Phần 1
VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
Đầu tư xây dựng cơ bản (ĐTXDCB) là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các
công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất
tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội.
ĐTXDCB là một hoạt động kinh tế.
ĐTXDCB của nhà nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong những năm qua nhà nước
đã giành hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm cho ĐTXDCB. ĐTXDCB của nhà nước
chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động ĐTXDCB của
nền kinh tế ở Việt Nam. ĐTXDCB của nhà nước đã tạo ra nhiều công trình, nhà
máy, đường giao thông, … quan trọng, đưa lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội thiết
thực. Tuy nhiên, nhìn chung hiệu quả ĐTXDCB của nhà nước ở nước ta còn thấp
thể hiện trên nhiều khía cạnh như: đầu tư sai, đầu tư khép kín, đầu tư dàn trải, thất
thoát, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng ...
Đầu tư cơ bản là hoạt động đầu tư để tạo ra các TSCĐ. Trong hoạt động đầu
tư, các nhà đầu tư phải quan tâm đến các yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động, đối
tượng lao động. Khác với đối tượng lao động ( nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang,
bán thành phẩm ....) các tư liệu lao động ( như máy móc thiết bị, nhà xưởng,
phương tiên vận tải,...) là những phương tiện vật chất mà con ngươì sử dụng để tác
động vào đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình. Bộ phận quan
trọng nhất trong các tư liệu lao động là các TSCĐ. Đó là các tư liệu lao động chủ
yếu được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản xuất kinh
doanh như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, các công trình kiến
trúc, TSCĐ vô hình....Thông thường một tư liệu lao động được coi là một TSCĐ
phải đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn cơ bản: Phải có thời gian sử dụng tối thiểu
và phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định. Tiêu chuẩn này được quy định
riêng đối với từng nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với giá cả của từng
Thứ ba là nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn này bao gồm đầu tư
gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp của nước ngoài tại Việt Nam là
nguồn vốn do nước ngoài cung cấp thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu của
Việt Nam, nhưng không tham gia công việc quản lý trực tiếp. Vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (Foreign Direct Inverstment – FDI) ở Việt Nam là nguồn vốn nước
ngoài trực tiếp đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức tự đầu tư 100% vốn hoặc liên
doanh. Ngoài ra còn có nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức phi
chính phủ (Non- Government Organization – NGO).
ĐTXDCB của nhà nước là hoạt động đầu tư của nhà nước, bao gồm các dự
án ĐTXDCB được hoạch định trong kế hoạch nhà nước và được cấp phát bằng
nguồn vốn ngân sách của nhà nước, đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát
triển của nhà nước, nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước có nguồn gốc từ ngân
sách nhà nước.
Phần 2
ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
CỦA NHÀ NƯỚC
1. Đặc điểm của sản phẩm và quá trình xây dựng cơ bản
Sản phẩm của ĐTXDCB là những công trình xây dựng như nhà máy, công
trình công cộng, nhà ở, cầu cống, sân bay, cảng biển,... thường là gắn liền với đất
đai. Vì thế, nên trước khi đầu tư các công trình phải được quy hoạch cụ thể, khi thi
công xây lắp thường gặp phải khó khăn trong đền bù giải toả giải phóng mặt bằng,
khi đã hoàn thành công trình thì sản phẩm đầu tư khó di chuyển đi nơi khác.
Sản phẩm của ĐTXDCB là những TSCĐ, có chức năng tạo ra các sản phẩm
và dịch vụ khác cho xã hội, thường có vốn đầu tư lớn, do nhiều người, thậm chí do
nhiều cơ quan đơn vị khác nhau cùng tạo ra.
Sản phẩm ĐTXDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp, sản xuất không theo
một dây chuyền sản xuất hàng loạt, mà có tính cá biệt. Mỗi công trình đều có điểm
khác. Nơi làm việc, lực lượng lao động, điều kiện làm việc không ổn định. Do vậy
nếu bố trí thiếu hợp lý có thể dẫn đến tình trạng ngừng việc, chờ đợi, năng suất lao
động thấp, tâm lý tạm bợ, tùy tiện trong làm việc và sinh hoạt của cán bộ công
nhân ở công trường.
Quá trình XDCB bị tác động nhiều bởi yếu tố tự nhiên. Nhiều yếu tố tự
nhiên có thể ảnh hưởng mà không lường trước được như tình hình địa chất thuỷ
văn, ảnh hưởng của khí hậu thời tiết, mưa bão, động đất, ...
