Các trường hợp bất khả kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ KIỀU TRANG

C¸C TR¦êNG HîP BÊT KH¶ KH¸NG
TRONG HîP §åNG MUA B¸N HµNG HãA QUèC TÕ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ KIỀU TRANG

C¸C TR¦êNG HîP BÊT KH¶ KH¸NG
TRONG HîP §åNG MUA B¸N HµNG HãA QUèC TÕ
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. LÊ VĂN BÍNH

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

1.1.4. Nội dung Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ................................. 22
1.1.5. Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.............. 24
1.2.

Bất khả kháng và trường hợp bất khả kháng trong hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế ............................................................... 31

1.2.1. Khái niệm về bất khả kháng và trường hợp bất khả kháng trong
hợp đồng.............................................................................................. 31
1.2.2. Đặc điểm của bất khả kháng ............................................................... 35
1.2.3. Quy định của pháp luật về trường hợp bất khả kháng ........................ 36
1.2.4. Thủ tục thông báo khi xảy ra tình huống bất khả kháng .................... 43
1.2.5. Hậu quả của tình huống bất khả kháng ............................................... 44
1.2.6. Bất khả kháng – căn cứ miễn trách nhiệm của vi phạm hợp đồng .......... 47
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 52


Chương 2: MỘT SỐ TÌNH HUỐNG THỰC TẾ VỀ TRƯỜNG HỢP
BẤT KHẢ KHÁNG VÀ CÁC KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT, XÂY DỰNG ĐIỀU KHOẢN BẤT KHẢ
KHÁNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ .......................................................................................... 54
2.1.

Một số tình huống thực tế về trường hợp bất khả kháng trong
HĐMBHHQT .................................................................................... 54

2.1.1. Một số ví dụ về thực hiện tình huống bất khả kháng trong Hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế trên thế giới ..................................... 54
2.1.2. Một số ví dụ về thực hiện tình huống bất khả kháng trong Hợp

nước, Việt Nam đã thực sự hội nhập vào cộng đồng quốc tế ngày càng sâu sắc
và toàn diện.Việt Nam đã là thành viên khối ASEAN, đã gia nhập WTO, đã
ký kết nhiều các điều ước, hiệp định công ước quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Do
vậy, pháp luật về kinh tế và thương mại quốc tế đã và đang thực sự là một
công cụ hữu hiệu để các cá nhân, tổ chức cũng như các cơ quan Nhà nước có
điều kiện thực thi một cách có hiệu quả chủ trương đường lối đó.
Những thực thành tựu kinh tế của đất nước trong những năm vừa qua
đã có một phần đóng góp không nhỏ của kinh tế đối ngoại nói chung và mua
bán hàng hóa quốc tế, xuất nhập khẩu nói riêng. Tuy vậy, thực trạng pháp luật
Việt Nam hiện hành về các quy định thương mại, kinh tế nói chung và quy
định liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng vẫn còn nhiều bất

1


cập, hạn chế cần khắc phục. Đôi khi hoạt động này còn bị cản trở và hạn chế
bởi chính các quy định pháp luật chưa rõ ràng, đưa đảm bảo quyền lợi cho các
bên tham gia, nhất là cho doanh nghiệp trong nước.
Việc giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau cả về khách
quan và chủ quan. Một trong những yếu tố đó là: các chủ thể tham gia ký
kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam chủ yếu là những
doanh nghiệp còn non trẻ, khả năng cạnh tranh còn yếu kém, kinh nghiệm
trong mua bán hàng hóa quốc tế chưa nhiều, thiếu hiểu biết về pháp luật
cũng như tập quán thương mại quốc tế; việc vận dụng pháp luật còn non
kém trong khi phải đối mặt với các doanh nghiệp nước ngoài có bề dày về
kinh nghiệp và sắc sảo trong đàm phán ký kết hợp đồng.Vì vậy, thường các
doanh nghiệp Việt Nam bị yếu thế hơn trong mối quan hệ hợp đồng, từ đó
dẫn đến những rủi ro không đáng có.
Bên cạnh đó, các văn bản điều chỉnh mối quan hệ mua bán hàng hóa

