khóa luận tốt nghiệp hủy hợp đồng trong trường hợp hàng hóa không phù hợp theo công ước viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Luật kinh doanh quốc tế

HỦY HỢP ĐỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP HÀNG HÓA
KHÔNG PHÙ HỢP THEO CÔNG ƯỚC VIÊN
NĂM 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ

Họ và tên sinh viên: Bạch Thị Hương Giang
Mã sinh viên: 0852020007
Lớp: Anh 2 – Khối 1 QT
Khóa: 47
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Minh Hằng

Hà Nội, tháng 05 năm 2012 MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU i
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ VÀ CHẾ TÀI HỦY HỢP ĐỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP

2.1.1. Các trường hợp hàng hoá không phù hợp cấu thành vi phạm cơ bản. 21
2.1.2. Trường hợp không thể khôi phục tính phù hợp của hàng hóa trong
khoảng thời gian mà người mua đã gia hạn thêm hoặc thời hạn mà người bán đã
yêu cầu người mua gia hạn thêm. 31
2.2. Một số giới hạn về quyền huỷ hợp đồng của người mua do hàng hoá
không phù hợp với hợp đồng 34
2.2.1. Trường hợp người mua không khiếu nại hoặ
c không kịp thời khiếu
nại về sự không phù hợp của hàng hóa. 34
2.2.2. Trường hợp người mua mất quyền huỷ hợp đồng do không thông báo
kịp thời. 40
2.2.3. Khả năng người bán giảm giá hàng hoặc sửa chữa hàng hoá hoặc giao
hàng thay thế 42
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ VIỆC HỦY HỢP ĐỒNG DO
HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP THEO CÔNG ƯỚC VIÊN NĂM 1980 VỀ
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆ
M ĐỐI VỚI VIỆT NAM 46
3.1. Đánh giá các quy định và thực tiễn huỷ hợp đồng do hàng hoá không
phù hợp theo Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế 46
3.1.1. Đánh giá các quy định liên quan đến huỷ hợp đồng do hàng hoá
không phù hợp theo CISG 46
3.1.2. Đánh giá thực tiễn huỷ hợp đồng do hàng hoá không phù hợp theo
CISG 48
3.2. Giải pháp nhằm hạn chế việc hàng hoá không phù hợp với hợp đồng
dẫn đến huỷ hợ
p đồng theo CISG 51
3.2.1. Các bên thỏa thuận cụ thể về tính phù hợp của hàng hoá và khả năng
áp dụng chế tài huỷ hợp đồng 51

về hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế
UCC Uniform Commercial Code Bộ luật thương mại thống
nhất Hoa Kỳ
PECL Principles of European on
contract law
Bộ nguyên tắc Châu Âu
về hợp đồng
UNCITRAL United Nations Commission on
International Trade Law
Ủy ban của Liên Hợp
Quốc về Luật thương mại
quốc tế
ICC International Chamber of
Commerce
Phòng thương mi quốc tế

i
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau 25 năm mở cửa thị trường và 5 năm gia nhập tổ chức Thương mại thế
giới, hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong đó nòng cốt là ngoại
thương tiến bộ rõ rệt. Thị trường được rộng mở tới hơn 150 nền kinh tế thành
viên. Các hợp đồng xuất nhập khẩu giữa các thương nhân Vi
ệt Nam và các
thương nhân nước ngoài càng nhiều hơn về số lượng và lớn hơn về giá trị hợp
đồng. Đặc biệt, lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hoá đã có bước tăng trưởng vượt ii
năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” làm đề tài khoá luận tốt
nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Bằng việc chọn đề tài “Huỷ hợp đồng trong trường hợp hàng hoá không
phù hợp theo Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp, người viết sẽ làm rõ trường hợp huỷ hợp
đồng do hàng hoá không phù hợp với hợ
p đồng trong khuôn khổ các giao dịch áp
dụng Công ước Viên 1980 trên mặt lý luận và thực tiễn. Từ đó người viết đưa ra
những giải pháp nhằm hạn chế trường hợp này và bài học kinh nghiệm đối với
các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia quan hệ mua bán hàng hoá quốc tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
• Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp này là các quy định của
Công
ước Viên 1980 về huỷ hợp đồng trong trường hợp hàng hoá không phù hợp
với hợp đồng và các tranh chấp cụ thể trong thực tiễn có liên quan đến vấn đề
này.
• Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận là các trường hợp huỷ hợp đồng do
hàng hoá không phù hợp của các giao dịch mua bán hàng hoá quốc tế trong
khuôn khổ Công ước Viên 1980.
Về mặt thời gian: Các tranh chấp diễn ra từ khi Công ước Viên năm 1980
về
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có hiệu lực cho đến nay.