Trong ĐTXDCB, chu kỳ sản xuất thường dài và chi phí sản xuất thường lớn.
Vì vậy nhà thầu dễ gặp phải rủi ro khi bỏ vốn không thích hợp. Chọn trình tự bỏ
vốn thích hợp để giảm mức tối đa thiệt hại do ứ đọng vốn ở công trình xây dựng dở
dang là một thách thức lớn đối với các nhà thầu.
Một dự án ĐTXDCB thường do nhiều đơn vị cùng tham gia thực hiện. Để
thực hiện một dự án ĐTXDCB thường có nhiều hạng mục, nhiều giai đoạn. Trên
một công trường xây dựng có thể có nhiều đơn vị tham gia, các đơn vị này cùng
hoạt động trên một không gian, thời gian, trong tổ chức thi công cần có sự phối
hợp chặt chẽ với nhau.
2. Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước
Trong ĐTXDCB của nhà nước, vốn là vốn của nhà nước mà không phải là
của tư nhân, do vậy rất khó quản lý sử dụng, dễ xảy ra thất thoát, lãng phí, tham
nhũng. Ở đây quyền sở hữu về vốn không trùng hợp với quyền sử dụng và quản lý
vì thế trách nhiệm quản lý vốn không cao. Động lực cá nhân đối với việc sử dụng
hiệu quả đồng vốn không rõ ràng, mạnh mẽ như nguồn vốn tư nhân. Vì vậy việc
quản lý hiệu quả vốn trong ĐTXDCB của nhà nước rất khó khăn, phức tạp.
Về lĩnh vực đầu tư, ĐTXDCB của nhà nước thường nhằm vào lĩnh vực ít
được thương mại hoá, không thu hồi vốn ngay, ít có tính cạnh tranh.
Về mục tiêu đầu tư, ĐTXDCB của nhà nước thường ít nhắm tới mục tiêu lợi
nhuận trực tiếp. Nó phục vụ lợi ích của cả nền kinh tế, trong khi ĐTXDCB của tư
nhân và đầu tư nước ngoài thường đề cao lợi nhuận.
đánh giá khái quát và đánh giá hiệu quả cụ thể đạt được thông qua một hệ thống
các chỉ tiêu thống kê. Đánh giá khái quát là bước xem xét mức độ đáp ứng những
nhiệm vụ chính trị- kinh tế- tài chính - xã hội mà ngành, địa phương, cơ sở phải
đảm nhiệm trong từng năm, từng thời kỳ kế hoạch của đầu tư. Phương pháp để sử
dụng ở bước này là so sánh tương quan giữa các chỉ tiêu phản ánh tình hình thực
hiện đầu tư theo tổng mức, theo các tiêu thức phân tổ với những thành quả trong
sản xuất kinh doanh của cơ sở, trong phát triển kinh tế của từng ngành, phát triển
kinh tế xã hội của địa phương và của đất nước. Đánh giá hiệu quả cụ thể đạt được
thông qua hệ thống chỉ tiêu thống kê ở buớc 2 được thực hiện theo nguyên tắc
chung là lần lượt so sánh các kết quả do đầu tư đưa lại với chi phí vốn đầu tư đã
thực hiện để thu được các kết quả đó. So sánh kết quả tính được với định mức hoặc
kế hoạch, với các thời kỳ trước, với các công cuộc đầu tư cùng tính chất. Chẳng
hạn nếu gọi E0 là chỉ tiêu hiệu quả định mức, E1 là chỉ tiêu hiệu quả thực tế, trong
đó: E1= Kết quả đạt được/chi phí vốn tương ứng. Nếu E1 ≥ E0 thì công cuộc đầu
tư là có hiệu quả và ngược lại.