cứ miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ trong Hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế” của tác giả Đặng Bá Kỹ chỉ bàn đề bất khả kháng trên khía cạnh đây
là trường hợp được coi là miễn trách nhiệm đối với việc vi phạm nghĩa vụ của
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Hay như bài viết“Sự kiện bất khả kháng
và một vài lưu ý trong thực tiễn áp dụng” của Luật sư Đỗ Minh Tuấn cũng
chỉ nêu được nhưng khái quát chung về bất khả kháng và rút ra lưu ý trong
thực tiễn áp dụng, cũng chưa có kiến nghị đối với việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật liên quan.
Do vậy, việc nghiên cứu về trường hợp bất khả kháng trong hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế lại càng trở nên cấp thiết, từ đó đưa ra các giải
pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu luận văn
Làm sáng tỏ một cách có hệ thống về các trường hợp bất khả kháng
3


trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đặc biệt khái niệm, hậu quả, các
quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như hệ thống pháp luật quốc
tế về trường hợp bất khả kháng. Đồng thời, luận văn cũng đề cập đến các ví
dụ thực tiễn xảy ra trên thế giới cũng như tại Việt Nam về trường hợp bất khả
kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, từ đó đưa ra bình luận và
rút kinh nghiệm. Cuối cùng luận văn thể hiện quan điểm và đề xuất các kiến
nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bất khả kháng trong
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
Với mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm và nội dụng của hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế.
Thứ hai, làm sáng tỏ khái niệm và đặc điểm đặc trưng, hậu quả,

tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về pháp luật.
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luân văn đặc biệt coi trọng các phương pháp hệ thống,
lịch sử, logic, tổng hợp, phân tích, diễn giải, quy nạp, so sánh pháp luật.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Thứ nhất, làm sáng tỏ mặt lý luận các khái niệm, đặc điểm, nội dung,
hình thức, hậu quả của trường hợp bất khả kháng trong hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế.
Thứ hai, phân tích, so sánh các quy định về bất khả kháng trong hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam với các quy định
tương ứng trong Công ước Viên 1980 và pháp luật một số nước trên thế giới,
sau đó đưa ra các quan điểm và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về
mua bán hàng hóa quốc tế.
Thứ ba, nêu ra những điểm bất cập, chưa hợp lý của Luật Thương mại
2005 về bất khả kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
5


Thứ tư, đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
trường hợp bất khả kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những phân tích, đánh giá và kiến nghị trong luận văn có ý nghĩa thiết
thực về lý luận và thực tiễn trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, góp
phần làm cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bất khả
kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Luận văn còn giúp cho các
doanh nghiệp Việt Nam hiểu rõ và vận dụng đúng trường hợp bất khả kháng
trong thực tiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên
cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung.
7. Bố cục của luận văn

nghiên cứu và tham khảo của các khái niệm quen dùng.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một loại hợp đồng phổ biến
trong thương mại quốc tế hiện nay, và được quy định không chỉ trong các văn
kiện quốc tế mà cả những văn bản pháp luật quốc gia. Về cơ bản, hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế có thể được hiểu là một dạng cụ thể của hợp đồng
mua bán hàng hóa nói chung, hay nó chính là dự thỏa thuận giữa các bên,
theo đó bên có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên
mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bê bán với đặc trưng riêng biệt
mang tính chất quốc tế (có yếu tố nước ngoài). Để xác định được loại hợp
đồng này, các văn kiện quốc tế cũng như pháp luật các quốc gia đều dựa vào
việc xác định yếu tố đặc trưng này. Tuy nhiên, việc xác định thế nào là yếu tố
nước ngoài không giống nhau theo quan điểm của luật pháp từng quốc gia và
7


