MỤC LỤC
1
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Diễn giải
NSNN
Ngân sách nhà nước
TX
Thị xã
KBNN
Kho bạc nhà nước
SNCL
Sự nghiệp công lập
TT-BTC
Thông tư – Bộ tài chính
Tổ chức bộ máy của trung tâm
Trang
37
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ
Nội dung
Trang
2.1
Thực trạng các khoản chi
50
2.2
Cơ cấu chi năm 2012
51
2.3
Cơ cấu chi 2013
52
54
3
44
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước là khâu tài chính tập trung giữ vị trí chủ đạo trong hệ
thống tài chính, là nguồn lực vật chất để nhà nước duy trì hoạt động của bộ máy
quản lý và thực thi các nhiệm vụ phát triển Kinh tế - xã hội của đất nước. Cùng
với sự phát triển đó, chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm từng bước
đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp.
Trong những năm qua, công tác quản lý , điều hành chi thường xuyên
ngân sách nhà nước đã có những đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội. Hoạt động quản lý chi ngân sách đã góp phần giải phóng
sức sản xuất của mọi thành phần kinh tế, phát huy được thế mạnh của các địa
phương, các đơn vị công lập, tạo đà cho sản xuất phát triển, giải quyết công ăn
việc làm, đảm bảo công bằng an ninh xã hội và giữ gìn an ninh chính tri.
Trung tâm bồi dưỡng chính trị Thị xã Sầm Sơn là một đơn vị hành chính
sự nghiệp, kinh phí hoạt động chủ yếu là từ ngân sách nhà nước. Trong những
năm qua, cùng với quá trình đổi mới kinh tế, công tác quản lý ngân sách của
trung tâm đã có nhiều đổi mới và đạt được tiến bộ đáng kể. Đặc biệt về công tác
quản lý chi thường xuyên tại trung tâm bồi dưỡng chính trị Thị xã Sầm Sơn
không ngừng được đổi mới, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của công cuộc
đổi mới hiện nay.Tuy nhiên, công tác quản lý chi thường xuyên vẫn còn một số
hạn chế như phân bổ vốn đầu tư còn dàn trải, không gắn với kế hoạch vốn, công
tác quản lý tạm ứng vốn thanh toán còn lỏng lẻo, tạm ứng vốn cho nhà thầu tỷ lệ
lớn, kéo dài nhiều năm nhưng chưa thu hồi dứt điểm cho ngân sách nhà nước,
ánh tổng quát đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh: trên cơ sở số liệu đã tổng hợp được, tiến hành so
sánh số liệu giữa các năm về so sánh tuyệt đối và tương đối.
5
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài mở đầu và kết luận, phần nội dung của khóa luận được kết cấu thành
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý chi thường xuyên ngân sách
nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập
Chương 2: Thực trạng quản lý chi thường xuyên tại trung tâm bồi dưỡng
chính trị thị xã Sầm Sơn
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên tại trung tâm
bồi dưỡng chính trị thị xã Sầm Sơn
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1 Tổng quan về chi thường xuyên ngân sách nhà nước trong đơn vị sự
nghiệp công lập
1.1.1 Chi thường xuyên ngân sách nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Chi thường xuyên NSNN là các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường
xuyên của Nhà nước với các nội dung chủ yếu: chi tiền công, tiền lương, chi
mua sắm hàng hóa, dịch vụ, chi chuyển giao thường xuyên.
sách chế độ về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam,
các tổ chức chính trị - xã hội và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của
huyện/quận, khi phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách huyện/quận, HĐND cấp
tỉnh /thành phố trực thuộc Trung ương xem xét giao cho ngân sách huyện/quận
thực hiện các nhiệm vụ chi thường xuyên.
Căn cứ vào định mức, chế độ, tiêu chuẩn của Nhà nước, HĐND cấp
tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương quy định cụ thể mức chi thường xuyên
cho từng công việc phù hợp với tình hình đặc điểm và khả năng ngân sách địa
phương.Nội dung chi thường xuyên NSNN được phân biệt theo lĩnh vực chi, đối
tượng chi và tính chất chỉ tiêu. Cụ thể như sau:
Theo lĩnh vực chi trả, chi thường xuyên NSNN bao gồm 12 nội dung chi
theo luật định, cụ thể như sau:
- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin văn
học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội
khác.
