TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỦ VĂN
PHẠM THỊ MAI ANH
“NGỦ THĂM”- MỘT TRONG NHỮNG
NÉT VĂN HÓA ĐẶC SẮC CỦA
DÂN TỘC DAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
C h u y ên n gàn h : V iệ t N am h ọc
HÀ NỘI - 2015
•
•
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGŨ VĂN
PHẠM THỊ MAI ANH
“NGỦ THĂM”- MỘT TRONG NHỮNG
NÉT VĂN HÓA ĐẶC SẮC CỦA
DÂN TỘC DAO
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2015
Tác giả khóa luận
Phạm Thị Mai Anh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận này
là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của Th.s, GVC Vũ
Ngọc Doanh. Ket quả thu được là hoàn toàn trung thực và không trùng với
kết quả nghiên cứu của những tác giả khác.
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2015
Tác giả khóa luận
Phạm Thị Mai Anh
DANH MỤC VIỂT TẮT
Nxb:
Nhà xuất bản
TPHCM:
Thành phố Hồ Chí Minh
Tr:
1.2.1.1. Trang phục.............................................................................................10
1.2.1.2. Ấm th ự c................................................................................................. 15
1.2.1.3. Văn hóa, lễ hội dân gian......................................................................18
1.2.2. Đặc điêm về tín ngưỡng............................................................................. 19
CHƯƠNG 2. GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC SẢC CỦA TỤC “NGỦ THĂM”
...........................................................................................................................24
2.1. Khái niệm phong tục...................................................................................... 24
2.2. Thế nào là tục “ngủ thăm” ............................................................................ 25
2.3. Tại sao “ngủ thăm” trở thành phong tục độc đáo của người D a o ..........27
2.4. So sánh tục “ngủ thăm” của dân tộc Dao với một số dân tộc khác........30
2.5. Một số giải pháp khắc phục biểu hiện tiêu cực của tục “ngủ thăm” .... 37
2.5.1. Thực trạng của tục “ngủ thăm” trong cộng đồng người Dao hiện nay
2.5.2. Biến tướng và giải pháp khắc phục biến tướng của tục “ngủ thăm”
trong cộng đồng người Dao hiện n a y ................................................................. 37
KÉT L U Ậ N ................................................................................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
M Ờ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn hoá là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình lịch sử của dân tộc,
nó làm nên sức sống mãnh liệt giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua
bao sóng gió, ghềnh thác tưởng chừng như không thể vượt qua nổi để không
ngừng lớn mạnh và phát triển. Văn hoá là một sức sống bên trong, văn hoá
được tạo ra từ lao động sinh hoạt và phát triển trong cái nôi địa hình sinh thái
tộc Mường, dân tộc Thái, dân tộc Chơ R o ... Nhưng với dân tộc Dao tục “ngủ
thăm” có nhiều nét văn hóa đặc sắc hơn cả.
Cùng với 53 dân tộc anh em, người Dao luôn luôn là một phần của sự
thống nhất khối đại đoàn kết dân tộc và góp phần làm phong phú cho nền văn
hoá các dân tộc Việt Nam.
Trong quá trình tồn tại và phát trien, người Dao có một bản sắc văn
hóa riêng và đặc trung. Không chỉ có lễ cấp sắc độc đáo, có làn điệu dân ca,
màn múa hát thể hiện nếp sống văn hóa, phản ánh về tâm tư, nguyện vọng,
quan niệm của người Dao về các sự vật, hiện tượng và tất cả “hơi thở cuộc
sống” của họ. Mà đồng bào dân tộc Dao còn giữ bên mình nhiều phong tục
tập quán tốt đẹp, mang đậm hồn cốt dân tộc.