các văn kiện quốc tế khác nhau cũng có các quy định khác nhau.
Theo Công ước Lahaye 1964 về mua bán quốc tế các động sản hữu hình,
thì “hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là những hợp đồng mua bán hàng hóa
được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau và
hàng hóa được chuyển từ nước ngoài bán sang nước người mua, hoặc việc ký
kết hợp đồng được diễn ra ở các nước khác nhau” [11, tr.100-101].
Theo Công ước này chúng ta thấy có ba tiêu chí để phân biệt hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế, đó là: thứ nhất - trụ sở thương mại của các bên
đóng ở các nước khác nhau; thứ hai - hàng hóa được vận chuyển từ nước
người bán sang nước người mua; thứ ba - hoặc việc ký kết hợp đồng được
diễn ra ở các nước khác nhau.
Thuật ngữ “hoặc” trong tiêu chí thứ ba được hiểu với nghĩa không bắt
buộc, tức là việc ký hợp đồng có thể diễn ra ở mọi địa điểm: có thể là ở nước
người bán, nước người mua hay ở một nước thứ ba do hai bên lựa chọn. Như
vậy, theo Công ước Lahaye, tiêu chí quan trọng nhất để xác định hợp đồng

Trên thực tế, hầu hết các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được ký
kết giữa các bên có trụ sở đóng ở các nước khác nhau, đồng thời có quốc tịch
khác nhau, hàng hóa được chuyển từ nước người bán sang nước người mua
hoặc sang nước thức ba. Có một số lượng nhỏ hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế được ký kết giữa các bên có cùng quốc tịch, nhưng có trụ sở thương
mại đóng ở các nước khác nhau và hàng hóa được chuyển qua khỏi biên giới
nước người bán. Ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hóa giữa thương nhân người
Anh đóng trụ sở tại Anh với chi nhánh của thương nhân người Anh đóng trụ
sở tại Hồng Kông, hàng hóa được chuyển từ Hồng Kông về Anh.
Khác với Công ước Lahaye năm 1864, Công ước viên năm 1980 không
đưa ra tiêu chí hàng hóa phải được chuyển qua biên giới của một nước để xác
định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
9


Theo quan điểm của Pháp, khi xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế người ta căn cứ vào hai tiêu chuẩn kinh tế và pháp
lý. Theo các tiêu chuẩn kinh tế, một hợp đồng quốc tế là hợp đồng tạp nên sự
di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước, nói
cách khác, hợp đồng đó thể hiện quyền lợi của thương mại quốc tế. Theo tiêu
chuẩn pháp lý, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế nếu nó bị chi phối
bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi cư trú của
các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán.
Theo quan điểm của luật Việt Nam, Luật Thương mại 2005 không đưa
ra tiêu chí để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế mà liệt kê những hoạt động được coi là mua bán hàng hóa quốc tế. Điều 27
nêu rõ: mua bán quốc tế thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu,
tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu. Sau khi liệt kê như vậy
Luật Thương mại 2005 đã xác định rõ thế nào là xuất khẩu, nhập khẩu, tạm
nhập tái xuất, như sau:

đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho dù bất động sản được bán cho người
nước ngoài. Mua bán bất động sản với người nước ngoài phải theo một cơ chế
pháp lý riêng.
Như vậy, từ việc tham khảo các khái niệm của văn bản quốc tế, cũng
như quy định của pháp luật Việt Nam, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả
đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như sau:
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thống nhất về ý chí giữa các
bên trong quan hệ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài mà thông qua đó,
thiếp lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ
thể đó với nhau. Yếu tố nước ngoài trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
được biểu hiện:
Một là, các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
là các thương nhân có quốc tịch khác nhau và có trụ sở thương mại ở các
11


nước khác nhau;
Hai là, hàng hóa – đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển qua biên
giới quốc gia hoặc giai đoạn chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được
thiết lập ở các nước khác nhau;
Ba là, nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh
từ việc chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ người bán sang người mua ở
các nước khác nhau;
Bốn là, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
là ngoại tệ đối với ít nhất một bên trong quan hệ hợp đồng;
Năm là, luật điều chỉnh hợp đồng là luật quốc gia, điều ước quốc tế và
các tập quán quốc tế khác về thương mại và hàng hải.
1.1.2. Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.2.1. Đặc điểm chung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trước hết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có đầy đủ những đặc