- các hoạt động sự nghiệp kinh tế
- Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
- Hoạt động của các cơ quan Nhà nước
- Hoạt động của Đảng cộng sản việt nam
8
- Hoạt động của ủy ban mặt trận tổ quốc việt nam, liên đoàn lao động việt nam,
đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hội cựu chiến binh việt nam, hội liên
hiệp phụ nữ việt nam, hội nông dân việt nam
- Trợ giá theo chính sách của Nhà nước
- Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội
- Phần chi thường xuyên thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà
nước
- Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội
việc, sửa chữa lớn tài sản cố định và các khoản khác.
- Chi khác: là các khoản chi ngoài các khoản chi nêu trên chẳng hạn như chi
hoàn thuế giá trị gia tăng, chi xử lý tài sản được xác lập sở hữu nhà nước và các
khoản khác.
1.1.1.4 Vai trò của chi thường xuyên NSNN
Chi thường xuyên NSNN có vai trò rất quan trọng. Vai trò đó được thể
hiện trên các mặt cụ thể như sau:
- Chi thường xuyên có tác động trực tiếp đến việc thực hiện các chức năng của
Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội, là một trong những nhân tố có ý nghĩa
quyết định đến chất lượng, hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước.
- Chi thường xuyên là công cụ để Nhà nước thực hiện mục tiêu ổn định và điều
chỉnh thu nhập, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, thực hiện các chính
sách xã hội…góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội.
- Thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện điều tiết, điều chỉnh thị
trường để thực hiện các mục tiêu của Nhà nước. Nói cách khác, chi thường
xuyên được xem là một trong những công cụ kích thích phát triển và điều tiết vĩ
mô nên kinh tế.
- Chi thường xuyên là công cụ ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng an ninh.
Thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện các chính sách xã hội, đảm
bảo ổn định, an toàn xã hội và an ninh quóc phòng.
10
1.1.1.5 Nguyên tắc chi thường xuyên NSNN
Vì chi thường xuyên, là khoản chi vô cùng quan trọng và có ý nghĩa đối
với nhà nước, nên nó phải nhất định tuân theo những nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Nguyên tắc quản lý theo dự toán: Dự toán là khâu mở đầu của
một chu trình NSNN. Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào
dự toán chi và đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt được coi là chi
tiêu pháp lệnh. Xét trên góc độ quản lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong
khoản chi mang tính chất phúc lợi xã hội
Thứ sáu: Nguyên tắc phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của
các cấp theo luật pháp để bố trí các khoản chi cho thích hợp: Quán triệt nguyên
tắc này tránh việc bố trí các khoản chi chồng chéo, khó kiểm tra giám sát, đồng
thời nâng cao trách nhiệm và tính chủ động với các cấp.
1.1.1.6 Điều kiện thực hiện chi thường xuyên NSNN
Khác với nhiều loại chi tiêu khác, chi thường xuyên từ NSNN phải tuân
thủ những quy định pháp luật rất chặt chẽ. Cụ thể như sau:
Một là, các khoản chi đã có trong dự toán NSNN được giao, trừ các
trường hợp sau:
- Trong trường hợp vào đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và phương án
phân bổ ngân sách chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, cơ
quan tài chính và KBNN tạm cấp kinh phí cho các nhiệm vụ chi sau: chi lương
và các khoản có tính chất tiền lương; chi nghiệp vụ phí và công vụ phí; một số
khoản chi cần thiết khác để đảm bảo hoạt động của bộ máy, trừ các khoản mua
sắm trang thiết bị, sữa chữa; chi cho dự án chuyển tiếp thuộc các chương trình
quốc gia.
- Chi từ nguồn tăng thu so với dự toán được giao và từ nguồn dự phòng ngân
sách theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Hai là, bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền
quyết định.
Ba là, đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc người được ủy
quyền quyết định chi.