Các kết quả đầu tư đưa lại cho nền kinh tế rất đa dạng. Nó có thể là lợi
nhuận thuần, mức tăng năng suất lao động, là số lao động có việc làm do đầu tư
đưa lại, là mức tăng thu nhập cho người lao động, tăng thu cho ngân sách, tăng
GDP, tăng năng lực sản xuất và sản lượng của nền kinh tế, ...Do đó để phản ánh
hiệu quả hoạt động đầu tư người ta phải sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu. Mỗi
một chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh của hiệu quả và được sử dụng trong những
điều kiện nhất định. Trong đó chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền được sử dụng rộng rãi
nhất. Có thể sử dụng các hệ thống chỉ tiêu sau đây:
Một là hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính còn gọi là hiệu quả
hạch toán kinh tế. Chỉ tiêu này được sử dụng để xem xét hiệu quả của đầu tư đối
với từng dự án đầu tư hoặc đầu tư của doanh nghiệp. Đối với từng dự án đầu tư,
các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của đầu tư gồm có : Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu
nhập thuần của dự án ; chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư, còn gọi là hệ số thu
động quản lý thể hiện ở sự thay đổi mức đảm nhiệm quản lý sản xuất, quản lý lao
động, quản lý TSCĐ của lao động, quản lý sau khi đầu tư so với trước khi đầu tư ;
Các tác động đến môi trường ; Đáp ứng việc thực hiện các mục tiêu trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, các nhiệm vụ của kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
Góc độ thứ hai là đối với các cấp quản lý vĩ mô của nhà nước, của địa
phương và của ngành: Giá trị sản phẩm thuần tuý tăng thêm ký hiệu là NVA. Đối
với các dự án đầu tư liên doanh, NVA gồm 2 bộ phận: Giá trị sản phẩm thuần tuý
tăng thêm quốc gia. Giá trị này là phần giá trị tăng được sử dụng trong nước; giá trị
tăng thuần tuý được chuyển ra nước ngoài ; chỉ tiêu số lao động có việc làm do
thực hiện dự án và số lao động có việc làm tính trên một đơn vị giá trị vốn đầu tư ;
chỉ tiêu mức giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ ; chỉ tiêu
ngoại hối ròng ( tiết kiệm ngoại tệ) ; các chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế ;
Những tác động khác của dự án như ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng, tác động đến
môi trường, nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất, những tác động về xã hội, chính
trị và kinh tế.
Ba là, để đánh giá hiệu quả các công cuộc đầu tư phúc lợi công cộng không
nhằm các lợi ích kinh tế trực tiếp ở cấp cơ sở hoặc ở cấp quản lý vĩ mô, thì các nhà
kinh tế còn sử dụng các chỉ tiêu kinh tế sau đây: Suất đầu tư tính cho một đơn vị
năng lực phục vụ tăng thêm ; hệ số huy động các kết quả của đầu tư so với toàn bộ
vốn đầu tư thực hiện các kỳ trước chưa được huy động và vốn đầu tư thực hiện kỳ
nghiên cứu. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt nhưng luôn nhỏ hơn 1 ; Tốc độ thực
hiện đầu tư phản ánh số lượng, năng lực phục vụ được huy động hoặc mức vốn đầu
tư được thực hiện trong một đơn vị thời gian. Chỉ tiêu này càng lớn tốc độ thực
hiện đầu tư càng nhanh.
Những yếu tố ánh hưởng đến hiệu quả của hoạt động ĐTXD cơ bản của nhà
nước:
1. Quy hoạch
có thể quản lý ĐTXDCB được tốt, nhà nước phải luôn luôn cập nhật sự thay đổi
của tình hình ĐTXDCB để từ đó bổ sung sửa đổi hệ thống chính sách pháp luật về
ĐTXDCB cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động ĐTXDCB.
3. Năng lực bộ máy và quản lý hành chính nhà nước
Năng lực tổ chức bộ máy có ảnh hưởng quan trọng quyết định đến hiệu quả
hoạt động ĐTXDCB. Năng lực tổ chức bộ máy ở đây bao gồm năng lực con người
và năng lực của các tổ chức tham gia vào lĩnh vực ĐTXDCB. Nếu năng lực con
người và tổ chức bộ máy yếu thì không thể có hiệu quả cao trong ĐTXDCB. Tổ
chức bộ máy tham gia vào hoạt động ĐTXDCB rất rộng, từ khâu lập quy hoạch kế
hoạch, đến khâu chuẩn bị đầu tư, tổ chức đấu thầu, thi công, nghiệm thu quyết
toán, đưa công trình vào sử dụng,...
Công tác quản lý hành chính nhà nước trong ĐTXDCB cũng có ảnh hưởng
lớn đến hiệu quả của hoạt động đầu tư. Thực tế cho thấy nếu quản lý nhà nước yếu
kém, hành chính quan liêu, thủ tục hành chính rườm rà sẽ ảnh hưởng đến chi phí
đầu tư và hậu quả là hiệu quả hoạt động đầu tư thấp. Muốn nâng cao hiệu quả hoạt
động ĐTXDCB cần phải đổi mới quản lý hành chính nhà nước.