và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán.
1.1.2.2. Đặc điểm đặc trưng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Ngoài những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn có đặc điểm riêng mang tính đặc trưng.
Tính đặc trưng đó là căn cứ để xem xét, phân biệt với hợp đồng mua bán hàng
hóa trong nước. Đặc điểm mang tính đặc trưng đó là về chủ thể của hợp đồng.
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các bên có trụ sở
thương mại đóng ở các nước khác nhau. Điều đó có nghĩa, bên bán, bên mua
phải có trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau chứ không phải đóng
trong phạm vi một nước. Nếu bên mua và bên bán đều đóng trụ sở thương
mại ở cùng một nước mà ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với nhau thì đó
là hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước. Nhìn chung các doanh nghiệp
đóng trụ sở thương mại ở nước nào thì mang quốc tịch (là thương nhân) của
nước đó, chỉ có một ít doanh nghiệp đóng trụ sở một nước nhưng lại mang
13


quốc tịch nước khác (là thương nhân nước khác).
Chẳng hạn, đa số doanh nghiệp đóng trụ sở thương mại ở Pháp đều
mang quốc tịch Pháp, còn số ít doanh nghiệp đóng trụ sở thương mại Pháp
nhưng mang quốc tịch nước ngoài. Hay ở Việt Nam hiện nay phần lớn các
doanh nghiệp đóng trụ sở thương mại ở Việt Nam mang quốc tịch Việt Nam,
chỉ một số ít mang quốc tịch nước ngoài. Vì vậy, trong phần lớn hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế chủ thể là các bên có quốc tịch khác nhau.
Đương nhiên không loại trừ trường hợp bên mua và bên bán có cùng
quốc tịch nhưng đó vẫn là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Ví dụ, một
thương nhân Anh đón trụ sở thương mại tại Anh, mua hàng của một thương
nhân Anh đóng trụ sở thương mại tại Singapore, hàng hóa được chuyển từ
Singapore về Anh. Hay một ví dụ khác, một doanh nghiệp Hàn Quốc đóng trụ
sở thương mại tại Việt Nam, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, bán hàng

châu Câu sử dụng đồng euro làm đồng tiền chung.
c) Về ngôn ngữ của hợp đồng
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường được ký kết bằng tiếng
nước ngoài đối với một trong hai bên hoặc cả hai bên, trong đó phần lớn là ký
bằng Tiếng Anh, điều này đòi hỏi các bên phải giỏi ngoại ngữ.
d) Về cơ quan giải quyết tranh chấp
Tranh chấp phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế có thể do tòa án hoặc trọng tài nước ngoài, tùy theo sự thỏa
thuận của chủ thể.
e) Về luật áp dụng hợp đồng
Luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang tính chất
đa dạng và phức tạp. Điều này có nghĩa là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế có thể phải chịu sự điều chỉnh không phải chỉ của luật pháp nước đó mà cả
của luật nước ngoài (luật nước ngoài bán, luật nước ngoài mua, hoặc luật của
bất kỳ một nước thứ ba nào), thậm chí phải chịu sự điều chỉnh của điều ước
15


quốc tế, tập quán thương mại quốc tế hoặc cả án lệ để điều chỉnh hợp đồng.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dù được giao kết hoàn chỉnh, chi
tiết đến đâu, bản thân nó cũng không thể dự kiến, chứa đựng tất cả những vấn
đề, nhưng tình huống có thể phát sinh trong thực tế. Do đó, cần phải bổ sung
cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế một cơ sở pháp lý cụ thể bằng cách
lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng đó. Vì hợp đồng mua bán có tính chất
quốc tế nên luật điều chỉnh hợp đồng này sẽ là luật nước ngoài của một trong
hai bên hoặc cả hai bên. Nếu luật áp dụng là luật nước người mua thì luật này
là luật nước ngoài đối với người bán. Người bán phải có sự hiểu biết về nó,
trong đó ít ra người bán phải hiểu rõ được luật này có bảo vệ quyền lợi cho
người bán hay không. Và ngược lại, đối với người mua cũng vậy.
Như vậy, không chỉ người bán và người mua cần có sự hiểu biết để lựa