12
Bốn là, trường hợp sử dụng vốn, kinh phí NSNN để mua sắm trang thiết
bị, phương tiện làm việc và các công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm
định giá thì còn phải tổ chức đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của
pháp luật.
tổ chức duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản
phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước
trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng
khi can thiệp vào thị trường. Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh
tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn
nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao
hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe văn hóa, tinh thần
của nhân dân.
Sản phẩm của các đơn vị SNCL là sản phẩm mang lại lợi ích chung có
tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị
tinh thần. Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá
trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội…
Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho
nhiều đối tượng trên phạm vi rộng, đại bộ phận các sản phẩm của đơn vị SNCL
là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh
vực mà sản những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan tỏa, truyền
tiếp.
Mặt khác sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp chủ yếu tạo ra các hàng
hóa công cộng ở dạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp
quá trình tái sản xuất xã hội. Việc sử dụng những hàng hóa công cộng do hoạt
động sự nghiệp tạo ra làm cho quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi
và ngày càng đạt hiệu quả cao. Hoạt động sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, thể
dục thể thao đem lại tri thức và đảm bảo sức khỏe cho lực lượng lao động, tạo
điều kiện cho lao động có chất lượng ngày càng tốt hơn. Hoạt động sự nghiệp
khoa học, văn hóa thông tin mang lại hiểu biết cho con người về tự nhiên, xã hội
14
tạo ra những công việc mới phục vụ sản xuất và đời sống… Vì vậy hoạt động sự
tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt
động) là những đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường
xuyên từ 10% trở xuống và những đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu.
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp như trên được ổn định trong thời gian 3
năm, sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp. Trong thời gian
ổn định phân loại, trường hợp đơn vị sự nghiệp có thay đổi chức năng, nhiệm
vụ, tổ chức thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét điều chỉnh phân loại
cho phù hợp.
Cách xác định để phân loại đơn vị SNCL:
Mức tự bảo đảm chi phí
hoạt động thường xuyên
của đơn vị %
Tổng số nguồn thu sự nghiệp
=
x 100%
Tổng số chi hoạt động thường xuyên
Nếu phân loại căn cứ vào lĩnh vực hoạt động thì đơn vị SNCL bao gồm:
- Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo. Riêng trong lĩnh vực này,
các đơn vị SNCL nhận các loại hình:
+ Cơ sở giáo dục mầm non.
+ các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
+ các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường
xuyên…
+ Các trường đại học, cao đẳng, học viện.
- Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực y tế.
- Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực văn hóa thông tin.
- Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực thể dục thể thao.
Đối với đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động: Đơn vị
chủ động sử dụng các nguồn tài chính giao tự chủ để chi thường xuyên. Một số
nội dung chi được quy định như sau:
- Chi tiền lương: Đơn vị chi trả tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ và các
khoản phụ cấp do nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công. Khi nhà
17
nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các
nguồn theo quy định; trường hợp còn thiếu, ngân sách nhà nước cấp bổ sung.
- Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và
khả năng nguồn tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên
môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quy định.
Đối với đơn vị sự nghiệp do nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động:
Đơn vị được sử dụng nguồn tài chính giao tự chủ để chi thường xuyên. Một số
nội dung chi được quy định như sau:
- Chi tiền lương; Đơn vị chi trả tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ và các
khoản phụ cấp do nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công. Khi nhà
nước điều chỉnh lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các nguồn
theo quy định, bao gồm cả nguồn ngân sách nhà nước cấp bổ sung.
- Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý: Đơn vị được quyết định mức chi
nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy
định.
1.1.2.6 Nguyên tắc tổ chức chi thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp công lập
Cũng giống như chi thường xuyên ngân sách nhà nước, chi thường xuyên
trong đơn vị sự nghiệp cũng phải tuân thủ một số nguyên tắc sau: .
Thứ nhất: Nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả: tiết kiệm, hiệu quả là một trong
những nguyên tắc quan trọng hành đầu của quản lý kinh tế, tài chính, bởi lẽ
nguồn lực thì luôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì không có giới hạn. do vậy,
Là chủ thể quản lý, Nhà nước có thể sử dụng tổng thể các phương pháp,
các hình thức và công cụ để quản lý hoạt động tài chính của các đơn vị sự
nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
trong những thời kỳ nhất định.
