Khoá luận tốt nghiệp Kết hợp yếu tố giáo dục và giải trí trong các chương trình truyền hình dành cho trẻ em - Pdf 34

KẾT HỢP YẾU TỐ GIÁO DỤC VÀ GIẢI TRÍ
TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
DÀNH CHO TRẺ EM
(Khảo sát một số chương trình trên kênh VTV3 từ tháng 01 đến tháng 04/2012)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: BÁO CHÍ
MÃ SỐ: 1.01.01
CHUYÊN NGÀNH: TRUYỀN HÌNH


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được trân trọng gửi lời cảm ơn đến Thạc sỹ Đinh Thị Xuân Hoà
- Giảng viên Khoa Phát Thanh – Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi khoá luận này. Dù khá bận với nhiều
công việc, nhưng cô đã dành thời gian chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hết
sức tận tình trong suốt quá trình thực hiện khoá luận.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong Khoa Phát
Thanh - Truyền hình, trong suốt chặng đường 4 năm học, các thầy cô đã mang
tới cho chúng tôi những kiến thức vô cùng quý giá về chuyên môn nghiệp vụ
cũng như những kiến thức xã hội khác.
Hà Nội, tháng 5 năm 2012


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam
có thể sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần

trình chưa cao, chưa trở thành một sân chơi lý thú, bổ ích đối với các em.
Trước thực tế như vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Kết hợp yếu tố giáo
dục và giải trí trong các chương trình truyền hình dành cho trẻ em” (Khảo
sát một số chương trình trên kênh VTV3 từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2012) để
nghiên cứu với mong mỏi tìm ra những giải pháp phù hợp, từ đó khai thác
được tối đa ưu điểm của yếu tố giáo dục cũng như yếu tố giải trí vào trong
quá trình sản xuất, nhằm tạo ra được nhiều những chương trình truyền hình
vừa có khả năng đem tới cho các em kiến thức bổ ích vừa giúp các em có
những giây phút thật thoải mái.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Báo chí cho trẻ em nói chung và truyền hình cho trẻ em nói riêng không
còn là vấn đề mới mẻ. Có một số công trình đã nghiên cứu về các chương trình
dành cho đối tượng này. Dưới đây là một vài tài liệu nghiên cứu tiêu biểu:
- “Biên tập chương trình truyền hình thiếu nhi”, Nguyễn Hoài Hương
(1996), Luận văn tốt nghiệp khoa Báo chí, Đại học quốc gia Hà nội.
- “Chương trình truyền hình cho thiếu nhi và cách tiếp cận khán giả
nhỏ tuổi”, Nguyễn Thị Vân Ngọc (2001), Khoá luận tốt nghiệp khoa Báo chí,
Đại học quốc gia Hà nội.
- “Giáo dục thiếu niên nhi đồng trên sóng Đài truyền hình Việt
Nam”,Trần Thị Thu Hương (2005), Luận văn Thạc sỹ Truyền thông đại
chúng chuyên ngành báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyền truyền.
Tuy nhiên những công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở một vài
khía cạnh khác nhau của các chương trình dành cho trẻ em. Chẳng hạn như

2


bàn về vai trò của yếu tố giáo dục trong chương trình cho trẻ em hay cách
biên tập, cách tiếp cận đối tượng là trẻ em... trong quá trình tác nghiệp để có
những sản phẩm tốt nhất phục vụ đối tượng này. Chưa có một công trình khoa