4. Môi trường cạnh tranh trong đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước
Trong ĐTXDCB của nhà nước thường tính cạnh tranh không cao. Về
nguyên tắc, nhà nước thường ĐTXDCB vào những vùng, miền, lĩnh vực mà đầu tư
tư nhân không muốn làm, không thể làm, không được làm. Nhà nước thường đầu
tư vào những nơi mà lợi ích kinh tế xã hội nói chung được coi trọng hơn lợi ích
kinh tế thuần tuý. Vì vậy, môi trường cạnh tranh trong ĐTXDCB của nhà nước về
lý thuyết nhìn chung thường ít khốc liệt, thiếu minh bạch. Tuy nhiên, nếu thiếu
vắng sự cạnh tranh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động ĐTXDCB.
Nhà nước cần phải tạo ra một môi trường cạnh tranh thực chất trong lĩnh vực
ĐTXDCB của nhà nước để tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư.
Phần 3
NHỮNG HẠN CHẾ CẦN ĐƯỢC KHẮC PHỤC
Đầu tư sai, đầu tư dàn trải, đầu tư khép kín.
Đầu tư sai là vấn đề nhức nhối làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả
đầu tư đuợc nêu ra rất nhiều trong những năm gần đây. Nhiều công trình dự án
chưa thực sự phải cần thiết đầu tư, chưa đến thời điểm đầu tư hoặc không nhất thiết
phải bố trí vốn nhà nước đầu tư đã gây lãng phí không nhỏ. Quy mô, địa điểm của
nhiều dự án ĐTXDCB của nhà nước xác định không đúng dẫn đến tình trạng phải
liên tục bổ sung vốn, đầu tư xong thiếu nguyên liệu để sản xuất, đầu tư xong không
có nơi tiêu thụ sản phẩm. Đây là sản phẩm của tư duy quan liêu bao cấp nặng nề,
quyết định đầu tư duy ý chí, làm kinh tế theo kiểu phong trào. Nếu gõ cụm từ “đầu
tư sai” vào các trang tìm kiếm trên internet sẽ có trên 500 trang tin đề cập đến. Đọc
các trang này ta thấy đầu tư sai mang lại hậu quả xấu rất lớn. Nhiều tỉ đồng đã thất
thoát, lãng phí, kém hiệu quả trong hơn 12.000 dự án đầu tư, từ đánh bắt xa bờ,
mía đường, xi măng lò đứng, cho tới đại công trường ở Hà Giang. Từ năm 2002,
với chương trình 1 triệu tấn đường, cả nước rộ lên phong trào trồng mía, xây dựng
nhà máy đường. Đến nay cả nước đã xây dựng 44 nhà máy đường, tổng công suất
thiết kế là 82.950 tấn mía/ngày. Tổng số vốn đầu tư, mở rộng, xây dựng mới các
nhà máy lên tới 10.050 tỉ đồng, trong đó có hơn 6.677 tỉ đồng thiết bị và hơn 3.372
tỉ đồng xây lắp. Tổng sản lượng đường đạt trên một triệu tấn. Tuy nhiên đến thời
điểm này, tình trạng tài chính của các nhà máy đường trên toàn quốc hết sức thê
thảm với số nợ khoảng trên 5.000 tỉ đồng và đa số mất khả năng chi trả. Trong số
nợ này có tới khoảng 1.000 tỉ đồng vay nước ngoài. Đa số các doanh nghiệp đã
không trả được nợ nước ngoài. Hệ thống Ngân hàng thương mại cũng đã phải đứng
ra trả thay khoản nợ bảo lãnh và cho vay nhận nợ bắt buộc của 16 doanh nghiệp
trên 17,4 triệu USD. Từ khi bắt đầu chương trình mía đường, đại đa số các doanh
nghiệp lâm vào tình trạng thua lỗ triền miên. Đến hết năm 2002, lỗ lũy kế của 36
doanh nghiệp là trên 2.000 tỉ đồng. Rất nhiều nhà máy chỉ sau một vài năm hoạt
động đã lỗ trên 50% vốn đầu tư, thậm chí có những nhà máy lỗ trên 100% vốn đầu
tư. Nhà máy đường Quảng Bình lỗ 136,6 tỉ/141,1 tỉ đồng vốn. Nhà máy đường
có hiệu quả nguồn lợi hải sản ở vùng biển xa bờ, góp phần bảo vệ nguồn lợi, vệ
sinh môi trường, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Với những khoản đầu
tư khổng lồ nhưng kết quả thanh tra đã xác định việc tư vấn thiết kế và quyết định
đầu tư xây dựng một số cảng cá chưa hợp lý về vị trí, qui mô công trình và đầu tư
mua sắm thiết bị chưa phù hợp với nhu cầu thực tế đã gây lãng phí trên 52 tỉ đồng.