Tuy nhiên trước sự thay đối của cơ chế thị trường, trước làn sóng đô
thị hóa 0 ạt như hiện nay, diện mạo và giá trị văn hóa truyền thống của Việt
Nam nói chung, của đồng bào người Dao nói riêng dần thay đổi tạo nên
những mặt tiêu cực làm mất đi giá trị, ý nghĩa của những nét văn hóa trong
các phong tục đặc sắc, độc đáo. Điều đó đã ảnh hưởng đến công cuộc xây
dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Xuất phát từ tình hình
thực tiễn đó, tôi chọn đề tài
“
Ngủ thăm - M ột trong những nét vãn hóa đặc sắc của dân tộc Dao ”
2
2. Lịch sử vấn đề
Phong tục tập quán là một mảng văn hóa tinh thần không thể thiếu
trong đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam. Chính nhũng giá trị văn
hóa cội nguồn của dân tộc đã khắng định bản sắc và sự trường tồn của văn
hóa Việt. Tục “ngủ thăm” là một trong những nét văn hóa độc đáo đó. Đây là
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Tục “ngủ thăm” của đồng bào dân tộc Dao
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Tục “ngủ thăm” của dân tộc Dao ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tra cứu
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp so sánh
Phương pháp truy vấn thông tin qua Internet
7. Bố cục cùa khóa luận
Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo,
phụ lục, khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát chung
Chương 2: Tục “ngủ thăm” trong đời sống văn hóa của dân tộc Dao
4
NỘI DUNG
Chưong 1. KHÁI QUÁT CHUNG VÈ DÂN TỘC DAO
Ở VÙNG NÚI PHÍA BẮC
1.1. Sơ lược về người Dao ở vùng núi phía Bắc
1.1.1. Nguồn gốc
Theo kết quả nghiên cún của Đe án "Sưu tầm kiếm kê kho sách cồ
người Dao" do Tiến sĩ Trần Hữu Son (Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Thể thao Lào Cai) chủ trì có đăng tải thì: Người Dao có nguồn gốc xa xưa ở
đảo Hải Nam. Họ bắt đầu di cư sang Việt Nam vào thời Lê (vào khoảng cuối
thế kỷ 17). Đe đến được đất Việt, sống ở vùng núi như ngày nay, người Dao
Theo “Tống điều tra dân số và nhà ở” năm 2009, người Dao cư trú
tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn
tỉnh và 14,6% tổng số người Dao tại Việt Nam), Tuyên Quang (90.618 người,
chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1% tống số người Dao tại Việt
Nam), Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng
số người Dao tại Việt Nam),Yên Bái (83.888 người, chiếm 11,3% dân số toàn
tỉnh và 11,2% tổng số người Dao tại Việt Nam), Quảng Ninh (59.156 người,
chiếm 5,2% dân số toàn tỉnh), Bắc Kạn (51.801 người, chiếm 17,6% dân số
toàn tỉnh), Cao Bằng (51.124 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh), Lai
Châu (48.745 người, chiếm 13,2% dân số toàn tỉnh), Lạng Son (25.666
người), Thái Nguyên (25.360 người)...
1.1.3. Nhà cửa
Ớ Việt Nam, người Dao về cơ bản có ba loại hình nhà ở chính : nhà
đất, nhà sàn (người Dao Quần Trắng ở Yên Bái) và nhà nửa sàn nửa đất
(người Dao Đỏ ở Tả Phin, Sa Pa, Lào Cai).
Người Dao không có thợ làm nhà chuyên nghiệp mà mọi người trong
thôn đều có thể làm được, kể cả phụ nữ. Người Dao có tập quán tương trợ lẫn
nhau từ lâu đời. Mỗi khi trong thôn có người làm nhà thì mọi người tới làm
6
giúp hoặc góp thêm nguyên vật liệu. Vì vậy, công việc được tiến hành rất
nhanh chóng.
Loại hình nhà đất
Nhà đất là loại hình nhà ở đã có từ rất lâu đời và phổ biến trong cuộc
sống của người Dao, nhà đất thường có ba hoặc năm gian đứng (không có
chái). Người ta cho rằng: Có ở nhà nền đất thì mới có chỗ đê cúng Bàn vương.
Bộ sườn của nhà nền đất được cấu tạo khá đơn giản. Thông thường, mỗi
vì kèo chỉ có hai hoặc ba cột, một quá giang và một bộ kèo đơn. Với người
rư ợ u hay thịt ướp chua. Cách bố trí của gian nhà này là đặc trưng nhà ở của
người Dao.
Muốn làm nhà phải xem tuối những người trong gia đình, nhất là tuối
chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào
một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò,
tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết
điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí
là có thể làm nhà được.
Nghi lễ Đạo để chọn đất cho một ngôi nhà mới là rất quan trọng. Vào
buối tối, hộ gia đình đào một lỗ nhỏ, cho vào đó vài hạt gạo đế xin về người,
bò, trâu, tiền và tài sản. Các gia đình đó sẽ biết được nơi để xây dựng nhà dựa
trên những giấc mơ của họ trong đêm. Đen buối sáng, các gia đình đào lỗ đó
sẽ đến xem nếu gạo vẫn còn thì sẽ xây dựng nhà ở đó. Nếu không, ngôi nhà sẽ
được xây dựng ở những nơi khác.
1.1.4. Hoạt động sản xuất
Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phố
biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay
khác nối trội lến như: Người Dao Quần Trắng, Dao Áo Dài, Dao Thanh Y
chuyên làm ruộng nước. Người Dao Đỏ thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm
Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô,
8
các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà
ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phố biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải
nhuộm chàm. Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi
còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc
- Tiếng Bố Nỗ, 258.000 người
- Phương ngữ Ngô Nại, 18.442 người
- Phương ngữ Ưu Nặc, 9.716 người
- Phương ngữ Huỳnh Nại, 1.078 người
Một số ngôn ngữ từ các ngữ hệ khác
Một vài nhà ngôn ngữ học gộp nhóm các ngôn ngừ trên, với tông cộng
trên 287.000 người, cùng nhau như là các phương ngữ của tiếng Bố Nỗ
(*??).