Căn cứ vào thông tư số 103/1998/TT-BTC của Bộ tài chính về hướng dẫn
việc phân cấp, lập, chấp hành và quyết toán NSNN thì nội dung quản lý sử dụng
kinh phí tại đơn vị sự nghiệp có thu gồm 3 khâu:
- Lập dự toán chi thường xuyên
19
- Chấp hành dự toán chi thường xuyên
- Quyết toán chi thường xuyên
1.2.1 Quản lý ở khâu lập dự toán chi thường xuyên
Lập dự toán chi thường xuyên của đơn vị là thông qua các nghiệp vụ tài
chính để cụ thể hóa định hướng phát triển, kế hoạch hoạt động ngắn hạn của đơn
vị, trên cơ sở đảm bảo thực hiện hoạt động thường xuyên của đơn vị, đồng thời
từng bước củng cố và nâng cấp cơ sở vật chất, tập trung đầu tư đúng mục tiêu ưu
tiên, nhằm đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa lãng phí và tiêu cực trong sử dụng
nguồn kinh phí của đơn vị.
1.2.1.1 Căn cứ thực hiện
Dự toán chi thường xuyên cho năm kế hoạch là một bộ phận rất quan trọng
trong chu trình quản lý sử dụng kinh phí ở đơn vị và khi lập dự toán chi phải dựa
trên những căn cứ sau:
Nhiệm vụ phát triển ở các đơn vị sự nghiệp cụ thể của năm kế hoạch và
những chỉ tiêu phản ánh nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động của đơn vị. Căn cứ này
giúp cho công tác xây dựng kế hoạch chi có một cách nhìn tổng quát về những
mục tiêu nhiệm vụ phải thực hiện trong năm kế hoạch.
Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN cho các đơn vị do các cấp có thẩm
quyền quy định. Đây là căn cứ theo quy định của luật Ngân sách. Lập dự toán
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các đơn vị hành chính sự
nghiệp. Một vấn đề đặt ra là các đơn vị hành chính sự nghiệp cần chủ động lập
dự toán chính xác để sử dụng nguồn lực hiệu quả và tiết kiệm nhất. Việc tìm ra
và phân tích ưu, nhược điểm của các phương pháp lập dự toán, từ đó chọn ra
được phương pháp phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị là rất cần thiết.
Có ba phương pháp lập dự toán thường được sử dụng là phương pháp lập
dự toán trên cơ sở quá khứ, phương pháp lập dự toán theo chương trình và
phương pháp lập dự toán cấp không. Mỗi phương pháp lập dự toán trên có
những đặc điểm riêng cùng những ưu, nhược điểm và điều kiện vận dụng khác
nhau.
21
Phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ (phương pháp truyền thống):
là phương pháp xác định các chỉ tiêu trong dự toán dựa vào kết quả hoạt động
thực tế của kỳ liền trước và điều chỉnh theo tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát
dự kiến. Như vậy phương pháp này rất rõ ràng, dễ hiểu và dễ sử dụng, được xây
dựng tương đối ổn định, tạo điều kiện, cơ sở bền vững cho nhà quản lý trong
đơn vị trong việc điều hành mọi hoạt động. Tuy nhiên, để lập kinh phí gia tăng,
hàng năm ban lãnh đạo chỉ việc duyệt kinh phí cho từng bộ phận dựa trên cơ sở
kinh phí đã phân bổ ở năm trước và có thêm % do lạm pháp và hoạt động phát
sinh trong năm tới. Phương pháp này chú trọng đến việc phân bổ ngân sách cho
đơn vị trong một tổ chức hơn là cho các hoạt động được thực hiện trong đơn vị.
Hậu quả là, có những lãng phí tồn tại suốt một thời gian dài mà không bị
phát hiện hoặc phát hiện được nhưng không biết rõ được bộ phận nào gây ra
sự lãng phí.