này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả sự kết hợp hai yếu
tố giáo dục và giải trí trong các chương trình.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, khóa luận tập trung giải quyết một số
nhiệm vụ sau:
- Một là, làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc kết hợp yếu tố giáo
dục và giải trí trong các chương trình truyền hình dành cho trẻ em.
- Hai là, tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích làm rõ thực trạng của
việc kết hợp hai yếu tố này trong các chương trình truyền hình cho trẻ em trên
kênh VTV3 hiện nay. Cụ thể, tìm hiểu nội dung của các chương trình, hình
thức thể hiện, nghiên cứu những mặt mạnh và mặt hạn chế, nguyên nhân của
những hạn chế, từ đó xây dựng bức tranh chung về thực trạng này.
- Ba là, từ những lí luận cơ bản kết hợp với thực tiễn các chương trình
trên kênh VTV3, khóa luận đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả sự
kết hợp hai yếu tố giáo dục và giải trí trong các chương trình.
5. Ý nghĩa lí luận, thực tiễn của đề tài
- Về mặt lí luận: Trên cơ sở khảo sát thực tiễn, đề tài góp phần làm rõ một
số nội dung lí luận, các khái niệm về trẻ em, truyền hình cho trẻ em, về giáo dục,
giải trí và sự kết hợp hai yếu tố này trong cùng một chương trình truyền – đó là
những đóng góp cụ thể vào lí luận chung của báo chí truyền hình.
- Về thực tiễn: Có thể bài khoá luận chưa khái quát được một cách toàn
diện về bức tranh chung của các chương trình truyền hình cho trẻ em hiện
nay, thế nhưng, hy vọng ít nhiều những tri thức được trình bày trong khoá
luận cũng sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích cho những người làm truyền
hình nói chung và đội ngũ làm truyền hình cho trẻ em nói riêng.

4


6. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu:


ở nhiều lứa tuổi khác nhau về đánh giá chất lượng các yếu tố giáo dục, giải trí
trong các chương trình truyền hình dành cho trẻ em.
7. Kết cấu khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu kham khảo, khoá luận
gồm 3 chương chính:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung
Chương 2: Thực trạng việc kết hợp yếu tố giáo dục và giải trí trong các
chương trình truyền hình dành cho trẻ em trên kênh VTV3 hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả
việc kết hợp yếu tố giáo dục và giải trí trong các chương trình truyền hình
dành cho trẻ em

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Giáo dục
Trong các tài liệu nghiên cứu về giáo dục hiện nay tuy có nhiều cách
diễn giải khác nhau (do quan niệm, phạm vi, giới hạn của vấn đề khác nhau)
nhưng nhìn chung đều quan niệm “giáo dục” là hiện tượng xã hội đặc biệt.
Bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của
thế hệ loài người. Những quan niệm này nhấn mạnh đến cách thức của hoạt
động giáo dục, đó là sự truyền đạt và lĩnh hội giữa kinh nghiệm, kiến thức
giữa các thế hệ.
Nhà triết học, giáo dục học Jonh DeWey (Mỹ) khi nghiên cứu về vấn
đề giáo dục, ông không chỉ dừng lại ở việc cho rằng “giáo dục” là “truyền đạt
kiến thức” mà ông đã chỉ ra thêm mục tiêu cuối cùng của hoạt động này. Ông

của con người đáp ứng nhu cầu phát triển về thể chất, trí tuệ và mĩ học. Giải
trí cũng là nhu cầu của con người vì nó đáp ứng những đòi hỏi bức thiết từ
phía cá nhân. Nhu cầu giải trí là động cơ của hoạt động giải trí. Khi xuất
hiện nhu cầu giải trí, con người bị thôi thúc hành động để thỏa mãn nhu cầu
đó” [15].
Với định nghĩa trên, “giải trí” được nhìn nhận vừa như một dạng hoạt
động lại vừa là nhu cầu không thể thiếu trong xã hội loài người. Mặt khác,
cách định nghĩa này mang tính diễn giải, dẫn dắt khó hiểu, chưa làm nổi rõ
được đặc trưng của hoạt động “giải trí”. Quan niệm như vậy về giải trí chưa
nêu bật được đặc trưng, còn giống với một số hoạt động khác trong xã hội.
Chẳng hạn, có điểm giống với hoạt động “thể thao”, vì theo như diễn giải
“giải trí đáp ứng nhu cầu về thể chất”, nghĩa là giải trí giúp cho con người

