Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng hà nội thời ký 2002 2004 15k - Pdf 35

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có các
yếu tố: lao động, tài chính và công nghệ. Trong đó tài chính là quan trọng nhất,
quyết định sự làm ăn thành bại của doanh nghiệp. Cùng với sự đổi mới sâu sắc
và mạnh mẽ của nền kinh tế nhiều thành phần, có sự quản lý của nhà nước, mỗi
doanh nghiệp phải tìm cho mình một hướng đi thích hợp để theo kịp xu hướng
phát triển của đất nước nói riêng và thế giới nói chung. Vì vậy, nhu cầu tài chính
cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cho đầu tư phát triển mở rộng thị trường là
rất quan trọng. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có một nguồn tài chính vững
mạnh mà cụ thể là phải có một nguồn vốn dồi dào, thì mới đáp ứng các yêu cầu
trên.
Thực tế cho thấy rằng, với cơ chế mới, doanh nghiệp lúc này được tự chủ
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tự chủ tài chính, đồng thời có trách nhiệm
bảo toàn ổn định nguồn tài chính của riêng mình. Nhờ đó, nhiều doanh nghiệp
đã thích nghi kịp thời với tình hình mới, hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng rõ
rệt, tập trung chủ yếu vào các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây
dựng và dịch vụ; đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư xây lắp đang được mọi cấp,
mọi ngành, mọi người trong toàn xã hội quan tâm. Thành công của ngành xây
dựng đã tạo tiền đề không nhỏ đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá trên đất nước ta. Yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp hiện nay là phải
xác định nhu cầu vốn thường xuyên, cần thiết, tối thiểu; xác định được doanh
nghiệp hiện nay thừa hay thiếu vốn; hiệu quả sử dụng vốn ra sao và các giải
pháp nào cần thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
mình. Đây cũng chính là những vấn đề đáng quan tâm hiện nay và thu hút được
sự chú ý của các nhà đầu tư tài chính doanh nghiệp vì vốn là yếu tố chủ yếu
quan trọng trong tình hình tài chính của công ty.

1





- Đề tài tập trung nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ với mặt chất của
quá trình sử dụng vốn và giải pháp nhằm sử dụng vốn có hiệu quả. Cụ thể là đi
sâu nghiên cứu qui mô, kết cấu, các quan hệ so sánh, các nhân tố liên quan đến
quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là sử dụng số liệu thống kê và kế toán của
Công ty cổ phần lắp máy điện nước thời kỳ 2002 đến 2004.
4. Kết cấu của đề tài
Nội dung của đề tài ngoài lời nói đầu và kết luận bao gồm những chương
sau:
Chương I: Hệ thống chỉ tiêu thống kê về tình hình hoạt động tài chính tại
Công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng Hà Nội.
Chương II: Phương pháp thống kê phân tích tình hình hoạt động tài chính
của Công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng Hà Nội.
Chương III: Phân tích tình hình hoạt động tài chính tại Công ty cổ phần
lắp máy điện nước và xây dựng Hà Nội thời kỳ 2002-2004

3


CHƯƠNG I
HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LẮP MÁY ĐIỆN NƯỚC VÀ XÂY
DỰNG HÀ NỘI
I. HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

1. Doanh nghiệp và môi trường hoạt động của doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường.
1.1. Khái niệm doanh nghiệp

