Tình hình đầu tư xây dựng cơ bản ở Công ty Điện lực 1 - Pdf 12

MỤC LỤC
Lời mở đầu Trang
P HẦN I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG..............................................8
I. Đầu tư phát triển ......................................................................................8
1. Khái niệm đầu tư phát triển ................................................................8
2. Đặc điểm đầu tư phát triển..................................................................9
3. Vai trò đầu tư phát triển.....................................................................10
4. Nguồn vốn đầu tư phát triển..............................................................14
4.1. Nguồn vốn huy động trong nước................................................14
4.2. Nguồn vốn huy động nước ngoài ...............................................15
4.3. Mối quan hệ vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài.16
II. Đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB).........................................................17
1. Khái niệm đầu tư XDCB...................................................................17
2. Đặc điểm đầu tư XDCB....................................................................19
3. Vai trò đầu tư XDCB.........................................................................20
4. Vốn đầu tư XDCB.............................................................................21
4.1. Khái niệm vốn đầu tư XDCB......................................................21
4.2. Vai trò vốn đầu tư XDCB ..........................................................22
4.3. Nội dung vốn đầu tư XDCB........................................................23
III. Đầu tư XDCB của ngành điện............................................................24
1. Một số khái niệm ..............................................................................24
1.1. Năng lượng và hệ thống năng lượng.........................................24
1.2. Hệ thống điện và đầu tư phát triển ngành điện.........................24
1.3. Đầu tư XDCB của ngành điện...................................................27
2. Đặc điểm đầu tư XDCB....................................................................27
2.1. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành điện................................27
2.1.1. Đặc điểm sản phẩm điện năng...........................................27
2.1.2. Đặc điểm ngành điện..........................................................29
2.2. Đặc điểm đầu tư XDCB của ngành điện....................................29
3. Vai trò, nhiệm vụ và trình tự đầu tư XDCB.....................................31
3.1. Vai trò, nhiệm vụ đầu tư XDCB các công trình điện................31

2.2.3. Mức đóng góp cho Ngân sách...........................................77
2.2.4. Số việc làm tăng thêm và thu nhập bình quân .................77
2.2.5. Các hiệu quả kinh tế xã hội khác.......................................78
III. Những khó khăn tồn tại trong công tác đầu tư XDCB ..................79
P HẦN III : PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ XDCB CỦA CÔNG TY..............................................86
I. Phương hướng và nhiệm vụ công tác đầu tư XDCB
giai đoạn 2002- 2005...................................................................................86
1. Những thuận lợi và khó khăn trong giai đoạn tới............................86
2. Phương hướng, mục tiêu và kế hoạch về ĐTXD.............................88
2.1. Phương hướng chung.................................................................88
2.2. Mục tiêu và kế hoạch cụ thể về ĐTXD ...................................91
II. Một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động đầu tư XDCB
ở Công ty điện lực I.....................................................................................95
1. Về phía Công ty điện lực I..................................................................95
1.1. Giải pháp thứ nhất: huy động vốn và sử dụng vốn
có hiệu quả .................................................................................95
1.2. Giải pháp thứ hai: xây dựng các chủ trương kế hoạch
đầu tư hợp lý để hoạt động đầu tư đi đúng hướng
và hiệu quả hơn............................................................................96
1.3. Giải pháp thứ ba: tăng cường chất lượng lập các thủ tục
đầu tư xây dựng ..........................................................................98
1.4. Giải pháp thứ tư: chấn chỉnh hoàn thiện các khâu để
thực hiện tốt công tác đấu thầu...................................................99
1.5. Giải pháp thứ năm: cải tiến thủ tục, qui định rõ trách nhiệm
từng khâu của các cơ quan có liên quan trong quá trình
cấp phát vốn thanh toán..............................................................100
1.6. Giải pháp thứ sáu: chấn chỉnh và tăng cường kỷ luật quyết
toán công trình, dự án hoàn thành.............................................100
1.7. Các giải pháp cơ bản khác .......................................................102