luận. Em cũng bày tỏ sự biết ơn đối với tập thể giảng viên trường Đại học Ngoại
thương đã tận tình dạy dỗ và trang bị cho em những kiến thức quý báu trong thời
gian học tập và nghiên cứu tại trường.

1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ VÀ CHẾ TÀI HỦY HỢP ĐỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP
HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP THEO CÔNG ƯỚC VIÊN NĂM
1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
1.1. Khái quát chung về Công ước Viên năm 1980 và hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế
1.1.1. Giới thiệu Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng
hoá quốc tế (CISG)
Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for the
International Sale of Goods) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về
Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) là kết quả của một n
ỗ lực hướng tới việc
thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Được được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11 tháng 04 năm 1980 tại Hội
nghị của Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế, sau hơn 30 năm
CISG đã trở thành Công ước được áp dụng rộng rãi nhất trong số các điều ước
quốc tế đa phươ
ng về mua bán hàng hóa quốc tế. Cho đến hiện nay, ước tính
Công ước Viên năm 1980 đã điều chỉnh hơn ba phần tư thương mại hàng hóa
trên toàn thế giới. Tính đến thời điểm tháng 2 năm 2012, đã có gần 80 quốc gia
tham gia Công ước.

Phần 3 bao gồm các vấn đề pháp lý liên quan đến thực hiện hợp
đồng mua
bán hàng hóa quốc tế và được xem là phần chính của Công ước Viên năm 1980.
Phần Mua bán hàng hóa bao gồm các chương:
Chương I: Những quy định chung
Chương II: Nghĩa vụ của người bán
Chương III: Nghĩa vụ của người mua
Chương IV: Chuyển rủi ro
Chương V: Các điều khoản chung về nghĩa vụ của người bán và người
mua.
Chương I bao gồm những quy định chung về các phạm trù khác nhau như
cách xác định “vi phạ
m cơ bản”, thông báo hủy hợp đồng, viện dẫn thông tin…
Các phạm trù này có tác dụng trong việc tạo cơ sở thực hiện hay làm rõ hơn một
số nội dung ở các chương sau.
Trọng tâm của phần 3 nằm ở các quy định về nghĩa vụ của người bán và
người mua trong chương II và chương III. Về nghĩa vụ của người bán, Công ước
quy định rất rõ nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng từ
, đặc biệt là nghĩa vụ
đảm bảo tính phù hợp của hàng hóa được giao (về mặt thực tế cũng như về mặt
pháp lý). Song song với người bán, người mua cũng phải đảm bảo thực hiện
những nghĩa vụ chính của mình, bao gồm thanh toán và nhận hàng.
Công ước Viên không có chương riêng dành cho vi phạm hợp đồng và các
chế tài do vi phạm hợp đồng. Những nội dung này cũng được đề cập trong các
3
chương II, III và V. Theo đó, những chế tài khi xảy ra vi phạm hợp đồng bao
gồm buộc thực hiện đúng hợp đồng, đòi bồi thường thiệt hại, hủy hợp đồng.