lỏng hoạt động của doanh nghiệp được điều chỉnh bằng luật và các văn bản quy
phạm pháp luật, bằng cơ chế quản lý tài chính.
- Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phải dự tính được khả năng rủi
ro, đặc biệt là rủi ro tài chính để có cách ứng phó kịp thời và đúng đắn. Doanh
nghiệp, dưới sức ép của thị trường cạnh tranh, phải chuyển dần từ chiến lược
trọng cung cổ điển sang chiến lược trọng cầu hiện đại. Những đòi hỏi về chất
lượng, mẫu mã, giá cả hàng hoá, về chất lượng dịch vụ ngày càng cao hơn, tinh
tế hơn của khách hàng buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi chính
sách sản phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả và chất lượng cao.
- Doanh nghiệp thường phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức
vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn. Sự tăng, giảm vốn chủ sử hữu có tác động
đáng kể tới hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế
khác nhau.
2. Tài chính của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
2.1. Khái niệm tài chính
Tài chính của doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị, các
nguồn vận động của những nguồn tài chính trong quá trình tạo lập hoặc sử dụng
các quỹ tiền tệ hoặc vốn hoạt động của doanh nghiệp, nhằm đạt tới mục tiêu
doanh lợi trong khuôn khổ của pháp luật. Tài chính doanh nghiệp phản ánh các
quan hệ kinh tế đa dạng trong các quá trình đó của hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Các quan hệ đó là:
- Quan hệ giữa các doanh nghiệp với Nhà nước. Đây là mối quan hệ phát
sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước, khi Nhà nước góp
vốn với doanh nghiệp.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này được
thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ như vay ngắn hạn, phát
hành cổ phiếu, trái phiếu, gửi ngân hàng, đầu tư chứng khoán… Còn các nhà tài
trợ được các doanh nghiệp trả lãi vay, vốn vay, lãi cổ phần.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp và các thị trường khác: Trong nền kinh tế thị
trường, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị

- Tài chính doanh nghiệp là một công cụ khai thác thu hút các nguồn tài
chính nhằm đảm bảo nhu cầu đầu tư phát triển của doanh nghiệp.
- Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc sử dụng vốn một cách tiết
kiệm và có hiệu quả.
- Tài chính doanh nghiệp có vai trò là đòn bẩy kích thích và điều tiết sản
xuất kinh doanh.
- Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
II. CHỈ TIÊU THỐNG KÊ VÀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ

1. Chỉ tiêu thống kê và hệ thống chỉ tiêu thống kê
1.1. Chỉ tiêu thống kê
Chỉ tiêu thống kê phản ánh lượng gắn với chất của các mặt, các tính chất cơ
bản của hiện tượng số lớn trong điều kiện địa điểm và thời gian cụ thể. Tính chất

6


của các hiện tượng cá biệt được khái quát hoá trong chỉ tiêu thống kê. Do đó chỉ
tiêu thống kê phản ánh những mối quan hệ chung của tất cả các đơn vị tổng thể.
Chỉ tiêu thống kê có hai mặt: Khái niệm và mức độ.
- Khái niệm có nội dung là định nghĩa và giới hạn về thuộc tính, số lượng,
thời gian của hiện tượng.
- Mức độ có thể biểu hiện bằng các thang đo khác nhau, phản ánh quy mô
hoặc cường độ của hiện tượng.
Căn cứ vào nội dung, có thể chia các chỉ tiêu thống kê thành hai loại: Chỉ
tiêu chất lượng và chỉ tiêu khối lượng:
- Chỉ tiêu chất lượng biểu hiện các tính chất, trình độ phổ biến, mối quan
hệ của tổng thể. Có một số chỉ tiêu chất lượng không thể biểu hiện được bằng
con số một cách trực tiếp (chỉ dừng lại ở các khái niệm và phải biểu hiện một