tương xứng của ngành năng lựợng đã trở nên một điều kiện quan trọng cho
sự phát triển nền kinh tế quốc dân. Điện lực Việt Nam không nằm ngoài xu
thế đó.
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng sẽ không có
sự tăng trưởng kinh tế nếu không đầu tư vào các cơ sở hạ tầng đặc biệt là
ngành điện, nhất là đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Đất nước ta đang đứng trước những vận hội và thách thức mới, để
hoàn thành chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu
năm 2020 đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp thì ngành Điện
Việt Nam không thể để các nhà máy công nghiệp chúng ta chờ điện mà
điện phải đi trước, tạo cơ sở hạ tầng cho các ngành nghề, các doanh nghiệp
và các cơ sở phát triển.
Công ty điện lực I cũng nằm trong xu hướng phát triển chung này. Là
một đơn vị hoạt động dưới sự chỉ đạo của Tổng công ty điện lực Việt Nam,
5
Công ty cũng đã và đang góp một phần quan trọng vào cuộc cách mạng
công nghiệp đang diễn ra hiện nay. Cùng với qúa trình xây dựng và trưởng
thành, Công ty đã luôn phát triển và không ngừng lớn mạnh đi lên theo
đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nhu cầu điện ngày càng
cao của các ngành kinh tế và xã hội trên phạm vi miền Bắc nước ta.
Riêng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB của Công ty sau hơn 15 năm đổi
mới tuy đã có bước phát triển nhưng máy móc thiết bị hầu như đã khai thác
hết năng lực sản xuất, hệ thống đường dây truyền tải và phân phối đang đòi
hỏi được nâng cấp và cải tạo để đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu điện tăng cao
của khách hàng trên toàn miền. Vì vậy công tác XDCB các công trình điện
luôn là nhiệm vụ trọng tâm của Công ty nhằm tăng cường công suất bổ
sung, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế.
Hoạt động đầu tư XDCB của Công ty đã đạt được những thành tựu
đáng tự hào, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn và thách thức. Xem
xét những kết quả, hiệu quả đã thực hiện được, những điều còn vướng

(tạo ra hoặc khai thác sử dụng một tài sản) nhằm thu về các kết quả có lợi
trong tương lai.
Từ các khái niệm trên về đầu tư ta có thể rút ra khái niệm chung về
đầu tư như sau, đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành
hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nguồn
lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Những kết quả của đầu tư có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài
sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với
năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là quá trình
chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật, là quá trình chi dùng vốn để
xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị
và lắp đặt chúng trên nền bệ, và bồi dưỡng nhằm tạo ra những yếu tố cơ
7
bản của sản xuất kinh doanh; dịch vụ; tạo ra những tài sản mới, năng lực
sản xuất mới và duy trì tiềm lực sẵn có của nền kinh tế.
2. Đặc điểm đầu tư phát triển
Đầu tư có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, do
đó cần đẩy mạnh hoạt động đầu tư. Hoạt động đầu tư phát triển có những
đặc điểm cơ bản khác biệt với các loại hình đầu tư khác đó là
Thứ nhất, đầu tư phát triển đòi hỏi lượng vốn lớn và để nằm khê đọng
trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Đây là cái giá phải trả khá lớn của
đầu tư phát triển. Do đó cần phải tính toán chính xác khả năng có thể đầu
tư và để không bị thiếu vốn thì chủ đầu tư nên đầu tư theo giai đoạn, hạng
mục công trình nào cần làm trước, hạng mục công trình nào cần làm sau có
thể làm sau. Đồng thời cần làm tốt các bước của quá trình lập dự án và phải
biết huy động vốn từ nhiều nguồn.
Thứ hai, hoạt động đầu tư mang tính chất lâu dài. Thời gian tiến hành
một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả phát huy tác dụng đòi hỏi