thực thi). Sự thành công của Công ước Viên 1980 được khẳng định trong thực
tiễn với hơ
n 2500 vụ tranh chấp đã được Tòa án và trọng tài các nước/quốc tế
giải quyết có liên quan đến việc áp dụng và diễn giải Công ước Viên 1980 được
4
báo cáo. Không chỉ các nước thành viên mà các quốc gia chưa phải là thành viên
vẫn áp dụng Công ước, hoặc do các bên trong hợp đồng lựa chọn Công ước Viên
1980 như là luật áp dụng cho hợp đồng, hoặc do các tòa án, trọng tài dẫn chiếu
đến để giải quyết tranh chấp. Nhiều doanh nghiệp tại các quốc gia chưa phải là
thành viên CISG đã tự nguyện áp dụng CISG cho các giao dịch thương mại quốc
tế của mình, bởi vì họ thấy được nh
ững ưu việt của CISG so với luật quốc gia.
1.1.2. Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo CISG
Công ước Viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không
có điều khoản nào nêu ra định nghĩa pháp lý cụ thể cho hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế. Tuy nhiên, thông qua điều 31 và 53 của Công ước, ta có thể kết luận
một hợp đồng mua bán hàng hóa được hình thành trong trường hợp người bán
được quy định thực hiện nghĩa v
ụ giao hàng (và chứng từ) và người mua được
quy định thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Công ước cũng đưa ra tiêu chí để xác
định xem loại hàng hóa như thế nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước (từ
điều 2 đến điều 6 Công ước).
Ngoài ra, để xác định tính chất “quốc tế” (international character) cho hợp
đồng, điều 1 của Công ước có nêu: “Công ước này áp dụng cho các hợp đồng
mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ
sở thương mại tại các Quốc gia khác
nhau.” Như vậy, Công ước Viên đã đưa xem trụ sở thương mại là tiêu chí để xác

bỏ toàn bộ
việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng;
tương tự: hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ
hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn có hiệu lực. Bộ luật thống nhất
thương mại thống nhất Hoa Kỳ quy đị
nh khác hơn khi phân thành hai thuật ngữ
riêng biệt cho 2 trường hợp của hủy hợp đồng (hủy hợp đồng do hai bên thỏa
thuận trước, hủy hợp đồng do một bên gây ra vi phạm). Tuy nhiên, bản chất của
hủy hợp đồng trong UCC vẫn là việc hai bên sẽ giải thoát cho nhau tất cả mọi
nghĩa vụ của hợp đồng, trừ những nghĩa vụ phát sinh sau khi hủy hợp đồng và từ
giả
i quyết tranh chấp (điều 2 – 106 khoản 3, 4 UCC).
Bên cạnh đó, theo tinh thần của hầu hết pháp luật các nước, khi xảy ra vi
phạm hợp đồng, bên bị vi phạm chưa áp dụng chế tài này ngay mà áp dụng các
chế tài khác (bắt buộc thực hiện nghĩa đúng nghĩa vụ, phạt vi phạm, bồi thường
thiệt hại…). Trong trường hợp việc áp dụng các chế tài khác không khắc phục
được tình trạng vi phạm, ch
ế tài hủy hợp đồng mới được áp dụng. Việc áp dụng
chế tài hủy hợp đồng phải đảm bảo những điều kiện về nội dung và hình thức.
1.2.1. Điều kiện áp dụng chế tài huỷ hợp đồng trong hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế
1.2.1.1. Điều kiện về nội dung
6
Pháp luật các nước khác nhau thì có cách quy định khác nhau về các
trường hợp được áp dụng chế tài hủy hợp đồng.
Luật Thương mại Việt Nam 2005 lại quy định: “Trừ các trường hợp miễn
trách quy định tại điều 294 của Luật này, chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng

nghiêm trọng; do bên vi phạm không thể khắc phục được thiệt hại trong thời hạn
được gia hạn thêm.
7
• Trường hợp các bên đã thỏa thuận trước về trường hợp hủy hợp đồng
Việc áp dụng chế tài này có thể được quy định ngay trong điều khoản của
hợp đồng bên cạnh những quy định trong pháp luật về các tình trạng vi phạm cụ
thể dẫn đến có thể áp dụng được chế tài hủy hợp đồng như ở 1.2.1.1. Điều 312
khoản 4
điểm a Luật Thương mại Việt Nam 2005 đã có quy định: chế tài hủy hợp
đồng cũng được áp dụng nếu đã được thỏa thuận ngay trong hợp đồng. Trên thực
tế, đã có những trường hợp vi phạm hợp đồng chưa đến mức nghiêm trọng dẫn
đến hủy hợp đồng, nhưng vì đó là một trường hợp mà hai bên đã thỏa thuận trong
hợp đồng nên dẫn đến chế tài hủy vẫn được áp dụng. Tương tự, điều 2-106 khoản
3 UCC cũng quy định về trường hợp này này.
• Trường hợp xảy ra vi phạm gây ra thiệt hại nghiêm trọng
Có thể thấy các nguồn Luật đều có điểm chung là chế tài hủy hợp đồng
được áp dụng trong trường hợp xảy ra vi phạm nghiêm trọng. Tuy nhiên, mỗi
nguồn luật có cách diễn giải khác nhau v
ề vi phạm nghiêm trọng. Trong trường
hợp của Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ cũng như Bộ nguyên tắc Châu
Âu về hợp đồng, một bên có quyền hủy hợp đồng khi bên kia có “sự vi phạm các
điều khoản chủ yếu”. Trong khi đó luật Cộng hòa Pháp sử dụng thuật ngữ “vi
phạm chủ yếu” để làm cơ sở cho việc áp dụng chế tài hủy. Trong đó, cả Công
ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Luật Thương mại
Việt Nam đã có sự gặp gỡ trong việc sử dụng thuật ngữ “vi phạm cơ bản”
(fundamental breach).
Để làm rõ hơn về trường hợp vi phạm nghiêm trọng dẫn đến hủy hợp

1980 đã cụ thể hóa hậu quả là bên bị vi phạm bị mất quyền chờ đợi trên cơ sở
hợp đồng trong chừng mực đáng kể và bên vi phạm lường trước được thiệt hại
đó.
Chính cách quy định có vẻ “mơ hồ” như trên đã mở ra một phạm trù rộng
lớn bao gồm những quy định pháp luật có liên quan đến vi phạm cơ b
ản và thực
tiễn mà việc xác định vi phạm cơ bản trở thành vấn đề chính. Khái niệm “vi
phạm cơ bản” đã trở thành trung tâm trong nhiều tranh chấp của của các giao
dịch mua bán hàng hóa quốc tế. Việc đánh giá không đúng tính “cơ bản”
(fundamentality) của vi phạm có thể dẫn đến việc xác định nhầm về quyền và
nghĩa vụ của các bên, do đó làm mất đi tính công bằng cho các phán quyết và gây
ra nhữ
ng thiệt hại không đáng có. Chính vì vậy, việc xác định vi phạm cơ bản
cần phải dựa vào những tiêu chí nhất định.
- Tiêu chí xác định vi phạm cơ bản
Mặc dù cách định nghĩa có thể khác nhau, vấn đề trọng tâm của việc xác
định “vi phạm cơ bản” chính là tính nghiêm trọng của thiệt hại. Đây là tiêu chí
đầu tiên để đánh giá tính “cơ bản” của vi phạm.
Tại điều 25 Công
ước Viên, thuật ngữ “đáng kể” (substianlly) được sử
dụng để diễn giải mức độ thiệt hại mà bên bị vi phạm gặp phải – hay mức độ
9
những lợi ích mà bên bị vi phạm không đạt được do hành vi vi phạm.
3
Phần mất
đi này càng lớn thì thiệt hại càng nghiêm trọng và do đó bên vi phạm càng dễ bị
xem là gây ra vi phạm cơ bản cho hợp đồng. Thông thường, những lợi ích bị mất