hiện tượng phức tạp. Vì vậy việc nghiên cứu phải có quá trình chặt chẽ và khoa
học, các chỉ tiêu phải được áp dụng một cách khoa học và hiệu quả. Điều đó có
nghĩa là chỉ tiêu được lựa chọn phải mô tả được sự kiện hiện tượng khác nhau
trong quá trình hoạt động kinh tế xã hội, từ mặt lượng sang mặt chất với nhiều
góc độ khác nhau. Để từ đó đưa ra những nhận xét và kết luận cần thiết cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đảm bảo tính hệ thống: tức là các chỉ tiêu phải có mối liên hệ hữu cơ
với nhau. Định rõ chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu thứ yếu và chỉ
tiêu chủ yếu. Các chỉ tiêu và mục tiêu phải phù hợp với nhau, phù hợp với các
chỉ tiêu được tính toán với các tổ chức quốc tế và các nước khác trên thế giới về
nội dùng, phạm vi và phương pháp tính nhờ đó đảm bảo việc so sánh được.
- Đảm bảo tính khả thi: tức là phù hợp với khả năng, điều kiện về nhân tài
vật lực.
- Đảm bảo tính hiệu quả: thông tin được coi là hàng hoá, quá trình tạo ra
thông tin coi như sản xuất. Thông tin được coi như đầu vào của quá trình sản
xuất. Vì vậy nội dung thông tin phải phù hợp với mục đích nghiên cứu, với nhu
cầu thông tin cho quản lý vĩ mô và quản trị kinh doanh. Không dựa vào những
thông tin thừa không chính xác.
- Đảm bảo tính thích nghi: thông tin thu được phải phù hợp với cuộc điều
tra, phù hợp với nội dung điều tra. Không sử dụng các thông tin không có thực
hoặc những thông tin không phù hợp trong quá trình điều tra tìm hiểu.
3. Hệ thống chỉ tiêu thống kê hiện hành (hiện có) về tình hình hoạt
động tài chính tại Công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng HN.
Công ty cố phần lắp máy điện nước và xây dựng có tổng số vốn của nhà
nước chiếm trên 50%, là doanh nghiệp của nhà nước, vì vậy hệ thống chỉ tiêu
thống kê hiện hành của doanh nghiệp nhằm đáp ứng cho yêu cầu của chế độ báo
cáo doanh nghiệp nhà nước do Bộ trưởng bộ kế hoạch - đầu tư ra quyết định số
62/2003/BKH.
Bên cạnh đó chế độ báo cáo quý, năm của doanh nghiệp theo Quyết định
của Bộ tài chính cũng được doanh nghiệp triển khai thực hiện.

3.1.1. Quy mô vốn cố định.
Vốn cố định là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, là hình thái tiền
tệ của giá trị các tài sản cố định trong doanh nghiệp được tính theo giá còn lại.
Quy mô vốn cố định là chỉ tiêu tuyệt đối, thời điểm và được tính theo đơn
vị giá trị. Để biểu hiện quy mô vốn cố định trong một thời kỳ nhất định nhằm
tính toán và phân tích một số chỉ tiêu kinh tế ta cần tính vốn cố định bình quân:
Bằng công thức:

Vc =

Vcdk +Vcck
(1)
2

Vc : Vốn cố định bình quân trong kỳ

Vcdk: Vốn cố định đầu kỳ
Vcck: Vốn cố định cuối kỳ
9


Trong đó: Vcdk (hay Vcck) = ∑ P i.Si
Với Pi : Đơn giá tài sản cố định bình quân i (i = 1,n)
Si : Số lượng tài sản cố định hiện có đầu kỳ hay cuối kỳ.
* Phân biệt vốn cố định và tài sản cố định
+ Xét vốn cố định là xét về mặt giá trị, xét về mặt tài chính, còn xét về tài
sản cố định là xét về mặt hiện vật, vật chất.
+ Giá trị tài sản cố định có thể tính theo nhiều loại giá khác nhau, vốn cố
định chỉ xét theo giá còn lại, không tính phần đã khấu hao là bộ phận của vốn
khấu hao.

1


1)

V ln
+
2

Trong đó:
Vl : vốn lưu động bình quân kỳ nghiên cứu.

VL1, VL2... VLn: vốn lưu động có ở tháng 1,2… tháng n trong kỳ
nghiên cứu.
10


3.2. Chỉ tiêu về cấu thành và kết cấu vốn
3.2.1. Chỉ tiêu về cấu thành vốn kinh doanh.
+ Cấu thành vốn sản xuất kinh doanh theo đặc điểm chu chuyển vốn bao
gồm:
* Vốn cố định.
* Vốn lưu động.
+ Cấu thành vốn sản xuất kinh doanh theo nguồn vốn bao gồm:
* Nguồn vốn do chủ kinh doanh đầu tư.
* Nguồn vốn tự bổ sung.
* Nguồn vốn liên doanh liên kết.
* Nguồn vốn tín dụng
3.2.2. Chỉ tiêu về cấu thành vốn cố định.
+ Cơ cấu vốn cố định theo nguồn gốc:



Mục đích của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là lợi nhuận. Muốn
vậy, các doanh nghiệp phải khai thác và sử dụng triệt để mọi nguồn lực sẵn có,
tức là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh
nghiệp. Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp cần có một hệ thống chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sản xuất doanh nghiệp.
3.4.1. Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh.
- Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
người ta sử dụng một số chỉ tiêu sau:
*Hiệu suất (hay hiệu năng) tổng vốn (Htv)
Q
Được nghiên cứu qua công thức:
Htv =
(4)
Vtv
Htv: Hiệu suất (hiệu năng)
Q : Kết quả sản xuất (kết quả tiêu thụ)
Vtv : Vốn sản xuất kinh doanh bình quân
Trong đó:
+ Kết quả sản xuất có thể là tổng giá trị sản xuất (GO), giá trị gia tăng
(VA), giá trị gia tăng thuần (NVA)
+ Kết quả tiêu thụ có thể là doanh thu bán hàng (G) và doanh thu thuần
(DT).
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn sản xuất kinh doanh tham
gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng kết
quả sản xuất (hay doanh thu tiêu thụ). Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh càng
lớn, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh càng tăng và ngược lại, hiệu suất sử dụng
vốn kinh doanh càng thấp, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh càng giảm.
* Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ:

việc tiêu thụ sản phẩm trong kỳ (từ hoạt động sản xuất kinh doanh) hoặc tính
theo lợi nhuận ròng.
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Mức doanh lợi vốn kinh doanh càng lớn thì hiệu quả sử dụng
vốn càng cao và ngược lại.
3.4.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu:
Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu được phản ánh qua cách tính và so sánh
các chỉ tiêu sau:
Hiệu năng vốn chủ sở hữu (HvSH)
Được nghiên cứu qua công thức: HvSH =

D
(7)
Vsh

HvSH: Hiệu năng vốn chủ sở hữu
D : Doanh thu
Vsh : Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu cho biết cứ 1 đơn vị tiền tệ vốn chủ sở hữu đầu tư vào tài sản trong
kỳ tạo ra được mấy đơn vị kết quả sản xuất (hay doanh thu)
Vòng quay vốn chủ sở hữu (LvSH)
Được nghiên cứu qua công thức: LvSH =

D
(8)
Vsh

LvSH: Vòng quay vốn chủ sở hữu
D: Doanh thu bán hàng (doanh thu thuần)
Vsh : Vốn chủ sở hữu bình quân


TvSH: Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
M: Lợi nhuận sau thuế
Vsh : Vốn chủ sở hữu bình quân
Ý nghĩa: cứ một đồng vốn chủ sở hữu đưa vào kinh doanh mang lại bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Mặt khác, doanh lợi vốn chủ sở hữu lớn hơn
doanh lợi tổng vốn điều đó chứng tỏ việc sử dụng vốn vay rất có hiệu quả.
3.4.3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu suất (hay hiệu năng) sử dụng vốn cố định (Hc)
Được nghiên cứu qua công thức: Hc =

D
(11)
Vcđ

Hc : Hiệu suất (hiệu năng) vốn cố định
D : Doanh thu trong kỳ
Vcđ : Vốn cố định bình quân
Hiệu suất sử dụng vốn cố định phản ánh một đồng vốn cố định trong kỳ tạo
ra bao nhiêu đồng kết quả sản xuất hay doanh thu tiêu thụ hàng hoá. Đối với
doanh nghiệp chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Mức doanh lợi vốn cố định (Rc)
Được nghiên cứu qua công thức: Rc =
Rc: Mức doanh lợi vốn cố định
M: Lợi nhuận thuần trong kỳ
Vcđ : Vốn cố định bình quân

14

M


H`Vl: Mức đảm nhiệm vốn lưu động
Vl : Vốn lưu động bình quân trong kỳ
D: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ảnh để tạo ra một đồng doanh thu tiêu thụ trong kỳ thì
phải cần bao nhiêu đồng vốn lưu động.
3.4.4.2. Các chỉ tiêu phản ánh tốc độ chu chuyển của vốn lưu động
Số vòng quay (số lần chu chuyển) của vốn lưu động (LVL)
Được nghiên cứu qua công thức: LVL =

