1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------------
NGUYỄN XUÂN QUANG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA GÀ LAI F1
(TRỐNG ĐÔNG TẢO × MÁI LƯƠNG PHƯỢNG)
NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60-62-40
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn: TS. Trần Trang Nhung
PGS. TS. Hoàng Toàn Thắng
THÁI NGUYÊN - 2010
i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, tôi
đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu
trường Đại học Nông Lâm, khoa Sau đại học, tập thể các thầy cô giáo và các
em sinh viên khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 4
1.1. Cơ sở khoa học....................................................................................... 4
1.1.1. Cơ sở khoa học của di truyền các tính trạng.................................. 4
1.1.2. Cơ sở khoa học nghiên cứu khả năng sinh trưởng ......................... 7
1.1.3. Cơ sở khoa học nghiên cứu khả năng cho thịt và chất lượng thịt ... 15
1.1.4. Cơ sở khoa học nghiên cứu mức độ tiêu tốn thức ăn.................... 18
1.1.5. Sức sống và khả năng đề kháng bệnh tật...................................... 20
1.1.6. Cơ sở khoa học nghiên cứu về ưu thế lai...................................... 22
1.1.7. Cơ sở khoa học của nghiên cứu sự thích nghi của vật nuôi ......... 23
1.1.8. Đánh giá sức sản xuất của vật nuôi.............................................. 25
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước.......................................... 26
1.3. Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu ..................................................... 30
1.3.1. Giống gà Lương Phượng .............................................................. 30
1.3.2. Giống gà Đông Tảo....................................................................... 31
Chương II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU... 33
2.1. Đối tượng nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu.................................... 33
2.2. Thời gian nghiên cứu ........................................................................... 33
2.3. Nội dung nghiên cứu............................................................................ 33
2.4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 33
2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm ..................................................... 33
2.4.2. Phương pháp mổ khảo sát thân thịt .............................................. 37
2.4.3. Phương pháp phân tích chất lượng thịt gà thí nghiệm ................. 37
2.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi............................... 38
2.5.1. Tỷ lệ nuôi sống .............................................................................. 38
2.5.2. Các chỉ tiêu sinh trưởng................................................................ 38
2.5.3. Các chỉ tiêu về hiệu quả thức ăn................................................... 39
2.5.4. Chỉ số sản xuất (PN):.................................................................... 40
Bảng 1.2. Khả năng sản xuất của một số giống gà lai F1................................ 28
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn ăn của gà lông màu ...................................................... 34
Bảng 2.2. Giá trị dinh dưỡng của thức ăn nuôi gà thí nghiệm........................ 35
Bảng 2.3. Lịch sử dụng vacxin cho gà thí nghiệm.......................................... 36
Bảng 3.1. Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi (%).................. 44
Bảng 3.2. Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng tích luỹ (g/con)................. 46
Bảng 3.3: Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (g/con/tuần).................... 49
Bảng 3.4: Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%)................................ 51
Bảng 3.5. Khả năng tiêu thụ thức ăn (g/con/ngày) ......................................... 54
Bảng 3.6. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng (kg) ...................................... 56
Bảng 3.7. Mức độ tiêu tốn protein/kg tăng khối lượng (g/kg)....................... 58
Bảng 3.8. Tiêu tốn năng lượng/kg tăng khối lượng (Kcal)............................. 59
Bảng 3.9. Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm ................................................. 61
Bảng 3.10. Chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm .................................................. 62
Bảng 3.11. Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm .............................................. 64
Bảng 3.12. Kết quả phân tích thành phần hóa học của thịt............................. 65
Bảng 3.13. Sơ bộ hạch toán kinh tế ................................................................ 68
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Ảnh gà Lương Phượng và gà Đông Tảo ......................................... 32
Hình 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 33
Hình 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm ................................ 48
Hình 3.2. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm .............................. 51
Hình 3.3. Đồ thị sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm............................. 53
Hình 3.4. Biểu đồ chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm (PN) ............................. 61
Hình 3.5. Biểu đồ biểu diễn chỉ số kinh tế (EN)............................................. 63
TN
TT
TTTĂ
VCK
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
Thí nghiệm
Tuần tuổi
Tiêu tốn thức ăn
Vật chất khô
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi
trên thế giới và Việt Nam, cung cấp nguồn protein động vật dồi dào cho con
người. Gia cầm chiếm 20 - 25% tổng sản phẩm thịt trên thế giới, ở các nước
phát triển tỷ lệ thịt gia cầm chiếm 30% hoặc hơn nữa. Mức sản xuất và tiêu
thụ thịt và trứng gia cầm không ngừng tăng qua các năm.
Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm có tốc độ sinh trưởng
nhanh và bền vững với giá trị sản xuất lớn. Ngành chăn nuôi đạt 9.059,8 tỷ
đồng năm 1986 và tăng lên 21.199,7 tỷ đồng năm 2002 chiếm 17,8 - 21,2%
giá trị sản xuất nông nghiệp, năm 2009 đạt 110.311,6 tỷ đồng đạt 26,9%.
Chăn nuôi gia cầm có giá trị sản xuất 1.701 tỷ đồng năm 1986 tăng lên
3.712,8 tỷ đồng năm 2002, chiếm 18 - 19% trong chăn nuôi.
Tổng đàn gia cầm năm 1986 có 99,9 triệu con, đến 2003 có 254 triệu
con (gà 185 triệu con) tốc độ tăng bình quân 7,85%/năm. Từ 1990 đến 2003
tổng đàn gia cầm tăng từ 80,18 triệu con lên 185 triệu con. Năm 2009 tổng
đàn gia cầm đạt 280,18 triệu con (Phùng Quang Tiến, Hoàng Văn Lộc,
Nguyễn Quý Khiêm, 2010)[55].
Ngành chăn nuôi gia cầm hiện nay ở nước ta đang phát triển mạnh theo
2 hướng chăn nuôi chính:
+ Chăn nuôi công nghiệp: Sử dụng các giống chuyên dụng cao sản,
nuôi thâm canh nhằm tạo ra sản lượng thịt, trứng cao nhất, chăn nuôi hiệu quả
vẫn chủ yếu duy trì chăn nuôi gà thịt ở quy mô nhỏ và vừa. Một số công thức
lai tạo đã được nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn đạt hiệu quả cao:
Trống Ri x mái Lương Phượng (Nguyễn Huy Đạt, 2005)[7]; lai giữa gà Ri với gà
Ai Cập; (Nguyễn Huy Đạt, 2006)[5]; trống Ri x mái Lương Phượng và trống
Lương Phượng x mái Ri (Phùng Hữu Trung, 2004)[44], Các giống gà lai trên
hầu hết đã được người chăn nuôi tiếp nhận và khai thác.
Vừa qua Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi - Viện Chăn nuôi
- đưa vào nghiên cứu cặp lai giữa gà bố Đông Tảo và gà mẹ Lương Phượng, các
kết quả khảo sát ban đầu cho thấy đây là cặp lai có triển vọng tốt. Việc thử nghiệm
cặp lai này trong các điều kiện sinh thái khác nhau cũng như các phương thức
chăn nuôi khác nhau là cần thiết để kết luận về giá trị của nó.
Từ những nhu cầu thực tế trên chúng tôi tiến hành xây dựng đề tài
“Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của gà lai F1
(trống Đông Tảo × mái Lương Phượng) nuôi tại Thái Nguyên”.
3
2. Mục đích của đề tài:
+ Nghiên cứu đánh giá khả năng sản xuất và hiệu quả kinh tế của gà lai
F1 (trống Đông Tảo x mái Lương Phượng) nuôi thịt qua 2 phương thức nuôi
bán chăn thả và nuôi nhốt tại các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
+ Đề tài được thực hiện là cơ sở thực tiễn bổ xung cho quy trình chăn
nuôi gà lai F1 (trống Đông Tảo x mái Lương Phượng) theo phương thức bán
chăn thả và nuôi nhốt trong nông hộ tại tỉnh Thái Nguyên, đồng thời là tài liệu
tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm đánh giá những công thức lai
mới trong nghiên cứu và sản xuất.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
*Ý nghĩa hoa học:
Đây là hình thức lai giữa giống gà nội có xu hướng thịt (gà Đông Tảo)
với giống gà Lương Phượng là giống nhập nội đã thích nghi với điều kiện
Nghiên cứu của các nhà khoa học đã cho thấy quy luật di truyền của
Menden không chỉ đúng với giới thực vật mà còn đúng với cả giới động vật,
việc nghiên cứu và ứng dụng các quy luật di truyền trong chọn tạo giống đã
tạo ra nhiều giống vật nuôi mới, phương thức chăn nuôi mới có ý nghĩa rất
lớn trong nghiên cứu và sản xuất, không ngừng nâng cao sức sản xuất của gia
cầm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người.