sản xuất và chi phí sản xuất đã cho.
Có hai phương thức tác động của đầu tư đến tổng cung và tổng cầu đó
là: tác động trực tiếp và tác động gián tiếp. Nếu sử dụng vốn đầu tư là một
yếu tố đầu vào của quá trình trực tiếp tạo ra sản phẩm, tác động đó là trực
tiếp. Còn nếu đem vốn đầu tư vào các yếu tố đầu vào khác như: khoa học
công nghệ, lao động...từ đó tác động đến tổng cung và tổng cầu trong nền
kinh tế, tác động đó là gián tiếp.
Cơ chế tác động của đầu tư đến tổng cung và tổng cầu ra sao?
Về mặt tổng cầu: Đầu tư là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
cầu của toàn bộ nền kinh tế. Đầu tư tác động đến đường tổng cầu làm
đường tổng cầu dịch chuyển và sự tác động của đầu tư tới tổng cầu là sự
tác động ngắn hạn. Với tổng cung chưa kịp thay đổi đổi, sự tăng lên về nhu
cầu các yếu tố sản xuất tức tổng cầu tăng, dẫn tới sản lượng cân bằng và
giá cả các yếu tố đầu vào tăng lên.
Về mặt tổng cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các
năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn
tăng lên, kéo theo sản lượng tiềm năng tăng lên trong khi giá cả giảm cho
phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích
sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ,
phát triển kinh tế xã hội. Tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời
9
sống của mọi thành viên trong xã hội. Đây là tác động có tính chất dài hạn
của đầu tư. Vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đầu tư chính ở điểm
này.
3.2. Đầu tư là một nhân tố tác động đến sự ổn định và phát triển kinh tế
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng
cầu và tổng cung của nền kinh tế, làm cho mỗi sự thay đổi trong đầu tư, dù
là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là
yếu tố phá vỡ sự ổn định.
Bên cạnh những tác động tích cực do hoạt động đầu tư mang lại như:

triển, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng.
Thứ hai, tạo ra một cân đối trên phạm vi nền kinh tế giữa các ngành,
các vùng và lãnh thổ.
Thứ ba, phát huy được nội lực của vùng, của nền kinh tế trong khi vẫn
xem trọng yếu tố ngoại lực.
3.4. Đầu tư ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
Để đánh giá mức gia tăng trong tổng sản lượng quốc gia, các nhà kinh
tế thường bắt đầu với việc ước tính tỷ lệ tích luỹ và khối lượng sản phẩm
đầu ra thuần tuý được tạo ra từ đầu tư thuần. Nhiều nghiên cứu đã cố gắng
lượng hoá lượng vốn cần thiết để tăng sản lượng đầu ra thêm một đơn vị
mỗi năm trong một khu vực hay của cả nền kinh tế. Giá trị tính được này
gọi là tỷ số vốn - sản lượng hay hệ số vốn.
Tỷ lệ gia tăng giữa vốn so với sản lượng viết tắt là ICOR được xác
định bằng tỷ số giữa khối lượng vốn tăng thêm với phần gia tăng của GDP
hay suất đầu tư cần thiết để tăng sản lượng đầu ra thêm một đơn vị. Mô
hình Harrod- Domar đã làm rõ ý nghĩa này. Theo tác giả, tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế phụ thuộc vào tỷ số vốn đầu tư - sản lượng và năng
suất của vốn đầu tư
Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP
Tốc độ tăng GDP = ---------------------------
ICOR
Nếu ICOR không đổi, tốc độ tăng GDP hoàn toàn phụ
thuộc vào vốn đầu tư.
11
Hệ số ICOR của một nước, một vùng phụ thuộc vào trình độ phát triển
và cơ chế chính sách trong từng thời kỳ. Khi hai yếu tố thay đổi thì ICOR
cũng thay đổi.
Hệ số ICOR ở các nước phát triển cao hơn các nước đang phát triển
bởi vì ở các nước kinh tế phát triển thừa vốn, thiếu lao động, vốn được sử
dụng nhiều để thay thế cho lao động, sử dụng nhiều công nghệ có giá trị

rằng đầu tư là yếu tố cơ bản, quan trọng ảnh hưởng tới việc năng cao chất
lượng đội ngũ lao động.
4. Nguồn vốn đầu tư phát triển
Nguồn vốn đầu của một đất nước được hình thành từ hai nguồn cơ bản
đó là nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
- Vốn đầu tư trong nước được hình thành từ các nguồn sau đây:
+ Vốn tích luỹ từ ngân sách
+ Vốn tích luỹ của các doanh nghiệp
+ Vốn tiết kiệm của dân cư
- Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm
+ Vốn đầu tư trực tiếp (FDI)
+ Vốn đầu tư gián tiếp (chủ yếu ODA)