D
(15)
Vl

LvL: Vòng quay vốn lưu động trong kỳ
D: Tổng doanh thu bán hàng (doanh thu thuần) trong kỳ .
Vl : Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đơn vị vốn lưu động bình quân bỏ vào
kinh doanh có thể mang lại bao nhiêu đơn vị doanh thu. Nó phản ánh tốc độ chu
chuyển vốn lưu động trong kinh doanh. Chỉ tiêu này tăng hay giảm biểu hiện
trình độ và hiệu quả sử dụng tăng hay giảm tương ứng theo tỷ lệ thuận.
Độ dài bình quân một vòng quay vốn lưu động
Được nghiên cứu qua công thức: d =
15

N
Lvl

(16)(ngày/vòng) hoặc (lần)


lợi ... Nhưng khi phân tích không thể gói gọn trong một vài chỉ tiêu độc lập mà
cần phải xem xét mối tương hỗ qua lại giữa các chỉ tiêu thì sẽ cho ra kết quả
chính xác, mới có những kiến nghị phù hợp.
III. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ VỀ
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN LẮP MÁY
ĐIỆN NƯỚC VÀ XÂY DỰNG HÀ NỘI

Như ta đã biết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính
cho doanh nghiệp. Hoạt động trong cơ chế thị trường với những rủi ro tiềm tàng
về tài chính là khá lớn, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn đề cao tính an toàn,
đặc biệt là an tòan tài chính. Đây là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Để nâng cao hiệu quả hiệu quả sử dụng vốn, một

16


trong các phương pháp hết sức quan trọng là doanh nghiệp phải thiết lập và
nghiên cứu các đặc trưng tài chính của đơn vị mình thông qua các chỉ tiêu đánh
giá hiệu quả sử dụng vốn.
Vì vậy, để hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê về tình hình họat động tài
chính của công ty cổ phần lắp máy điện nước, trước yêu cầu mở rộng sản xuất
và quản lý kinh tế sao cho có hiệu quả mang lại lợi nhuận cao nhất, với hệ thống
chỉ tiêu hiện có tại đơn vị có thể phân tích, nhận định được tình hình tài chính
của doanh nghiệp và đưa ra nhưng kiến nghị thiết thực nhất.
Như vậy hệ thống chỉ tiêu bao gồm:
- Chỉ tiêu qui mô vốn sản xuất
+ Qui mô vốn cố định
+ Qui mô vốn lưu động
- Chỉ tiêu cấu thành và kết cấu vốn
+ Chỉ tiêu cấu thành vốn kinh doanh

nghiệp ta có thể phân tích một cách đầy đủ về tình hình sản xuất kinh doanh
cũng như hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Hệ thống chỉ tiêu nói trên có thể khai thác một cách dễ dàng trong sổ sách
kế toán, các chế độ báo cáo thống kê và tài chính của doanh nghiệp.

18


CHƯƠNG II
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THỐNG KÊ TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LẮP MÁY ĐIỆN NƯỚC VÀ
XÂY DỰNG HÀ NỘI
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH THỐNG KÊ

1. Đặc điểm và yêu cầu của phân tích thống kê.
Cơ sở để phân tích thống kê là hệ thống số liệu thống kê được thu thập
thông qua quá trình xây dựng hệ thống chỉ tiêu của từng đơn vị tổng thể để tính
toán được các trị số của chi tiêu đó. Từ các đặc trưng riêng của tổng thể qua xử
lý số liệu ta chuyển thành các đặc trưng chung của tổng thể, chuẩn bị cho công
tác phân tích.
Căn cứ vào kết quả xử lý số liệu, kết hợp với mục đích nghiên cứu ta lựa
chọn xây dựng những mô hình phân tích phù hợp trên cơ sở áp dụng một cách
linh hoạt các phương pháp phân tích thống kê. Các mô hình phân tích phải nêu
rõ những vấn đề cần giải quyết trong phạm vi nhất định và phải phân tích trên cơ
sở phân tích lý luận lý luận kinh tế xã hội. Phải căn cứ vào toàn bộ sự kiện và
đặt chúng trong mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau.
Như vậy đặc điểm cơ bản của phân tích thống kê là lấy số liệu thống kê
làm tư liệu để phân tích, thông qua các công cụ là phương pháp thống kê.
2. Vấn đề cơ bản của phân tích thống kê
Phân tích thống kê là giai đoạn cuối cùng của quá trình nghiên cứu thống

II. CHỌN PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THỐNG KÊ TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LẮP MÁY ĐIỆN NƯỚC VÀ XÂY DỰNG
HÀ NỘI.