1.1.1.1. Sự di truyền các tính trạng số lượng
Di truyền là quá trình chuyển những tính trạng của cha mẹ cho con cái.
Theo các tác giả Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1998)[30] thì
phần lớn các tính trạng kinh tế của vật nuôi đều là các tính trạng số lượng, sự
thay đổi các tính trạng đó trong quá trình tiến hoá của sinh vật cũng phần lớn
là sự thay đổi của các tính trạng số lượng. Khi nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng tới sự di truyền các tính trạng số lượng và biến dị của chúng các tác giả
đã kết luận: Kiểu hình của một cá thể hình thành liên quan đến nhiều yếu tố,
chúng liên quan mật thiết với nhau và được biểu thị bằng công thức sau:
P = A + D + I + Eg + Es
Trong đó:
P : Giá trị kiểu hình (Phenotyp Value)
5
A : Giá trị cộng gộp (Additive Value)
D : Giá trị sai lệch trội (Dominance Value)
I : Sai lệch tương tác hay sai lệch át gen (Epistatic deviation)
Eg : Sai lệch môi trường chung (General enviromental diviation)
Es : Sai lệch môi trường riêng (Special enviromental diviation)
Từ công thức này ta thấy năng suất của giống vật nuôi sẽ được thể hiện
ở đời sau phụ thuộc rất lớn vào yếu tố di truyền hay kiểu gen (G = A + D + I)
và điều kiện ngoại cảnh tác động, đó là các giá trị kiểu hình của bố và mẹ
được di truyền lại cho con cái. Nghiên cứu các tính trạng di truyền mong
được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi gia cầm như việc chọn tạo ra các
giống gà có thể phân biệt được giới tính ở 01 ngày tuổi qua sự phân ly của
màu sắc lông khi cho lai các dòng gà khác nhau. Một số trường hợp lai
khác cho kết quả di truyền tính trạng mọc lông ở gà con liên kết với giới
tính, qua đó có thể phân biệt được giới tính thông qua quan sát tốc độ mọc
lông ở gia cầm trong thời gian rất sớm.
Nghiên cứu sự di truyền các tính trạng liên kết với giới tính có ý nghĩa
rất lớn trong thực tiễn, giúp cho người chăn nuôi định hướng sản xuất, giảm
chi phí đầu tư, chủ động trong xây dựng kế hoạch chăn nuôi, nâng cao hiệu
quả kinh tế.
1.1.1.4. Sự di truyền màu sắc lông
Màu sắc lông của gia cầm mang tính di truyền cao, màu sắc của bộ
lông gia cầm có thể chia thành 2 nhóm: lông có màu và lông trắng. Bộ lông
màu là một tính trạng được thể hiện bởi ký hiệu C (Colour), bộ lông đen là
chủ yếu ở gia cầm được thể hiện bằng gen E (Entarsion). Điều khiển màu của
các vằn trên lông là alen B. Màu đen của lông cũng như các màu khác được
quy định bởi các sắc tố melanin và xantophin (ở gia súc chỉ có melanin),
xantophin chỉ nằm trên da. Những con có màu sắc vàng ở da, mỏ, chân đều
có đồng hợp thể theo gen W - gen điều khiển sự phân bố xantophin. Màu
vàng sáng được quy định bởi alen lặn s; màu sắc bạc do gen trội S (Nguyễn
Đức Hưng, Nguyễn Minh Hoàn, Lê Đình Phùng, 2006)[11].
7
1.1.2. Cơ sở khoa học nghiên cứu khả năng sinh trưởng
1.1.2.1. Khả năng sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa,
là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn
bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước. Qua đó ta có
Cơ sở của quá trình sinh trưởng gồm hai quá trình chính: tế bào sinh
sản và phát triển, trong đó phần lớn là do sự phát triển của tế bào, vì nếu chỉ
có sinh sản mà các tế bào con không lớn dần lên, không tăng dần khối lượng
thì không thể tăng khối lượng của toàn cơ thể. (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim
Đường, 1992)[23].
