế, của ủy ban nhân dân cùng cấp; Ở
cấp quận, huyện và cấp tương đương có Chi cục thuế thuộc Cục thuế; Chi cục thuế
chịu sự chỉ đạo song trùng của Cục thuế và ủy ban nhân dân cùng cấp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status