3
Xem Explanatory Note by the UNCITRAL Secretariat on the United Nations
Convention on Contracts for the International Sale of Goods, đoạn 29, có tại
/>
10
• Trường hợp bên vi phạm không thể khắc phục thiệt hại trong thời hạn gia
hạn thêm
Các nguồn luật cho phép khi xảy ra vi phạm, bên vi phạm được phép thực
hiện các biện pháp nhằm khắc phục các thiệt hại đã gây ra. Hay nói cách khác
đây là việc buộc bên vi phạm phải thực hiện đúng hợp đồng nhằm mục đích tối
đa hóa lợi ích nhận được của các bên từ việc thự
c hiện hợp đồng thành công. Các
biện pháp này không làm mất đi quyền đòi bồi thường thiệt hại của bên bị vi
phạm.
Đặc biệt, bên vi phạm sẽ được gia hạn thêm thời gian để tiến hành các
biện pháp này. Công ước Viên năm 1980 đã quy định về gia hạn thêm thời gian
loại trừ các thiếu sót trong thực hiện nghĩa vụ tại điều 47 khoản 1 (gia hạn cho
người bán) và điều 63 khoả
n 1 (gia hạn cho người mua). Bộ nguyên tắc Châu Âu
về hợp đồng cũng đưa ra quy định tương tự tại điều 8:106 khoản 1.
Tuy nhiên, việc khắc phục các tổn thất gây trong thời gian được gia hạn
thêm gây ra phí tổn quá lớn hoặc những chậm trễ không đáng có cho các bên, chế
tài hủy hợp đồng sẽ bị áp dụng. Tương tự, nếu vượt qua thời hạn đó mà bên vi
phạm vẫn chư
a tiến hành thành công biện pháp nào, hợp đồng cũng sẽ tự động bị
hủy.
1.2.1.2. Điều kiện về hình thức

hủy hợp đồ
ng sẽ không được đảm bảo. Chính vì vậy, bên tuyên bố hủy hợp đồng
phải làm động tác “thông báo” về quyết định của họ. Nếu trong trường hợp bên
đối tác không thể chứng minh được khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình, bên
có ý định tuyên bố hủy hợp đồng có thể tuyên bố hủy mà không sợ bị khiếu nại.
Về vấn đề này, Luật Thương mại Việt Nam 2005 không có quy định về trường
hợp cho phép áp dụng chế tài trước khi xảy ra tổn thất.
1.2.2. Hậu quả pháp lý của việc huỷ hợp đồng
Hủy hợp đồng được xem là chế tài nặng nhất trong các chế tài vì nó dẫn
đến hậu quả pháp lý rất nặng nề cho các bên. Tuy rằng các nguồn luật quy định
về các trường hợp áp dụng chế tài hủy hợp đồng không giống nhau, hầu hết các
ngu
ồn luật có quan điểm giống nhau về các hậu quả pháp lý. Đó là:
Thứ nhất, khi áp dụng chế tài hủy hợp đồng, hai bên sẽ giải thoát cho nhau
tất cả mọi nghĩa vụ của hợp đồng (trừ những nghĩa vụ phát sinh sau khi hủy hợp
đồng và từ giải quyết tranh chấp). Điều 314 khoản 1 Luật Thương mại 2005 của
Việt Nam quy định: “… sau khi hủy bỏ hợ
p đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ
thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa
thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ
hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.” Công ước Viên 1980 cũng thống nhất
quan điểm này.