1. Nguyên tắc chọn phương pháp
- Đảm bảo tính hệ thống: tức là khi lựa chọn các phương pháp phải có
mối liên hệ hữu cơ với nhau. Phải xem xét kỹ lưỡng mối liên hệ của phương
pháp với đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu vì không phải bất kỳ một phwong
pháp nào cũng có thể phân tích được tất cả cá hiên tượng kinh tế và cũng không
phải chỉ sử dụng một phương pháp để phân tích. Để có thể kết hợp nhiều
phương pháp với nhau tạo thành một hệ thống các phương pháp tính đúng bản
chất và tìm ra được quy luật của hiện tượng. Ngoài ra khi lựa chọn các phương
pháp phải phù hợp với các phương pháp phân tích đã quy định trong nước và
các tổ chức quốc tế, các nước khác trên thế giới về nội dung, phạm vi và phương
pháp phân tích nhờ đó đảm bảo việc so sánh được.
- Đảm bảo tính hướng đích: đối tượng nghiên cứu của thống kê thường
là hiện tượng phức tạp. Vì vậy việc nghiên cứu phải có quá trình chặt chẽ và
khoa học, các phương pháp phải được áp dụng một cách khoa học và hiệu quả.
Điều đó có nghĩa là phương pháp đưa ra phải mô tả được sự kiện hiện tượng
khác nhau trong quá trình hoạt động kinh tế xã hội, từ mặt lượng sang mặt chất
với nhiều góc độ khác nhau. Để từ đó đưa ra những nhận xét và kết luận cần
thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

20


- Đảm bảo tính khả thi: tức là phương pháp được lựa phải phổ biến và
phù hợp với điều kiện nghiên cứu, đồng thời phải đáp ứng được yếu cầu trong
nghiên cứu
- Đảm bảo tính hiệu quả: mỗi phương pháp phân tích nghiên cứu được

động của giá cả đối với vật tư hàng hoá, TSCĐ (thường dùng chỉ số cá thể và chỉ
số tổng hợp).
21


3. Chọn phương pháp phân tích thống kê tình hình hoạt động tài chính
tại Công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng Hà Nội.
Phân tích tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp, giúp cho doanh
nghiệp đưa ra những quyết định chính xác hơn trong quá trình sử dụng vốn,
nhằm mang lại hiệu quả cao. Vì vậy ta phải xem xét, đánh giá hiệu suất sử dụng
vốn cũng như mức doanh lợi của việc sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Từ đó phân tích, đánh giá ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng vốn bộ phận
đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh chung, phát hiện ra tính qui luật, đề ra các
biện pháp khai thác khả năng tiềm tàng, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp.
Với nhiệm vụ nêu trên, các phương pháp phân tích thống kê cần dùng là:
- Phương pháp phân tổ
- Phương pháp bảng kê
- Phương pháp dãy số biến động theo thời gian
- Phương pháp chỉ số
- Phương pháp đồ thị thống kê
Xét về đặc điểm cơ bản của các chỉ tiêu phân tích tình hình tài chính đó là
chỉ tiêu giá trị có quan hệ mật thiết với nhau, có thể phân thành các tổ tiểu tổ và
so sánh theo thời gian của từng chỉ tiêu. Vì vậy các phương pháp phân tích nêu
trên là có thể vận dụng được.
4. Đặc điểm vận dụng của các phương pháp
- Phân tổ thống kê là phương pháp cơ bản của tổng hợp thống kê, là một
trong những phương pháp quan trọng của phân tích thống kê. Phương pháp nay
dễ ứng dụng trong thực tế có thể phân tổ theo một tiêu thức họăc nhiều tiêu thức.
Với đặc điểm của chỉ tiêu tài chính mà cụ thể là các chỉ tiêu về vốn ta có thể