Qua nghiên cứu Davenport (1899) khẳng định: Sự sinh trưởng của cơ
thể là tăng thể tích, đây không phải là phát triển và phát dục. Ðây cũng không
phải là tăng khối lượng, mặc dù tăng khối lượng là một đặc trưng của sinh
trưởng. Sinh trưởng tức là tăng các chiều do hình thành các chất mới qua sự
tổng hợp của plasma - tức là nguồn nguyên liệu của đồng hóa - hoặc sự sinh
trưởng cũng có thể thực hiện được qua sự hấp thu. Sự tăng lên này có thể nhất
thời hoặc cũng có thể mãi mãi. (Theo Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Minh
Hoàn, Lê Đình Phùng, 2006)[11]
Như vậy, có thể khẳng định về mặt sinh học sự sinh trưởng được xem
như là một sự gia tăng tổng hợp protein, vì vậy khi nghiên cứu về chỉ tiêu sinh
trưởng các nhà khoa học thường tìm hiểu việc tăng khối lượng, lấy khối lượng
làm chỉ tiêu nghiên cứu. Tăng trưởng thực sự là các tế bào mô cơ có tăng
thêm khối lượng, số lượng và kích thước các chiều.
1.1.2.2. Quy luật sinh trưởng theo giai đoạn
Sinh trưởng là sự lớn lên của cơ thể sinh vật, đây là quá trình sinh lý
hết sức phức tạp và diễn biến theo một quy luật nhất định. Quá trình này
không diễn ra đồng đều và liên tục qua các giai đoạn mà có sự tăng lên và
giảm đi theo các giai đoạn của quá trình sống của cơ thể sinh vật.
Các tác giả Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Minh Hoàn, Lê Đình Phùng,
(2006)[11] trích kết quả các công trình nghiên cứu cho thấy rằng sự sinh
9
trưởng phát triển của gia súc tuân theo một quy luật với từng giai đoạn nhanh
chậm khác nhau:
Yếu tố di truyền có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của
sinh vật nói chung, các dòng trong một giống, các giống khác nhau có khả
năng sinh trưởng khác nhau. Trong chăn nuôi gia cầm, các dòng gà khác nhau
khả năng sản xuất và cho thịt không giống nhau, các giống gà chuyên thịt có
tốc độ sinh trưởng nhanh hơn các giống gà chuyên trứng và kiêm dụng.
Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994)[10], cho biết: sự khác nhau về
khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà
hướng trứng khoảng 500 - 700g.
Trần Long (1994)[22], đã nghiên cứu tốc độ sinh trưởng trên 3 dòng
thuần (dòng V1, V3, V5) của giống gà Hybro HV85 cho thấy tốc độ sinh
trưởng 3 dòng hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi.
Theo Nguyễn Thị Khanh, Trần Công Xuân và cộng sự (2000)[16],
nghiên cứu sinh trưởng trên dòng gà kiêm dụng 882 của giống gà Tam Hoàng
cho thấy cơ thể đạt 1.557,83g/con ở 12 tuần tuổi.
Theo Phùng Đức Tiến (1996)[35], đối với gà Hybro HV85 ở 56 ngày
tuổi khối lượng cơ thể đạt 1.915,38g/con.
Tác giả Nguyễn Đăng Vang và đồng sự (2001)[50] nghiên cứu ở một
số công thức lai cho kết quả:
- Dùng trống gà Mía lai với gà mái Kabir tạo con lai F1 MK lúc 12 tuần
tuổi đạt khối lượng cơ thể 1.820g, tỷ lệ nuôi sống 90%, tiêu tốn thức ăn để sản
xuất 1kg thịt từ 2,82 - 3,0kg. Nuôi ở cả 2 phương thức nuôi bán chăn thả và
chăn thả đều có hiệu quả.
- Dùng trống gà Kabir lai với mái Ri, gà lai F1 nuôi đến 12 tuần tuổi đạt
1.720g/con, tỷ lệ nuôi sống 92% và tiêu tốn 3,17kg thức ăn để sản xuất 1kg thịt.