pháp luật do các bên lựa chọn. Trong trường hợp các bên không lựa chọn
được pháp luật để giải quyết vụ tranh chấp thì Hội đồng Trọng tài quyết định.
Như vậy, Trọng tài thương mại Việt Nam sẽ có quyền chọn luật áp
dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phát sinh tranh chấp nếu các
bên không thể thỏa thuận được luật áp dụng.
Khi hợp đồng mẫu quy định:
Trong rất nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, để tiết kiệm thời
gian, các bên thường chỉ quy định những nội dung cơ bản liên quan đến đối
tượng mua bán và giá cả. Những nội dung còn lại các bên thường dẫn chiếu
đến hợp đồng mẫu. Hợp đồng mẫu thường được các tập đoàn, công ty buôn
bán lớn soạn thảo. Ví dụ, Hợp đồng mẫu của ITC về mua bán hàng hóa dễ
hỏng (The ITC Model Contract for the International Sale of Perishable
Goods) [10], Hợp đồng mẫu của ICC về hàng hóa được sản xuất để bán lại
(The ICC Model Internatinal Sale Contract on Manufactured Goods Intended
for Resale) [7] v.v... Những hợp đồng mẫu này chỉ có giá trị khi được các bên
17


tham chiếu bằng cách chỉ rõ trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Trong
trường hợp này, hợp đồng mẫu sẽ có giá trị bắt buộc giữa các bên và nếu
trong hợp đồng mẫu có quy định điều khoản luật áp dụng thì đương nhiên luật
áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ là luật áp dụng trong hợp
đồng mẫu này.
Như vậy, luật quốc gia của một nước có thể tác động đến mối quan hệ
của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thông qua những cách
thức nêu trên. Mà những cách thức này đôi khi không được các bên chú ý.
Điều này cho thấy, để bảo vệ tốt quyền lợi của mình khi giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu kỹ về
đặc điểm và các lưu ý của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Thứ hai, lựa chọn tập quán quốc tế về thương mại:

văn bản của các Phòng Thương mại, các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài.
Khi áp dụng tập quán thương mại quốc tế, cần phải tiến hành phân loại
tập quán quốc tế. Nếu có tập quán chung và tập quán riêng thì tập quán riêng
có giá trị trội hơn. Ví dụ, FOB Incoterms 2000 [8] là tập quán chung, FOB
cảng đến của Hoa Kỳ là tập quán riêng nên FOB của Hoa Kỳ sẽ được ưu tiên
áp dụng. Nếu có tập quán mặt hàng và tập quán ngành hàng thì tập quán mặt
hàng sẽ được ưu tiên áp dụng.
1.1.3. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng là vấn đề mà
các doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý [3]. Khi nói đến hình thức của hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế thường có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất:hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được ký
kết bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi hay bằng bất kỳ hình thức
nào khác do các bên tự thỏa thuận. Các nước theo quan điểm này hầu hết là
các nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Anh, Pháp, Mỹ.
19


Quan điểm thứ hai: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được ký
kết dưới hình thức văn bản. Nhưng nước nêu ra quan điểm này là một số nước
có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam. Điều 27 khoản 2 Luật Thương
mại Việt Nam 2005 quy định mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện
trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng các hình thức có giá trị pháp lý
tương đương. Các hình thức có giá trị pháp lý tương đương ở đây bao gồm
điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định
của pháp luật [21, Điều 3, Khoản 15].
Sự bất đồng này làm cho Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế phải lựa chọn sự dung hòa bằng cách đưa vào Công ước
những quy định theo hướng công nhận cả hai điều khoản liên quan đến hình
thức của hợp đồng. Điều 11 của Công ước quy định rằng: hợp đồng mua bán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status