tổ) có tính chất khác nhau.
Tiêu thức phân tổ là tiêu thức thống kê được lựa chọn làm căn cứ để tiến
hành phân tổ thống kê và việc lựa chọn này phải được giải quyết chính xác phù
hợp với mục đích nghiên cứu và điều kiện lịch sử cụ thể.
b/ Ý nghĩa: Phân tổ thống kê là phương pháp được dùng rất phổ biến trong
tất cả các giai đoạn nghiên cứu thống kê. Trong điều tra thống kê dùng trong
điều tra chọn mẫu, trong tổng hợp thống kê thì phân tổ là phương pháp cơ bản
để tổng hợp thống kê, trong phân tích thống kê phân tổ là cơ sở để vận dụng các
phương pháp thống kê khác.
c/ Nhiệm vụ:
- Phân chia các loại hình kinh tế xã hội của hiện tượng nghiên cứu.
- Biểu hiện kết cấu của hiện tượng nghiên cứu: Xác định chính xác các bộ
phận có tính chất khác nhau trong tổng thể, sau đó tính toán tỷ trọng của từng bộ
phận.
- Biểu hiện mối liên hệ giữa các tiêu thức.
5.1.2 Các loại phân tổ thống kê
a/ Phân tổ theo một tiêu thức (phân tổ giản đơn)
- Khái niệm: Phân tổ theo một tiêu thức là xây dựng tần số phân tổ của một
tập hợp theo một tiêu thức. Đây là cách phân tổ giản đơn nhất và cũng là cách
thường được sử dụng nhất.
23


- Xác định số tổ và các khoảng cách tổ: Tuỳ thuộc vào phân tổ theo tiêu
thức số lượng hay tiêu thức thuộc tính:
+ Khi phân tổ và khoảng cách tổ: các tổ được hình thành thường do các
loại hình khác nhau, song không nhất thiết mỗi loại hình hình thành nên một tổ.
+ Khi phân tổ theo tiêu thức số lượng: tuỳ vào lượng biến nhiều hay ít mà
giải quyết khác nhau:
Trường hợp số lượng các lượng biến ít thì mỗi lượng biến có thể hình thành



tỷ số của nó giống nhau thì sẽ có vai trò như nhau trong việc biểu hiện tính chất
của hiện tượng.
5.2. Phương pháp bảng thống kê
a/ Khái niệm: bảng thống kê là hình thức biểu hiện các hình thức tài liệu
thống kê một cách hợp lý, có hệ thống rõ ràng nhằm nêu nên các biểu hiện về
lượng của các hiện tượng nghiên cứu.
b/ Cấu thành của bảng thống kê:
- Theo hình thức gồm 3 bộ phận:
+ Các hàng ngang và cột dọc: phản ánh quy mô của bảng.
+ Tiêu đề: phản ánh nội dung của bảng, gồm hai loại là tiêu đề chung
phản ánh tên bảng, tiêu đề nhỏ là các tiêu đề hình thành trong các đầu bảng đầu
mục.
+ Các tài liệu và con số: phản ánh các đặc trưng về lượng của hiện tượng
nghiên cứu.
- Theo nội dung gồm 2 bộ phận:
+ Chủ đề (chủ từ): giải thích đối tượng nghiên cứu gồm những đơn vị
loại hình nào.
+ Giải thích (tân từ): gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của đối
tượng.
c/ Các loại bảng: gồm 3 loại
- Bảng giản đơn: phân chủ đề không phân tổ chỉ liệt kê các đơn vị.
- Bảng phân tổ: đối tượng nghiên cứu ở phần chủ thể được phân chia thành
các tổ.
- Bảng kết hợp: đối tượng nghiên cứu ở phần chủ thể được phân tổ từ 2 tiêu
thức trở lên.
d/ Yêu cầu của bảng thống kê
- Quy mô bảng không nên quá lớn
- Các chỉ tiêu đề, tiêu mục cần chính xác, gọn, dễ hiểu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status