Cảng cá Cà Mau xây dựng do vị trí xây dựng không phù hợp nên cảng đã phải
chuyển đổi hình thức từ cảng cá sang chợ cá. Sau hơn ba năm bàn giao, cảng cá Cà
Mau không có tàu đánh bắt thủy hải sản cũng như các loại tàu khác có công suất
60-300CV cập cảng, chỉ có gần 2.000 lượt tàu thuyền thương mại và du lịch nhỏ
cập cảng để trung chuyển hàng hóa, bằng 1,21% công suất thiết kế, trong đó hàng
thủy sản đạt 4,43% công suất Ngoài ra, 18,471 tỉ đồng đầu tư cho các cảng cá mua
sắm xe gắn cầu, xe nâng hàng, canô gắn máy cũng trở nên lãng phí do hầu hết tàu
thuyền cập cảng là tàu đánh bắt vừa và nhỏ của ngư dân, hàng hóa chủ yếu là hàng
hải sản với số lượng ít, không qua khâu trung chuyển khi cập cảng. Ba trong số
chín cảng cá bị thanh tra được xác định là có vấn đề về chất lượng do tài liệu đầu
vào (thủy văn, khí tượng, địa hình...) phục vụ việc thiết kế không đủ độ tin cậy nên
giải pháp kỹ thuật và kết cấu công trình chưa hợp lý khiến công trình chưa đảm
bảo tính ổn định.. Cảng cá Trần Đề cũng chỉ đạt hiệu quả khai thác 3,1% so với
năng lực thiết kế và không thể sử dụng khai thác được do cao trình thiết kế sai, kết
cấu bất hợp lý của hầu hết hạng mục công trình. Ngoài 9 cảng cá ra, cảng Sài gòn
được đầu tư nâng cấp trên 512,6 tỷ đồng ( thời điểm năm 2000), vừa làm xong đã
phải di dời gây lãng phí nghiêm trọng. Trong công nghiệp sản xuất chế biến phục
vụ nông nghiệp có Nhà máy ươm tơ Yên Lạc là một ví dụ. Sau gần hai năm xây
dựng với kinh phí gần 10 tỉ đồng, Nhà máy ươm tơ tự động Yên Lạc (Vĩnh Phúc)
được coi là nhà máy ươm tơ hiện đại nhất miền Bắc, chính thức đi vào hoạt động
ngày 1/7/2003. Nhà máy nằm giữa vùng trồng dâu nổi tiếng nhất tỉnh Vĩnh Phúc
với sản lượng kén hằng năm tới gần 1.000 tấn. Thế nhưng nếu tính thời gian sản
xuất liên tục thì một năm nhà máy chỉ hoạt động được mấy tháng, còn thì “trùm
mền”. Vì sao? Vì giá thu mua kén của nhà máy không cạnh tranh được với tư
thương, gần một năm chỉ mới chỉ thu mua và sản xuất được 50 tấn kén. Trong
năm 2004 có 377 dự án. Nhiều dự án khởi công chỉ có quyết định đầu tư, chưa có
quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, như Bộ Giao thông Vận tải
(17 dự án), Bộ Y tế (11 dự án), Bộ Công an (10 dự án).
ĐTXDCB của nhà nước còn mang tính chất khép kín và thiếu cơ chế giám
sát. Khép kín trong nội bộ ngành và khép kín trong ĐTXDCB nhà nước.
Lãng phí, thất thoát, tiêu cực, tham nhũng:
Trong những năm vừa qua, các báo cáo của Quốc hội, Chính phủ về
ĐTXDCB đều nhấn mạnh đến thất thoát, đặc biệt là trong ĐTXDCB của nhà nước.