8


khoẻ mạnh; hay thuật ngữ này nếu được quan niệm như trên lại có điểm giống
với hoạt động “giáo dục” vì theo họ “giải trí đáp ứng nhu cầu về trí tuệ”.
Hay trong Đại từ điển Tiếng Việt, “giải trí” được hiểu là “làm cho đầu
óc thư giãn, thoải mái, cơ thể hết mệt mỏi” [13, tr. 620].
Với khái niệm này thuật ngữ “giải trí” được lí giải ngắn gọn, rõ nét hơn
tuy nhiên thuật ngữ này mới chỉ được nhìn nhận ở một góc độ đó là mục đích
của hoạt động: là để đạt được sự thoải mái về mặt tinh thần.
Tóm lại cần phải có một quan niệm rõ ràng, mạch lạc hơn về thuật ngữ
này. Giải trí cần được nhìn nhận dưới nhiều góc độ đó là nhu cầu, mục đích
và cách thức. Từ những phân tích trên chúng tôi xin đưa ra quan niệm về giải
trí như sau: “giải trí vừa là nhu cầu, vừa là hoạt động của con người, do con
người sáng tạo ra nhằm mục đích giải toả sự căng thẳng tinh thần giúp thư
giãn, thoải mái”.
Thực tế, trong cuộc sống có nhiều cách đem lại sự thư giãn - giải trí: có

như thế nào để hình thức giải trí đó đem tới sự thư giãn nhưng trí tuệ.
Chúng tôi xin đưa ra một khái niệm để phục vụ cho quá trình nghiên
cứu tiếp sau: Kết hợp yếu tố giáo dục và giải trí“là sự gắn kết một cách hợp
lý giữa việc truyền tải và tiếp thu tri thức, với những hoạt động vui chơi, giải
trí với mục đích để đối tượng tác động vừa được tiếp nhận tri thức lại có thể
đạt được sự thoải mái nhất định về mặt tinh thần”.
1.1.4. Kết hợp yếu tố giáo dục và giải trí trong chương trình truyền hình
dành cho trẻ em
- Trẻ em
Trên thực tế, không ít người nghĩ “trẻ em” chỉ là những em bé nơn nớt
cần sự che chở của người lớn, chưa tự nhận thức được hết thế giới quan, cần
giáo dục về tình thần lẫn thể chất. Việc xác định rõ độ tuổi, đặc điểm của đối
tượng này rất quan trọng. Điều này còn mang ý nghĩa để “người lớn” có
những cách đối xử và đánh giá phù hợp về đối tượng được gọi là “trẻ em”.

10


Điều 1, Công ước quốc tế về quyền trẻ em ghi rõ: “ Trẻ em là những
người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp quốc gia quy định tuổi thành
niên sớm hơn.” [2, tr. 70].
Với quy định này, “trẻ em” đã được xác định rõ là những người thuộc
độ tuổi nào. Tuy nhiên, Công ước cũng có những yếu tố “mở” để phù hợp với
điều kiện của mỗi đất nước. Và ở Việt Nam, xác định điều kiện phát triển của
mình, Luật pháp của Việt Nam đã có những giới hạn lại về độ tuổi của đối
tượng này.
Điều 1, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em của Việt Nam được
ban hành ngày 24 tháng 6 năm 2004 đã quy định: “trẻ em là công dân Việt
nam dưới 16 tuổi” [9, tr. 5].
- Chương trình truyền hình dành cho trẻ em

tác động” [13, tr. 280]. Còn từ “vì” biểu thị “ý nghĩa mục đích” [13, tr. 1761].
Như vậy có thể hiểu “chương trình truyền hình cho trẻ em” là những
chương trình mà trẻ em là đối tượng những người làm chương trình nhắm
đến, chịu tác động và ảnh hưởng trực tiếp của chương trình đó.
Còn “chương trình truyền hình vì trẻ em” là những chương trình mà ở
đó đối tượng trực tiếp được những người làm chương trình hướng tới đó là
người lớn và với mong muốn khi xem xong chương trình người lớn sẽ có
những nhận thức, hành động đúng đắn phục vụ trẻ em – “vì” trẻ em - thế hệ
mầm non tương lai của đất nước. Với “chương trình truyền hình vì trẻ em”
người lớn là đối tượng được người làm chương trình nhắm đến trực tiếp.
Qua phân tích như trên có thể khẳng định “chương trình truyền hình
cho trẻ em” và “chương trình truyền hình vì trẻ em” là khác nhau. Điểm làm
nên sự khác nhau đó chính là do đối tượng khán giả mục tiêu. Vậy nên, khi
đối tượng tiếp nhận chương trình khác nhau thì nội dung phản ánh và hình
thức thể hiện mỗi chương trình dành cho mỗi đối tượng đó cũng sẽ khác nhau.