4.1. Nguồn vốn huy động trong nước
Nguồn vốn trong nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ
các nguồn lực đưa vào vòng chu chuyển của nền kinh tế. Nó không chỉ bao
gồm tiền vốn biểu hiện bằng tài sản hiện vật như máy móc, vật tư, lao
động, đất đai, tài nguyên… mà nó còn bao gồm cả những giá trị tài sản vô
hình như vị trí địa lý, thành tựu khoa học công nghệ, bản quyền phát minh
sáng chế.
Các bộ phận cấu thành nguồn vốn trong nước đó là vốn tích luỹ từ
ngân sách; Vốn tích luỹ các doanh nghiệp; vốn tiết kiệm dân cư.
Vốn tích luỹ từ ngân sách (Tiết kiệm của chính phủ) là nguồn vốn
được hình thành từ thu thuế, phí và lệ phí, các khoản viện trợ hoặc các
khoản thu khác. Về nguyên tắc vốn tích luỹ từ ngân sách được xác định
bằng cách lấy tổng thu nhập trừ đi các khoản chi tiêu. Đối với Chính phủ
đặc biệt là Chính phủ các nước đang phát triển chi cho đầu tư phát triển là
một nhiệm vụ chi quan trọng. Do vậy tình trạng phổ biến là bội chi ngân
sách, nhưng đầu tư vẫn được coi là một nội dung chi tiêu quan trọng. Các
khoản chi của Chính phủ qua ngân sách Nhà nước bao gồm: chi mua hàng

nước công nghiệp phát triển. Vốn đầu tư gián tiếp thường lớn cho nên có
tác dụng mạnh và nhanh đối với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát
triển kinh tế, xã hội của nước nhận đầu tư.
14
Vốn đầu tư trực tiếp (FDI) là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân
nước ngoài đầu tư sang nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản
lý quá trình sử dụng và thu hồi số vốn bỏ ra. Vốn này thường không đủ lớn
để giải quyết dứt điểm từng vấn đề kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư.
Tuy nhiên, với số vốn đầu tư trực tiếp nước nhận đầu tư không phải lo trả
nợ, lại có thể dễ dàng có được công nghệ, kể cả công nghệ bị cấm xuất theo
con đường ngoại thương; học tập được kinh nghiệm quản lý, tác phong làm
việc theo lối công nghiệp của nước ngoài, gián tiếp có chỗ đứng trên thị
trường thế giới.
Đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, một vấn đề
nan giải là thiếu vốn và từ đó dẫn tới thiếu nhiều thứ khác. Để thu hút
nhanh nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đòi hỏi các nước cần phải
tạo lập môi trường thuận lợi, thông thoáng, hấp dẫn cho nhà đầu tư như
cung cấp cơ sở hạ tầng (Giao thông liên lạc, điện, nước…), tạo lập đồng bộ
cơ chế chính sách, luật pháp đặc biệt là luật đầu tư nước ngoài cần phải
thực sự “trên thoáng, dưới thông”, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu công nghệ cao hướng thu hút vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào.
4.3. Mối quan hệ vốn đầu tư trong nước và vốn nước ngoài
Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, nguồn vốn trong nước có
vai trò rất quan trọng, nó quyết định trực tiếp tới sự phát triển kinh tế xã
hội của từng nước, là nguồn vốn bảo đảm tăng trưởng một cách bền vững,
ổn định, đưa đất nước đến sự phồn vinh một cách chắc chắn mà không phụ
thuộc vào nước ngoài. Điều đó được thể hiện ở việc chúng ta có thể nắm
giữ, tập trung được nguồn vốn này, chủ động bố trí được cơ cấu đầu tư theo
mục tiêu phát triển của từng thời kỳ phù hợp với trình độ phát triển của đất
nước.