Thất thoát trong ĐTXDCB đã làm cho công trình không có đúng giá trị thực theo
quyết toán. Các dạng thất thoát chủ yếu trong ĐTXDCB thường bao gồm :
+ Thất thoát do quản lý không tốt nên dẫn đến việc rút ruột công trình;
+ Thất thoát do thiết kế không đúng, quá dư so với thực tế thi công;
+ Thất thoát do kéo dài thời gian thi công;
+ Thất thoát trong bàn giao đưa công trình vào sử dụng, thanh quyết toán
Lãng phí trong ĐTXDCB là một trở lực phát triển đất nước. Trong kỳ họp Quốc
hội năm 2005, theo báo cáo của Bộ Tài chính, mặc dù không có thống kê, song con
số thất thoát trong ĐTXDCB khoảng 20-30%. Từ con số này lấy năm 2005 làm ví
dụ : tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cả nước, theo tính toán của Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF) vào khoảng trên 50 tỉ USD. Trong thực tế, mỗi năm Chính phủ dành riêng
cho việc đầu tư khoảng 30% GDP (tương đương 16-17 tỉ USD). Nếu con số thất
thoát chiếm 30% tổng số tiền đầu tư, tính ra số tiền thất thoát trong ĐTXDCB mỗi
năm không nhỏ hơn 2 tỉ USD! Khoản tiền đó đủ để xây dựng một nhà máy lọc dầu
cỡ như Dung Quất. Tất nhiên, đây mới chỉ là con số ước đoán, nhưng chắc rằng nó
cũng có ý nghĩa trong việc xem xét số tiền thất thoát trong ĐTXDCB, đặc biệt là
ĐTXDCB của nhà nước.
Lãng phí thường bao gồm :
+ Do quy hoạch sai;
+ Do công trình được xây dựng không phù hợp về địa điểm và thời gian;
bình thường trong các công trình ĐTXDCB của nhà nuớc. Tiêu cực tham nhũng
làm cho chất lượng công trình giảm sút, làm hư hỏng cán bộ, làm nản lòng các nhà
đầu tư và mất niềm tin của nhân dân. Giả sử nếu tỷ lệ thất thoát tham nhũng ở các
công trình đầu tư của nhà nước trong năm 2005 là 10% thì giá trị thất thoát là
17.500 tỷ đồng. Số vốn này đủ để xây dựng mới khoảng 5 nhà máy xi măng công
suất trên 1,2 triệu tấn/ năm/1 nhà máy. Nếu tính chung cho cả vốn đầu tư toàn xã
hội thì với tỷ lệ thất thoát này sẽ là 33.500 tỷ đồng. Lượng thất thoát này đủ để xây
dựng 3 nhà máy thuỷ điện Yaly hoặc 3 công trình đường dây 500KV. Theo báo
cáo của Ðoàn giám sát Quốc hội, trong số 1.505 dự án về xây dựng được kiểm tra,
có 176 dự án vi phạm quy định về thẩm định dự án; 198 dự án, công trình vi phạm
quy chế đấu thầu; 802 dự án, công trình thi công sai thiết kế, sai chủng loại vật tư,
thiết bị, không phê duyệt khối lượng phát sinh, vi phạm các quy định về trình tự
thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng, về quản lý chất lượng, nghiệm thu, thanh
toán công trình; 415 dự án, công trình vi phạm về thiết kế, khảo sát; 720 dự án,
công trình vi phạm quy định trong giai đoạn đưa công trình vào khai thác, sử dụng.
Trong hai năm 2002 - 2003, thanh tra chuyên ngành xây dựng đã tổ chức thanh tra
31 dự án xây dựng với tổng vốn đầu tư là 17.300 tỷ đồng, thì cả 31 dự án đều có
sai phạm với số tiền thất thoát, lãng phí lên đến 2.070 tỷ đồng. Báo cáo của Tổng
hội Xây dựng Việt Nam về 59 công trình xây dựng có biểu hiện lãng phí, thất thoát
cho thấy, có 27% các công trình do chất lượng kém, phải bổ sung kinh phí mới sử
dụng được; 36% các công trình không sử dụng được do chọn địa điểm xây dựng
không thích hợp, chất lượng kém (đặc biệt là các công trình của chương trình 135);
25% các công trình do quyết toán khống làm thất thoát gần 300 tỷ đồng, riêng
Công trình đường Thạch Yên - Công Sự của tỉnh Kiên Giang thất thoát tới 58,6%
vốn đầu tư...Từ năm 2001 đến nay, lực lượng công an đã liên tục phát hiện, điều
tra nhiều vụ án tham nhũng lớn trong lĩnh vực ĐTXDCB, gây thiệt hại đặc biệt
nghiêm trọng tài sản của Nhà nước, như: Vụ xây dựng khu vui chơi giải trí Thủy
cung Thăng Long - Hà Nội; vụ xây dựng tuyến đường Nậm Pục - Pắc Ma của
bằng xây dựng trong thời gian qua cũng có nhiều thiếu sót. Trong đền bù xây
dựng, thường có những hiện tượng tiêu cực sau : Hoặc là nhà nước đền bù không
tương xứng ( cao hoặc thấp) so với giá trị của nhà đất tại thời điểm đền bù gây ra
khiếu kiện, tiêu cực, tham nhũng. Hoặc là thông đồng khai khống diện tích, đơn
giá để chia nhau hưởng lợi. Hoặc là tiền đền bù không đến 100% với ngưòi dân.