- Dùng gà trống Kabir lai với gà mái Tam Hoàng và ngược lại dùng gà
trống Tam Hoàng lai với mái Kabir cũng cho kết quả rất tốt, con lai F1 đạt
khối lượng cơ thể lúc 12 tuần tuổi là 2.200 - 2.399g. Dùng gà Kabir lai với
11
Trần Đình Miên (1994)[24] cho biết lúc gà mới nở gà trống có khối
lượng nặng hơn gà mái 1%, sự sai khác này tăng dần theo lứa tuổi, ở tuần tuổi
thứ 8 khối lượng gà trống cao hơn gà mái là 27%.
Theo North và cộng sự (1990), lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái
1%, tuổi càng tăng sự khác nhau chênh lệch càng lớn: ở 2; 3 và 8 tuần tuổi sự
khác nhau tương ứng là 5%, 11% và 27%.
Tốc độ sinh trưởng của gà còn phụ thuộc vào tốc độ mọc lông. Các kết
quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã xác định, trong cùng một giống,
cùng tính biệt thì gà có tốc độ mọc lông nhanh có tốc độ sinh trưởng và phát
triển cao hơn. Kushner K.F. (1974), cho rằng tốc độ mọc lông có quan hệ chặt
chẽ với tốc độ sinh trưởng. Thông thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và
đều hơn ở gà chậm lớn. Hayer và cộng sự (1970), đã xác định trong cùng một
giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng
của hormon có quan hệ ngược chiều với gen liên kết giới tính quy định tốc độ
mọc lông. Siegel và Dumington (1978), cho rằng những alen quy định mọc
lông nhanh phù hợp với alen quy định tăng trọng cao. (Nguyễn Đức Hưng,
Nguyễn Minh Hoàn, Lê Đình Phùng, 2006)[11].
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính biệt đối với khả năng sinh trưởng và
cho thịt của gà broiler có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Ở các nước công nghiệp,
người ta nuôi gà broiler tách riêng trống, mái. Việc này, làm tăng độ đồng đều
trong đàn và thuận lợi cho việc giết mổ tự động. Nuôi tách riêng trống, mái sẽ
đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, tăng khối lượng nhanh, tăng hiệu quả sử dụng
thức ăn, làm cho gà trống không lấn át gà mái, giảm gà bị trầy xước.
Hoàng Toàn Thắng (1996)[38] từ thực tế nghiên cứu tốc độ sinh trưởng
của gia cầm theo tính biệt đã đưa ra khuyến cáo người chăn nuôi để đạt năng
suất cao cần nuôi tách riêng trống mái.
*Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Dinh dưỡng là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất tới tốc độ sinh trưởng của
gà. Các chất dinh dưỡng có trong thức ăn gồm nhiều thành phần, mỗi thành
14
Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993)[20], nhiệt độ cao làm cho khả
năng ăn và thu nhận thức ăn giảm dẫn đến tăng trọng kém. Giai đoạn gà con
cần nhiệt độ 30 – 350C, nếu nhiệt độ thấp hơn gà ăn kém, chậm lớn, tỷ lệ chết
cao. Sau 5 tuần tuổi nhiệt độ tiêu chuẩn chuồng nuôi từ 18 - 200C sẽ giúp gà ăn
khoẻ, lớn nhanh.
Lewis và cộng sự (1992)[11], cho biết ảnh hưởng của thời gian chiếu
sáng trong ngày tác động đến các giống khác nhau thì khác nhau, trong giai
đoạn sinh trưởng khác nhau thì ảnh hưởng bởi thời gian chiếu sáng cũng khác
nhau, đặc biệt vào các tuần tuổi 9, 12, 15, nếu tăng độ chiếu sáng sẽ làm gà
phát dục sớm.
*Ảnh hưởng của độ tuổi
Quá trình sinh trưởng, phát dục của gà từ khi mới nở đến khi già và
chết chịu sự chi phối của quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn; quy
luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều.
Bozko P.E. (1973)[11], dẫn tài liệu của Krullo B.C. cho thấy, trong độ
tuổi từ mới nở đến 60 ngày, quá trình sinh trưởng của gà chia làm 3 giai đoạn:
- Từ mới nở đến 10 ngày: gà con chưa điều tiết được thân nhiệt, cơ
xương mềm yếu, gà ít vận động, ngủ nhiều, khả năng phản ứng với đều kiện
ngoại cảnh kém, gà có tốc độ sinh trưởng nhanh. Giai đoạn này chưa có sự
khác nhau về sinh trưởng giữa con trống và con mái.