Phương pháp lập dự toán theo chương trình: là phương pháp phân bổ kinh
phí cho các hoạt động cần thiết của một chương trình cụ thể nhằm đạt được mục
tiêu đã đặt ra. Phương pháp này phân bổ cho các hoạt động cụ thể (khác với
Một trong những giải pháp được đông đảo giới quản lý tán thành là sử
dụng phương pháp lập dự toán cấp không cho năm nay, sau đó, chuyển sang
phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ và phương pháp lập dự toán theo
chương trình cho 2-3 năm tới. Nếu thực hiện theo cách này nhà quản lý có thể
đồng thời sử dụng nguồn lực hiệu quả nhưng vẫn không tốn quá nhiều thời gian
cho việc lập dự toán. Đây là một hướng đi mới nên được khai thác trong quá
trình lập dự toán nhất là đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp vốn ổn định và
có ít biến động nhưng rất cần sự hiệu quả trong phân phối và sử dụng các nguồn
lực.
1.2.1.3. Vai trò của lập dự toán chi thường xuyên
Đây là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách, nó đặt cơ sở nền tảng cho
các khâu tiếp theo. Vì vậy, nếu khâu lập ngân sách được thực hiện chính xác có
cơ sở khoa học, hợp thời gian,…sẽ tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho khâu tiếp
theo đặc biệt là khâu chấp hành dự toán chi cho hoạt động sự nghiệp.
23
Qua việc lập kế hoạch chi được thẩm tra, tính toán một cách chặt chẽ, kỹ
lưỡng về khả năng và nhu cầu về tài chính cho đơn vị, sẽ phát huy được ưu thế,
thuận lợi, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những khó khăn, trở ngại khi sử
dụng nguồn kinh phí của đơn vị, trong điều kiện thực tế.
Với trình tự tiến hành như trên thì nó vừa đảm bảo tính khoa học, vừa đảm
bảo tính thực tiễn, đồng thời nó thể hiện rõ sự tôn trọng nguyên tắc thống nhất,
tập trung dân chủ trong quản lý sử dụng kinh phí, giúp quá trình quản lý chi của
đơn vị được tốt hơn, hiệu quả hơn, tránh được sự lúng túng cũng như các hành
vi tiêu cực trong quá trình sử dụng nguồn kinh phí của đơn vị.
1.2.2 Quản lý ở khâu chấp hành dự toán chi thường xuyên
Thực hiện dự toán là khâu quan trọng trong quá trình quản lý tài chính của
đơn vị sự nghiệp. Đây là quá trình sư dụng tổng hòa các biện pháp kinh tế tài
bỏ những định mức lạc hậu, đảm bảo cho hệ thống định mức, tiêu chuẩn có tính
khoa học, tính thực tiễn cao.
Đảm bảo việc sử dụng kinh phí theo kế hoạch đã được duyệt. Để làm được
điều này thì khâu lập dự toán chi cần phải cụ thể, chi tiết tới từng bộ phận, lường
trước những phát sinh có thể xảy ra để xác định mức chi cho đúng, đây là việc
làm không hề đơn giản.
Ngoài ra, do sự hạn hẹp của nguồn kinh phí và những hạn chế về khả năng
dự toán nên giữa thực tế diễn ra trong quá trình chấp hành và dự toán có thể có
những khoản cách nhất định, đòi hỏi phải có sự linh hoạt trong quản lý. Nguyên
tắc chung là chi theo dự toán nhưng nếu không có dự toán mà cần chi thì có
quyết định kịp thời, đồng thời có thứ tự ưu tiên việc gì trước, việc gì sau.
Triệt để việc thực hiện thanh toán trực tiếp qua KBNN. Mọi khoản kinh phí
chi trả từ NSNN của các đơn vị phải do KBNN trực tiếp thanh toán. Có như vậy
mới quản lý tốt được nguồn vốn của đơn vị.
Trong quá trình sử dụng kinh phí, KBNN phối hợp với các đơn vị liên quan
để tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành chế độ chính sách chi tiêu tại đơn
vị, giúp cho quá trình quản lý sử dụng kinh phí tại các đơn vị đạt hiệu quả cao.
1.2.3 Quản lý ở khâu quyết toán chi thường xuyên
Sau khâu chấp hành sử dụng kinh phí, cuối năm tại đơn vị phải có báo cáo
tổng kết trình lên cơ quan cấp trên. Đây là khâu cuối cùng trong một chu trình
25