12


Chương trình truyền hình vì trẻ em có thể phản ánh các nội dung như:
tuyên truyền chính sách chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung từ đó thay đổi
nhận thức và hành vi của người lớn về trẻ em, nhưng mục đích cuối cùng vẫn
là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Còn những chương trình dành cho trẻ em có
thể là những nội dung gắn với độ tuổi này như: kiến thức về mọi mặt, kỹ năng
ứng xử… những nội dung này sẽ tác động trực tiếp đến nhận thức và hành vi
của trẻ, mục đích cuối cùng vẫn là vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em nhưng không
thông qua người lớn.
Với sự phân tích như vậy, chúng tôi xin đưa ra khái niệm như sau:
“Chương trình truyền hình cho trẻ em là một sản phẩm truyền hình mà ở đó
các nội dung được xây dựng đều hướng tới phục vụ đối tượng xem là trẻ em”.

chương trình. Những nhược điểm của yếu tố này có thể khắc phục, bổ sung
bởi những ưu điểm của yếu tố kia. Sự khô cứng trong truyền đạt của yếu tố
giáo dục có thể dễ dàng được giải quyết khi được “chuyên chở” bởi sự thoải
mái, vui nhộn, linh hoạt của yếu tố giải trí. Ngược lại, giá trị tức thời của yếu
tố giải trí sẽ neo lại lâu bền hơn khi được bổ sung, “gia giảm” thêm một cách
hợp lý những thông tin hay những kiến thức của yếu tố giáo dục. Nếu làm
được như vậy, dễ dàng có được những chương trình hay, hấp dẫn, ý nghĩa –
khán giả vừa tiếp nhận được kiến thức nhưng trong một tâm thế thoải mái.
Giáo dục mà như không giáo dục.
- Việc kết hợp yếu tố giáo dục và giải trí trong chương trình truyền
hình cho trẻ em góp phần gia tăng hiệu quả tiếp nhận chương trình.
Kết hợp yếu tố giáo dục và giải trí trong các chương trình truyền hình
đó chính là hình thức giáo dục mà như không giáo dục. Người xem mải vui,
mải hoà mình với những kiến thức giải trí nhưng chính trong những phút giây
đó kiến thức thông tin được cài đặt len lỏi vào bộ nhớ mọi người.
Đối với những chương trình dành cho trẻ em, giá trị của việc kết hợp
này càng có vai trò , ý nghĩa quan trọng bởi lẽ nhu cầu lớn của trẻ em là được

14


vui chơi, giải trí. Và nếu thoả mãn nhu cầu này thì những chương trình được
sản xuất ra mới có thể thu hút được sự chú ý của chúng. Chỉ bằng những
chương trình giáo dục có tính giải trí như thế, trẻ mới dễ dàng tiếp thu được
những điều mà chúng ta muốn giáo dục chúng, truyền thụ đến chúng. Những
chương trình kết hợp được hai yếu tố giáo dục và giải trí được ví như một
phương thức giáo dục tích cực và dễ hiểu. Bởi khi tiếp nhận chương trình với
một sự hào hứng, thú vị trẻ em sẽ “ào” vào chương trình để được vui, được
chơi, được khám phá. Sự hào hứng, sinh động, dí dỏm của chương trình thôi
thúc trẻ em tìm đến, từ đó tiếp nhận tri thức một cách chủ động. Bất cứ một