trình độ khoa học công nghệ, học hỏi kinh nghiệm quản lý. Đồng thời nó
là nguồn vốn hỗ trợ hoàn thiện cơ cấu kinh tế.
Từ vai trò và mối quan hệ giữa các nguồn vốn một lần nữa cho phép
chúng ta khẳng định để phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nguồn
vốn đầu tư trong nước quyết định và vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò
quan trọng.
II. ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản
Xây dựng cơ bản (XDCB) là một hoạt động có chức năng tái sản xuất
giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định có tính chất sản xuất
16
và không có tính chất sản xuất cho các ngành kinh tế thông qua các hoạt
động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hoá hay khôi
phục các tài sản cố định.
Xây dựng mới là tạo ra những tài sản cố định chưa có trong bảng cân
đối tài sản cố định của nền kinh tế, thông qua quá trình này nền kinh tế có
thêm tài sản cố định hay trong danh mục tài sản cố định của nền kinh tế có
thêm một tài sản mới.
Xây dựng mở rộng là hoạt động đối với những cơ sở đã tồn tại người
ta mua thêm máy móc, xây dựng thêm các nhà xưởng, làm tăng giá trị
TSCĐ đã có.
Hiện đại hóa không phải là xây dựng mới, cũng không phải là mở
rộng nhưng có tính chất của mở rộng. Hiện đại hoá thực hiện trong trường
hợp do sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ sở vật chất kỹ thuật, TSCĐ đã có
trong nền kinh tế được mua sắm hàng loạt những yếu tố kỹ thuật để bù lại
hao mòn vô hình.
Khôi phục là hoạt động được thực hiện đối với những TSCĐ đã tồn
tại nhưng do thiên tai, do chiến tranh...bị tàn phá, nay phải khôi phục.
Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói
chung. Đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB (từ việc khảo

trọng, có những công trình xây dựng tại địa điểm không hợp lý, toàn bộ chi
phí do chuyển địa điểm rất lớn. Tìm địa điểm cho sản phẩm có tính cố định
là điều kiện tiên quyết trước khi tiến hành khởi công xây dựng công trình.
Thứ hai, sản phẩm XDCB có khối lượng lớn nên phải thi công ngoài
trời, hoạt động XDCB chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết. Sản phẩm có khối
lượng lớn nên nguyên vật liệu cũng để ngoài trời, nếu điều kiện khí hậu
không tốt gây ra hư hỏng, tổn thất lớn. Từ đó liên quan đến vấn đề giá
thành công trình và thực hiện quản lý ra sao để chất lượng XDCB được tốt
nhất, giảm hư hỏng, mất mát.
Thứ ba, thời gian XDCB và thời gian tồn tại của sản phẩm XDCB lâu.
Từ đặc điểm thời gian xây dựng dài nên ứ đọng vốn đối với hoạt
động đầu tư XDCB lớn, càng ứ đọng vốn càng thiệt hại lớn vì khối lượng
vốn lớn, khối lượng sản phẩm lớn. Hơn nữa do thời gian xây dựng lâu nên
chịu ảnh hưởng của các yếu tố như giá trị đồng tiền, điều kiện thời tiết, tình
hình chính trị... Thời gian càng dài các yếu tố khác đó càng thay đổi. Nếu
tác động từ các yếu tố đó theo chiều hướng xấu sẽ dẫn đến tổn thất lớn. Và
sản phẩm XDCB tồn tại lâu, nếu tác động từ các yếu tố trên tốt, chất lượng
18
công trình tốt thì thành quả hoạt động đầu tư XDCB càng phát huy tác
dụng tốt trong thời gian dài, đóng góp lớn cho nền kinh tế, văn hoá xã hội,
có những công trình tồn tại vĩnh viễn và ngược lại.
Thứ tư, vốn cho hoạt động đầu tư XDCB lớn. Do sản phẩm có khối
lượng lớn, thời gian xây dựng và tồn tại của sản phẩm XDCB dài...nên chi
phí cho đầu tư XDCB chiếm từ 20 - 25% GDP (chi cho TSCĐ), một phần
nếu sử dụng không hợp lý gây ra thiệt hại lớn
Thứ năm, tính đơn chiếc và chu kỳ sản xuất không lặp lại là đặc điểm
rất rõ của đầu tư XDCB. Tính đơn chiếc có nghĩa không có sản phẩm
XDCB nào giống sản phẩm nào. Dù thiết kế giống nhau, sản phẩm cố định
nhưng địa điểm khác nhau, thời tiết khí hậu các vùng khác nhau... sản
phẩm không giống nhau hoàn toàn, chi phí sản xuất cũng không giống