4
Xem điều 72 khoản 1 Công ước Viên.
12
Hậu quả pháp lý thứ hai là việc các bên phải hoàn trả những gì đã nhận

d. Các phẩm chất và đặc tính thể hiện như hàng hóa cùng loại thường có
và đáp ứng yêu cầu hợp lý của người mua, dựa trên tính chất cơ bản của hàng
hóa và tính đến bất cứ thông báo công khai nào về các đặc điểm cụ thể của hàng
13
hóa được người bán, người sản xuất hoặc đại diện của họ đưa ra, đặc biệt qua
các quảng cáo hoặc nhãn hiệu.”
Tương tự, CISG cũng quy định tại khoản 1,2 điều 35:
“1. Người bán phải giao hàng đúng số lượng, phẩm chất và mô tả như
quy định trong hợp đồng, và đúng bao bì hay đóng gói như hợp đồng yêu cầu.
2. Trừ những trường hợp các bên có thỏa thuậ
n khác, hàng hóa bị coi là
không phù hợp với hợp đồng nếu:
a. Hàng hóa không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà các hàng hóa
cùng loại vẫn thường đáp ứng.
b. Hàng không thích hợp cho bất kỳ mục đích cụ thể nào mà người bán đã
được biết một cách rõ ràng hoặc ngụ ý vào lúc giao kết hợp đồng, trừ trường
hợp nếu căn cứ vào các hoàn cảnh cụ thể có thể thấy rằng người mua đã không
tính đến năng lực hay sự đánh giá của người bán hoặc nếu đối với họ làm như
thế là không hợp lý.
c. Hàng không có các tính chất của hàng mẫu mà người bán đã cung cấp
cho người mua.
d. Hàng không được đóng phong bì theo cách thông thường cho những
hàng cùng loại hoặc, nếu không có cách thông thường, thì bằng cách thích hợp
để giữ gìn và bảo vệ hàng hoá đó.
Tương tự, Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Bộ luật Thươ
ng mại thống
nhất Hoa Kỳ cũng có những quy định tương tự như chỉ thị 44/99/EC và Công

nguồn gốc xuất xứ như hợp đồng yêu cầu cũng có thể bị xem là không phù hợp.
Ngoài ra, giao hàng với phẩm chất tương tự, dù là phẩm chất tốt hơn cũng chưa
được khẳng định là không vi phạm hợp đồng.
Hàng hóa được giao tối thiểu phải đáp ứng đầy đủ và chính xác các đặc
điểm mang tính chất mô tả trong hợp đồng (Ví dụ: màu sắ
c, kích cỡ…) Phòng
Thương mại Công nghiệp chỉ ra rằng trong trường hợp hàng hóa không có hoặc
khó xác định các quy chuẩn về phẩm chất, người bán có nghĩa vụ cung cấp hàng
hóa phù hợp với mục đích và mô tả.
1.3.1.2. Hàng hóa có bao bì, được đóng gói và được bảo quản theo hợp
đồng
Một trong các tiêu chí xác định tính phù hợp của hàng hóa theo hợp đồng
chính là tình trạng bao bì, đóng gói hay bảo quản của hàng hóa. Trường hợp bao
bì, cách đóng gói hay bảo quản hàng hóa không giố
ng như quy định trong hợp
đồng hoặc theo cách thông thường hoặc thích hợp mà hàng hóa cùng loại được
đóng gói và bảo quản, hàng hóa có thể bị nghi ngờ không đảm bảo chất lượng
như người mua yêu cầu và có thể dẫn đến việc kết luận người mua vi phạm nghĩa
vụ của mình.
1.3.1.3. Hàng hóa phải phù hợp với mục đích sử dụng
Bên cạnh các tiêu chí trên, Công ước Viên năm 1980, Bộ Luật Thương
mại Thống nhất và chỉ thị 44/99/EC đều đề cập đến tính phù hợp với mục đích sử
15
dụng để xác định tính phù hợp của hàng hóa. Theo đó, hàng hóa sẽ bị xem là
không phù hợp nếu không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà hàng hóa
cùng loại vẫn thường đáp ứng [1]; hoặc không phù hợp với bất cứ mục đích sử
dụng cụ thể nào mà người bán đã được biết một cách rõ ràng hay ngụ ý vào thời