Một Km đường Kim Liên- Ô Chợ Dừa phải đền bù hết 750 tỷ đồng (đắt nhất thế
giới) là điều khó có thể chấp nhận được. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng
chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người có đất
bị thu hồi. Đền bù giải phóng mặt bằng không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến
tiến độ thi công của các công trình xây dựng, mà còn tác động mạnh đến chất
lượng và giá thành công trình. Không ít trường hợp, giải phóng mặt bằng đã ảnh
hưởng tiêu cực tới xã hội. Đoạn đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ là một ví dụ.
Đây là đoạn đường cao tốc đầu tiên của Việt Nam được đầu tư hiện đại và đồng
bộ, với chi phí 20 tỷ đồng/km. Do chậm trễ trong khâu giải phóng mặt bằng nên
Ban quản lý phải chọn giải pháp là rút ngắn thời gian chờ lún của nền đường. Cho
đến nay, mặc dù đoạn đường này đã đưa vào khai thác nhưng vẫn phải tiếp tục
theo dõi lún sụt trên toàn tuyến. Xử lý mỗi điểm lún sụt là cả một vấn đề, vừa cản
trở giao thông vừa tốn kém. Một số dự án khác như đường vành đai 3, cầu Thanh
trì, nút giao thông Ngã tư Sở (Hà Nội) đều phải chậm tiến độ do giải phóng mặt
bằng.
Về nhà tái định cư phục vụ cho ĐTXDCB còn rất thiếu, Hà Nội là một ví dụ.
Theo tính toán của các chuyên gia, nhu cầu tái định cư năm 2006 là 6.400 căn hộ
và 1.200 thửa đất. Như vậy, năm nay Hà Nội vẫn còn thiếu 2.444 căn hộ. Thực tế
vừa qua cho thấy nhà tái định cư triển khai rất chậm chạp, kéo dài thời gian dẫn
đến hậu quả nhiều dự án dở dang, không tái định cư được nên kéo theo đó là không
thể giải phóng mặt bằng. Thời gian thi công công trình kéo dài làm thất thoát, lãng
phí kéo theo chủ đầu tư và nhà thầu phải bỏ thêm chi phí đầu tư.
Về mua sắm trang thiết bị và công nghệ trong quá trình thực hiện ĐTXDCB
không, Cụm cảng hàng không miền Trung (CCHKMT) sai trái trong việc mua sắm
trang thiết bị, phụ tùng thay thế trị giá hàng tỉ đồng mà không có sự tham gia của
các phòng ban chức năng liên quan. Trong ngành dầu khí, tại Vũng Tàu trong dự
án nhà ở block 140 chỗ, Interpet Việt Nam đã lập hợp đồng giả để giành quyền
mua thiết bị. Công ty Interpet đã mua bán vật tư thiết bị trôi nổi và lắp đặt cho dự
án. Và từ đó, đã cho ra đời các phụ lục, hóa đơn chứng từ nâng khống giá thiết bị,
vật tư để rút tiền nhà nước. Chẳng hạn, chỉ một dàn bơm treo, thực tế mua của nhà
máy Z751 Bộ Quốc phòng chỉ 200 triệu đồng, nhưng đã nâng giá lên hơn 100 ngàn
USD. Tại Tổng Công ty Than Việt nam (TVN), việc mua sắm trang thiết bị trong 5
năm mất hàng triệu USD. Thanh tra tại 11 đơn vị thành viên của TVN và kiểm tra
dự án xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Na Dương (Lạng Sơn), cơ quan chức năng đã
phát hiện từ năm 1999 - 2004, TVN đã đầu tư mua sắm trang thiết bị với tổng trị
giá 7.354.445 triệu đồng, trong đó có 3.203.053 triệu đồng mua thiết bị không lắp
đặt. Xem xét 132 gói thầu với tổng giá trị gần 1.438 tỷ đồng mua sắm thiết bị
không lắp đặt, phát hiện nhiều gói thầu chỉ định thầu sai quy định. Cụ thể, Chủ tịch
HĐQT và Tổng giám đốc TVN quyết định chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp 71 gói
thầu có giá trị lớn hơn 1 tỷ đồng (tổng giá trị 636.247 triệu đồng và 30.808.611
USD), đáng lẽ ra theo quy định buộc phải tổ chức đấu thầu. Tổng giám đốc TVN
phê duyệt kế hoạch đấu thầu 37 gói thầu với giá trị trên 532 tỷ đồng khi không có
ủy quyền của HĐQT. Một số giám đốc doanh nghiệp thành viên dưới quyền cũng
chỉ định thầu 5 gói thầu có giá trị trên 1 tỷ đồng với tổng giá trị hơn 12 tỷ đồng.
Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc TVN cho các đơn vị thành viên được áp dụng
kết quả xét thầu của các đơn vị khác, dẫn đến hậu quả nhiều thiết bị được mua sắm
không phải là thiết bị do trúng thầu, do đấu giá và làm tăng tổng mức đầu tư, với
số tiền chênh lệch được phát hiện lên tới 292.565 USD. Đối với các gói thầu có tổ
chức đấu thầu, đã phát hiện nhiều sai phạm lớn, như việc tổ chuyên gia xét thầu tại
một số đơn vị của TVN làm việc rất tùy tiện: chấm điểm theo tập thể, các thành
viên trong tổ chuyên gia không có bảng chấm điểm riêng, không có biểu điểm chi
nhũng từ việc mua sắm trang thiết bị, đấu thầu với giá trị hàng chục triệu USD. Về
vụ rút ruột công trình nhà A2 Kim Giang, khu đô thị mới, khu căn hộ cao cấp, lún
nứt cầu Văn thánh 2, Nguyễn Hữu Cảnh, công trình nước sạch TP Hồ Chí Minh,
đường lăn đầu tây sân bay Nội Bài, Xi măng Bút Sơn, Hoàng Mai, ... cho thấy việc
mua sắm trang thiết bị và công nghệ có rất nhiều kẽ hở, thất thoát, tiêu cực, cố ý
làm trái cần được chấn chỉnh. Việc mua sắm các trang thiết bị của các nhà thầu
nước ngoài hiện nay chưa có cơ chế thanh tra kiểm tra.
Về giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử dụng cũng có
nhiều sai sót nghiêm trọng, thể hiện trên tất cả các khâu: Nghiệm thu, bàn giao
công trình, thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình, vận hành công trình và
hướng dẫn sử dụng công trình, bảo hành công trình, quyết toán vốn đầu tư, phê
duyệt quyết toán. Ở các công trình ĐTXDCB của nhà nước, những hội đồng
nghiệm thu thường mang tính hình thức. Thành phần hội đồng nghiệm thu mang
tính đại diện. Chất lượng công trình được xem xét qua loa, hình thức rồi cho
nghiệm thu nên nhiều công trình mới đưa vào sử dụng đã hư hỏng xuống cấp
nghiêm trọng. Việc nghiệm thu công trình đường ống, kho chứa, cảng xuất LPG
Thị Vải mà chủ đầu tư là Petro Việt Nam là một ví dụ điển hình cho kiểu nghiệm
thu này. Độ sụt lún của công trình Thị Vải là hoàn toàn không thể chấp nhận được
(độ lún từ 1,98m đến 2,85m), vẫn cho nghiệm thu. Việc kết thúc công trình XDCB
ở nước ta trong những năm qua cũng còn lỏng lẻo. Nhiều công trình xây dựng
xong chưa làm hoàn chỉnh các thủ tục kết thúc công trình đã đưa vào sử dụng.
Công tác bảo hành, bảo trì chưa được chú trọng đúng mức, trách nhiệm của đơn vị
xây lắp trong việc bảo hành còn hình thức, mặc dù theo quy định thì rất cụ thể.
Về vận hành công trình, thực tế trong nhiều năm qua cho thấy nhiều công
trình khi hoàn thành đã không đưa vào vận hành sử dụng ngay gây lãng phí. Việc
đặt ra vấn đề bảo trì còn yếu vì vậy ảnh hưởng đến chất lượng công trình.
Về bảo hiểm cho công trình xây dựng, nhiều công trình đã không thực hiện
nội dung này hoặc cố tình không thực hiện.