nghệ mới, góp phần thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, chính sách kinh tế Nhà
nước phù hợp với tình hình hiện nay.
4. Vốn đầu tư XDCB
4.1. Khái niệm vốn đầu tư XDCB
Nguồn vốn đầu tư nếu phân chia theo theo bản chất bao gồm hai bộ
phận chính đó là vốn đầu tư cơ bản và vốn đầu tư vận hành.
Vốn đầu tư XDCB là nguồn vốn đầu tư dùng để tạo mới hoặc thay
thế, đổi mới tài sản cố định của các lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực phi sản
xuất vật chất cho nền kinh tế quốc dân. Do đó vốn đầu tư XDCB là thành
phần tích cực trong vốn đầu tư toàn xã hội. Hay nói cách khác vốn đầu tư
XDCB là tổng chi phí nhằm đạt được mục đích đầu tư bao gồm: chi phí
cho công tác thăm dò khảo sát và thiết kế; chi phí cho công tác xây dựng;
chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi
trong tổng dự toán.
Vốn đầu tư XDCB đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của
nền kinh tế, nó là một trong những yếu tố cần thiết để xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Vốn đầu tư XDCB góp phần đưa
các thành tựu khoa học kỹ thuật vào xây dựng và cải tiến qui trình công
nghệ, từ đó nâng cao được năng lực sản xuất và phục vụ.
Vốn đầu tư XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
các tài sản cố định cho nền kinh tế. Cần lưu ý có một số khoản mục xét về
mặt tính chất lẫn nội dung là hoạt động đầu tư XDCB nhưng chúng lại
không được tính vào vốn đầu tư XDCB bao gồm các hoạt động sau:
20
+ Hoạt động sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc (vốn cho hoạt
độngg này lấy từ trích khấu hao hàng năm)
+ Chi phí khảo sát thăm dò tài nguyên, địa chất nói chung trong nền
kinh tế mà không liên quan trực tiếp đến công trình nào cả.
4.2. Nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB
Vốn đầu tư XDCB được hình thành từ các nguồn sau đây:

thanh toán khối lượng thực hiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản. Nội
dung của vốn đầu tư XDCB bao gồm:
4.3.1. Vốn đầu tư cho xây dựng và lắp đặt (Vốn cho xây lắp)
Vốn đầu tư xây dựng là các chi phí để xây dựng mới, mở rộng và
khôi phục các loại nhà cửa, vật kiến trúc (sử dụng lâu dài hoặc sử dụng tạm
thời) có ghi trong dự toán xây dựng.
Vốn lắp đặt là các chi phí cho việc lắp đặt thiết bị máy móc vào nền
bệ cố định (gắn liền với công dụng của tài sản cố định mới tạo, kế cả chi
phí chạy thử để kiểm tra chất lượng máy. Trong phần vốn này không bao
gồm giá trị thiết bị và chi phí chạy thử để kiểm tra thiết bị trước khi lắp
đặt).
Phần vốn xây dựng và lắp đặt chỉ có tác dụng tạo nên phần vỏ bao
che cho công trình, nó không trực tiếp tạo ra sản phẩm cho xã hội. Vì vậy
ta có thể tìm mọi biện pháp hợp lý trong thiết kế qui hoạch mặt bằng, hình
khối kiến trúc, giải pháp kết cấu và sử dụng các loại vật liệu xây dựng có
hiệu quả để giảm bớt phần vốn này đến mức tối đa.
4.3.2. Vốn đầu tư mua sắm máy móc thiết bị cho đối tượng xây dựng
Đó là toàn bộ để mua sắm, vận chuyển và bốc dở các máy móc thiết
bị, các công cụ sản xuất của công trình từ nơi mua đến tận chân công trình.
Phần vốn này là tích cực vì nó trực tiếp tạo ra sản phẩm cho xã hội sau khi
xây dựng xong. Cho nên, việc tăng tỷ trọng của phần vốn thiết bị trong vốn
đầu tư xây dựng cơ bản là một phương hướng tích cực nhất trong việc nâng
cao hiệu quả vốn đầu tư.
4.3.3. Những chi phí XDCB khác (làm tăng và không làm tăng giá trị
tài sản cố định)
Là những phần vốn chi cho các công việc có liên quan đến xây
dựng công trình như: Chi phí thăm dò khảo sát, thiết kế công trình, chi phí
thuê hoặc mua thiết kế, mua đất, đền bù hoa màu, di chuyển vật kiến trúc,
22
chi phí chuẩn bị khu đất để xây dựng, chi phí cho việc xây dựng các công