chương trình ấy.
Nếu nội dung chuyển tải quá lớn, dung lượng kiến thức quá nhiều
mà hình thức lại đơn điệu, tẻ nhạt thì khó có thể hấp dẫn trẻ em, và
ngược lại. Bởi vậy trong quá trình sản xuất, những người làm chương
trình phải xác định được dung lượng nội dung để có thể tìm được một
hình thức thể hiện phù hợp. Và trong một chương trình không thể lặp đi
lặp lại một hình thức thể hiện, bởi nó sẽ gây sự buồn tẻ và nhàm chán. Ví
như, một chương trình truyền hình dành cho trẻ em có nhiều phần chơi,
với nội dung phong phú thì cần thiết phải sử dụng đa dạng các trò chơi
để tạo nên sự mới lạ và hứng khởi. Hay nói cách khác, các chương trình
truyền hình giống như một chiếc xe, để chở được một lượng kiến thức
lớn thì chiếc xe chở ấy phải đủ rộng, có như vậy xe mới có thể “bon
bon” về đích, còn nếu không nó sẽ tiến “ì ạch” và không thể hoàn thành
trách nhiệm của mình.
Để có thể chuyển tải được lượng kiến thức lớn đến với trẻ em, tuỳ nội
dung cụ thể, những người làm chương trình cần sử dụng các hình thức sao
cho phù hợp. Đó có thể là thông qua những trò chơi, những bộ phim ngắn,
clip tình huống hoặc những bộ phim hoạt hình được xây dựng với các nhân
vật ngộ nghĩnh và đáng yêu… Sự đa dạng và linh hoạt trong cách thể hiện
như vậy mới hấp dẫn và lôi cuốn trẻ em.
1.3.2. Nội dung tuyên truyền và hình thức thể hiện phải phù hợp với đối
tượng phục vụ

16


Trẻ em là công chúng đặc thù của báo chí nói chung và truyền hình nói
riêng. Trẻ em được chia ra làm nhiều độ tuổi và mỗi độ tuổi ấy lại có sự phát
triển nhận thức và tâm lý riêng. Những người làm chương trình phải hiểu tâm
lý của trẻ em ở từng độ tuổi để có thể xây dựng được một chương trình phù

vấn đề thôi thúc các em đến với các phương tiện truyền thông đại chúng.
Những người làm chương trình cần nghiên cứu tâm lý cũng như nhu
cầu thông tin ở từng nhóm độ tuổi để có thể xây dựng nên một chương trình
mà ở đó lồng ghép kiến thức thông qua những hình thức giải trí lôi cuốn, hấp
dẫn khán giả là các em.
1.3.3. Cần khai thác và sử dụng triệt để những thế mạnh của loại hình
truyền hình
Nghiên cứu, nắm bắt được nhu cầu thông tin của từng nhóm độ tuổi kết
hợp với việc sử dụng triệt để thế mạnh của loại hình truyền hình sẽ giúp
những người làm truyền hình mang tới những ý tưởng thú vị cho chương trình
và xa hơn là cho các em.
Truyền hình truyền tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh chân
thực. Với thế mạnh này, các chương trình truyền hình có khả năng giao tiếp
với con người bằng thính giác và thị giác, hai giác quan quan trọng nhất. Mà
tiếp nhận đầu tiên, hiệu quả với trẻ em nói riêng và con người nói chung
chính là hình ảnh, tức là màu sắc và chuyển động, sau đó là âm thanh. Sau khi
kết thúc một chương trình, có thể trẻ sẽ quên mất yếu tố âm thanh, nhưng
ngược lại, những hình ảnh sống động, giàu màu sắc sẽ được ghi lại rất lâu
trong trí nhớ. “Trước một hình ảnh của truyền hình nói về cuộc sống kiến ăn
cần cù của loài kiến, các em nhỏ có thể bước đầu hình thành trong trí óc
mình ấn tượng về sự tích luỹ, sự góp nhặt của cải (hay đơn giản là thức ăn)
cho gia đình mình” [5 ,tr. 28].
Sức mạnh của hình ảnh có tác động vô cùng lớn. Những hành động
sau này chính là hình ảnh mà mắt trẻ thu thập được, đó là những thông tin ban
đầu để hình thành nên những hành động tiếp theo của trẻ. Cùng với thế mạnh