- Từ 11 đến 30 ngày: gà có tốc độ sinh trưởng rất nhanh và có sự khác
biệt rõ rệt giữa con trống và con mái, màu sắc lông và các đặc điểm thứ cấp.
Gà chuyển hoá thức ăn tốt, cơ quan điều tiết thân nhiệt đã hoàn thiện.
- Từ 31 đến 60 ngày: khối lượng của gà tăng nhanh gấp nhiều lần so
với lúc mới nở, các phản xạ về thức ăn, nước uống, điều kiện chăm sóc, nuôi
dưỡng đã được củng cố bền vững.
Đào Văn Khanh (2001)[17], nghiên cứu trên gà trống Lương Phượng
nuôi gia cầm, khả năng cho thịt phụ thuộc rất nhiều vào dòng, giống. Năng
suất cho thịt của các dòng, giống khác nhau thì khác nhau đồng thời chất
lượng thịt cũng khác nhau, điều này liên quan chặt chẽ với yếu tố di truyền.
Các chỉ tiêu khác cũng mang tính chất đặc trưng cho dòng, giống: Tỷ lệ thịt
16
xẻ, tỷ lệ thịt đùi, lườn, cánh, xương, mỡ bụng, lông, da, …. Quan điểm này đã
được Đào Văn Khanh (2001)[17], nghiên cứu và khẳng định.
Theo tác giả Ngô Giản Luyện (1994)[21], cho rằng: trong cùng dòng,
năng suất, chất lượng và tỷ lệ các phần thân thịt cũng khác nhau giữa trống
và mái.
Theo Chambers (1990)[62], giữa các dòng luôn có sự khác nhau về di
truyền năng suất thịt xẻ, tỷ lệ các phần như thịt đùi, thịt ngực, cánh, chân hay
phần thịt ăn được (không xương) và từng phần thịt, xương, da.
Ngô Giản Luyện (1994)[21], khi khảo sát năng suất thịt của 3 dòng V1,
V3, V5 giống gà Hybro HV85 cho thấy giữa các dòng có sự sai khác nhau rõ
rệt. Trong cùng một dòng thì tính biệt cũng có sự khác nhau: tỷ lệ thân thịt gà
trống cao hơn gà mái và tỷ lệ thịt ngực của gà mái cao hơn gà trống.
Nguyễn Văn Thiện, Hoàng Phanh (1999)[35], nghiên cứu khả năng
sinh trưởng và sinh sản của gà Mía cho biết, nhìn chung tỷ lệ thân thịt, thịt
đùi, thịt lườn ở gà Mía cao hơn ở gà Ri.
Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc, Nguyễn Đăng Vang, Nguyễn Thị
Khanh, Nguyễn Quốc Đạt (1998)[59] Nghiên cứu khả năng cho thịt của gà
Tam Hoàng Jiangcun cho kết quả mổ khảo sát ở giai đoạn 15 tuần tuổi đạt tỷ
lệ thân thịt 67,97%, tỷ lệ thịt ức/thân thịt đạt 20,61%, tỷ lệ thịt đùi/thân thịt
24,22%. Tỷ lệ nước ở thịt ức là 73,33% thấp hơn thịt gà công nghiệp 1%, tỷ lệ
protein thịt ức đạt 24,06 - 24,57% cao hơn thịt gà công nghiệp 1% và tương
đương với gà Ri.
Nghiên cứu khả năng cho thịt của con lai giữa gà Kabir với gà
(-0,39) và tương quan dương với phần trăm protein (0,53) với độ ẩm (0,32) và
khoáng tổng số (0,14).
Theo Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc và cộng sự (1999)[59], tính
biệt cũng quy định chất lượng thịt. Thịt gà Tam Hoàng 882 nuôi đến 13 tuần
tuổi, ở con trống thịt ngực có tỷ lệ protein 24,13%; mỡ 0,38% và khoáng tổng
số 1,26%, thịt đùi có tỷ lệ protein 20,07%; mỡ 1,37% và khoáng tổng số
1,08%. Đối với con mái thịt ngực có các giá trị tương ứng là 24,72%; 0,306%
và 1,31%, thịt đùi có các giá trị tương ứng là 20,91%; 1,673% và 1,26%.