23
lượng sơ cấp phải trải qua nhiều công đoạn như khai thác, chế biến, vận
chuyển và phân phối. Các công đoạn này đòi hỏi nhiều chi phí về vốn, kỹ
thuật và các ràng buộc xã hội.
Năng lượng sơ cấp tồn tại dưới các dạng như: Hoá năng, thế năng,
động năng, nhiệt năng, cơ năng, năng lượng hạt nhân. Sau khi khai thác
qua các công đoạn biến đổi (nhà máy điện, nhà máy lọc dầu..) năng lượng
sơ cấp chuyển thành năng lượng thứ cấp như: Điện năng, nhiệt năng, khí
đốt…Năng lượng thứ cấp được phân phối tới các hộ tiêu thụ. Các thiết bị
tiêu thụ năng lượng (động cơ điện, lò nhiệt..) biến đổi năng lượng cuối
thành năng lượng hữu ích. Năng lượng hữu ích được biễu diễn dưới dạng
KWh, Kcal..
Năng lượng được sử dụng trong các lĩnh vực công nghiệp, nông
nghiệp, giao thông, sinh hoạt. Nhu cầu tiêu thụ năng lượng phụ thuộc vào
cơ cấu kinh tế xã hội của mỗi nước, mỗi khu vực.
Hệ thống năng lượng bao gồm các nguồn năng lượng, các khâu chế
biến, truyền tải, phân phối và tiêu thụ năng lượng. Hệ thống năng lượng
thường được xây dựng theo địa dư, vùng, một quốc gia hay một khu vực
các quốc gia.
1.2. Hệ thống điện và đầu tư phát triển ngành Điện
Hệ thống điện là một phần của hệ thống năng lượng, bao gồm các nhà
máy điện, mạng điện và các hộ tiêu thụ (các doanh nghiệp, các xí nghiệp,
các cơ sở sản xuất, các hộ gia đình).
Nhà máy điện có nhiệm vụ biến đổi năng lượng sơ cấp như: than, khí
đốt, thuỷ năng.. thành điện năng và nhiệt năng. Các nhà máy điện nối với
nhau thành hệ thống nhờ các trạm biến áp và đường dây điện (gọi chung là
mạng điện).
Nhà máy điện bao gồm:
+ Nhà máy nhiệt điện
+ Nhà máy thuỷ điện

Phụ tải là nơi tiêu thụ cuối cùng trong lưới điện, bao gồm các nhà
máy, công sở, các hộ tiêu dùng điện, ánh sáng sinh hoạt công cộng. Điện
thương phẩm là điện bán cho các hộ tiêu dùng điện.
Từ việc tìm hiểu các khái niệm trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm
đầu tư phát triển ngành Điện như sau: Đầu tư phát triển ngành Điện là
một bộ phận cơ bản của đầu tư phát triển năng lượng, là việc chi dùng vốn
25

Trích đoạn Đặc điểm đầu tư XDCB của ngành điện Vai trò, nhiệm vụ và trình tự đầu tư XDCB Vài nét về Công ty điện lực I Những thuận lợi và khó khăn trong giai đoạn tới Giải pháp thứ nhất: huy động vốn và sử dụng vốn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status