18


về hình ảnh, cần phải tận dụng những lợi ích mà âm thanh (âm nhạc, tiếng

Hoặc có thể kể đến chương trình truyền hình Plays school của Úc dành
cho trẻ em trước độ tuổi đến trường. Playschool ra đời nhằm khuyến khích trẻ
em khám phá, suy nghĩ, cảm nhận và tưởng tượng. Mỗi chương trình là một
chủ đề khác nhau mà ở đó các em được giới thiệu ý tưởng của các trò chơi,
được tham gia thực hiện những thứ dễ làm. Với bố cục rõ ràng và chặt chẽ,
Playschool sẽ mang đến cho các bạn nhỏ một sân chơi thú vị với nhiều
chuyên mục hấp dẫn như: Các câu chuyện về động vật, cây cỏ, côn trùng,
nhiều bài hát hay và nhiều hoạt động ngoại khóa….
Những chương trình ấy đã trở thành nổi tiếng và thu thút được đông
đảo khán giả là trẻ em bởi những người làm chương trình đều biết nắm bắt
tâm lý trẻ em, biết tận dụng và khai thác lợi thế của mình để từ đó tạo ra
những chương trình hấp dẫn, vừa đáp ứng được nhu cầu giải trí lại thực hiện
được chức năng giáo dục cho trẻ .
1.4. Sự ra đời và phát triển của các chương trình truyền hình dành cho
trẻ em ở Việt Nam
Hơn 40 năm ra đời và phát triển, truyền hình Việt Nam đã khẳng định
vai trò quan trọng của mình trong đời sống xã hội. Các chương trình truyền
hình luôn hướng đến công chúng ở mọi ngành nghề và lứa tuổi. Trong đó, trẻ
em là đối tượng được quan tâm đặc biệt.
Ngay từ những ngày đầu thành lập, Đài Truyền hình Việt Nam - Đài
truyền hình quốc gia - Đài truyền hình đầu tiên của Việt Nam đã sản xuất
những chương trình truyền hình dành cho các em. “Những bông hoa nhỏ” là
chương trình như vậy.
Chương trình có thời lượng 15 phút, phát sóng vào 19 giờ các ngày
trong tuần. Chương trình gồm có 2 phần, phần đầu thường là các tin tức về
học tập, hoạt động đội hay thông tin về chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em như:
lịch khám sức khoẻ hoặc tiêm chủng vác xin… Phần hai của chương trình là

20



HTV3 là kênh truyền hình thuộc Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí
Minh, phát sóng chính thức vào tháng 1/2004. Đây là kênh truyền hình đầu tiên
dành riêng cho thiếu nhi tại Việt Nam, phát sóng hầu hết ở các mạng truyền hình
cáp và truyền hình kỹ thuật số trên cả nước. Chương trình bao gồm nhiều bộ
phim Châu Á độc quyền và có bản quyền được lồng tiếng, cùng với những
chương trình giải trí, giáo dục thiếu nhi đặc sắc được mua bản quyền từ những
hãng truyền hình danh tiếng trên thế giới như: WB, Disney Channel…
Kids TV là kênh truyền hình chuyên biệt dành cho thiếu nhi độ tuổi 1 –
15tuổi, phát sóng trên kênh VTC11- Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC. Kids
TV được phát trên nhiều hệ thống: Truyền hình KTS, TH cáp VTC, TH cáp
địa phương, TH internet, TH Di động, IPTV và TH vệ tinh. Chương trình chủ
yếu phát sóng nhiều bộ phim hoạt hình nổi tiếng được mua bản quyền trên thế
giới: “Những nốt nhạc ngộ nghĩnh”, “Chú chim cánh cụt Pô-rô-rô”….hoặc
một số chương trình dành cho các em như: “Hộp quà bí ẩn”, “Thế giới diệu
kỳ”, “Câu đố dân gian” …Các chương trình của Kids TV mang đến một sân
chơi lý thú, bổ ích, đồng thời cung cấp kiến thức trên nhiều lĩnh vực để phát
triển tài năng cho thanh thiếu nhi Việt Nam.
Bibi là kênh truyền hình dành cho trẻ em ra đời muộn nhất trong số ba
chương trình nêu trên. Bibi lên sóng vào năm 2006, được phát trên kênh
VCTV8 - thuộc mạng truyền hình cáp (trực thuộc đài Truyền hình Việt Nam).
Bibi chuyên phát sóng phim hoạt hình và các chương trình đặc biệt dành riêng
cho thiếu nhi. Những bộ phim được phát trên kênh Bibi hầu hết đã đạt nhiều
giải thưởng quốc tế như: “Công chúa Ori”, “Chuyện chú mèo máy”, “Siêu
anh hùng Danny”… Ngoài ra, hiện nay Bibi còn có các chương trình khác
như: “Thế giới ABC”, “Xứ sở diệu kỳ”, “Bé làm họa sỹ” – đây đều là những
chương trình thuần Việt nhận được nhiều tình cảm của các em.

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status