Ý nghĩa của điều khoản này là

6
Fit for ordinary use
7
Fit for particular purposes
8
Xem điều 35 khoản 2 điểm c Công ước Viên
16
thay vì quy định trong hợp đồng các đặc điểm, phẩm chất của hàng hóa, người
bán triển khai một nghĩa vụ thay thế để mô tả và nhận diện hàng hóa.
1.3.2. Trách nhiệm của người bán về việc hàng hoá không phù hợp
với hợp đồng
Trách nhiệm của người bán về việc hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
có thể được hiểu là người bán đã vi phạm một trong các tiêu chí xác định tính
phù hợp của hàng hóa nh
ư ở phần 1.3.1 và hành vi vi phạm này có thể đã gây ra
thiệt hại nhất định cho người mua.
Bên cạnh đó, các nguồn luật cũng đã quy định trong trường hợp nào người
bán phải chịu trách nhiệm về việc hàng hóa không phù hợp với hợp đồng và các
chế tài có thể được áp dụng nếu xảy ra trường hợp đó.
1.3.2.1. Phạm vi trách nhiệm người bán phải chịu về việc hàng hóa
không phù hợp
Điều 36 Công ước Viên năm 1980 quy định:
1. Người bán chịu trách nhiệm chiếu theo hợp đồng và Công ước này, về
mọi sự không phù hợp nào của hàng hóa tồn tại vào lúc chuyển giao quyền rủi ro
sang người mua, ngay cả khi sự không phù hợp của hàng hóa chỉ được phát hiện

người bán sẽ phải chịu trách nhiệm nếu có bất cứ khiếm khuyết nào
được phát
hiện tại thời điểm này.
Thứ hai, trên thực tế, có những khiếm khuyết hay bất phù hợp chỉ được
phát hiện sau khi rủi ro đã được chuyển cho người mua, đặc biệt chỉ phát sinh
trong quá trình sử dụng. Với trường hợp này người bán phải chịu trách nhiệm với
bất cứ khiếm khuyết nào của hàng hóa phát sinh hoặc là hậu quả của việc bên
bán vi phạm hợp đồ
ng [1]; hoặc trong thời hạn mà người bán đã đảm bảo rằng
hàng hóa phù hợp với mục đích sử dụng thông thường hay mục đích cụ thể hoặc
vẫn duy trì được những tính chất hay đặc tính đã quy định [2].
Ở đây, người bán sẽ phải chịu trách nhiệm nếu những khiếm khuyết này là
do người bán vi phạm một trong các nghĩa vụ trước thời điểm chuyển giao rủ
i ro
(trường hợp [1]). Nghĩa vụ có thể hiểu là nghĩa vụ đảm bảo hàng hóa phù hợp
với hợp đồng như mục 1.3.1 nhưng cũng có thể là bất kỳ nghĩa vụ nào khác. Ví
dụ trường hợp người bán được chỉ định thuê tàu và người bán thuê tàu của một
công ty không đảm bảo năng lực chuyên chở. Trong quá trình vận chuyển, hàng
hóa bị hư hại do hãng tàu không đủ năng lực. Như vậ
y, người bán vẫn phải chịu
trách nhiệm với khiếm khuyết của hàng hóa trong trường hợp này mặc dù người
bán không trực tiếp vi phạm.
Đối với trường hợp [2], người bán phải chịu trách nhiệm về sự không phù
hợp nếu khiếm khuyết phát sinh trong thời hạn mà người bán đã đảm bảo rằng
hàng hóa phù hợp với mục đích sử dụng thông thường hay mục đích cụ thể ho
ặc
vẫn duy trì được những tính chất hay đặc tính đã quy định. Đảm bảo này có thể là

Trích đoạn Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam Kiến nghị hoàn thiện thêm các quy định pháp luật của Việt Nam về
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status