Hệ ngôn ngữ Tai-Kadai
Tiếng Lạp Già (ÍẺĩj]PfỒ/ỈÌ®PÌâ, 12.000 người
Tiếng Trung: Khoảng 500.000 người Dao nói các phương ngữ của
tiếng Trung
Ngưòi Dao có chữ viết gốc Hán được Dao hóa (chữ Nôm Dao).
1.1.6. Tổ chức xã hội
Những người đàn ông Dao đóng một vai trò thống trị trong gia đình,
họ là người chia sẻ với cộng đồng và quản lý về kinh tế. Họ cũng đóng một vai
trò quan trọng trong các nghi lễ như hôn nhân, đám tang, và xây dựng nhà mới.
Người Dao có rất nhiều cái tên về gia đình khác nhau. Mỗi dòng họ có hệ
thống tên riêng của mình đế phân biệt giữa người của các thế hệ khác nhau.
Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ
dòng họ. Người Dao có nhiều họ, phồ biến nhất là các họ Bàn, Đặng, Triệu.
Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm đế phân
biệt giữa nhũng người thuộc các thế hệ khác nhau.
1.2. Khái quát về văn hóa, tín ngưỡng của người Dao
1.2.1. Đặc điểm văn hóa
1.2.1.1. Trang phục
Mỗi dân tộc đều có một trang phục mang những nét đặc sắc riêng của
mình. Nhìn vào trang phục ta có thế biết được đó là dân tộc nào. Người Dao
cũng vậy, trang phục của người Dao không chỉ biếu hiện tính cần cù, nhẫn nại
Lu y dao, hay áo khoác ngoài
Không có thắt lưng và dài đến mắt cá chân. Đuôi tà áo sau là phần
được trang trí nhiều nhất. Ngoài ra phần được trang trí là phần tay áo và vạt
11
của tà áo phía trước. Trên lưng là một họa tiết thêu hình chữ nhật gọi là luy
tan. Chiếc áo là điểm nhấn và là phần quan trọng nhất của bộ trang phục.
Người Dao Đỏ thường dùng vải lanh nhuộm chàm để may trang phục. Công
đoạn nhuộm chàm rất cầu kỳ, đòi hỏi sự kiên trì và kinh nghiệm: Vải sau khi
dệt xong sẽ ngâm trong nước lá chàm khoảng ba mươi phút rồi đem ra phơi
khô, sau đó lại tiếp tục đưa vào nhuộm nước lá chàm. Công đoạn này kéo dài
một tháng mới được một tấm vải ưng ý, bền và không bị phai màu. Chiếc áo
dài có màu chàm hoặc màu đen thường được may dài đến gần đầu gối, khi
mặc, vạt áo phải đè chéo lên vạt áo trái, c ố áo được thiết kế theo hình chữ V
có thêu hoa văn được nẹp liền với ngực, thêu kín các họa tiết trang trí bằng chỉ
màu đầu ống tay áo được trang trí các họa tiết hình sôm, hình dấu chân hổ,
hình răng cưa, hình quả trám, hình thập... Nẹp ngực mỗi bên đính bảy quả
bông len đỏ và các tua len được đính ở nơi xẻ tà.
Trong nghệ thuật thêu hoa văn, nồi bật trên màu chàm là nền hoa văn
được thêu bằng chỉ ngũ sắc. Người phụ nữ Dao Đỏ có cách thêu rất độc đáo,
không theo mẫu vẽ phác thảo trước mà thêu theo trí tưởng tượng và trí nhớ của
mình.
Hoa văn được thêu trên áo là những hoa văn sặc sỡ lấy ý tưởng từ núi
rừng thiên nhiên mang đầy đủ yếu tố tạo hình. Các họa tiết trang trí trên áo là
những hình cỏ cây, hoa lá, là những gì mà người Dao cảm nhận được trong
cách sinh hoạt hàng ngày. Cùng ý tưởng đó nhưng trên mỗi bộ trang phục, hoa
đính cúc hoa bạc theo chiều dọc ở giữa áo, mặc bên trong chiếc áo dài. Các
họa tiết thường được các hoa văn được kết hợp rất hài hòa, đẹp mắt, và có
những đường thêu bằng chỉ trắng và vàng.
•
La sin, hay thắt lưng
Giữa eo của thân áo được thắt dây lưng, dệt bằng vải màu đỏ, màu xanh
hoặc dây xà tích hay còn văn trang trí trên dây lưng tập trung ở hai đầu gồm
các họa tiết hình dấu chân hổ, hình cây thông, hình người mặc váy... Khi thắt
dây lưng phải cuốn từ ba đến bốn vòng và buộc chặt ở phía sau, giữ cho áo
khoác luôn được buộc kín.
•
La peng, hay quần dài
13
Chiếc quần dài độc đáo bởi được dệt bằng vải thô, nhuộm màu chàm
hoặc bằng vải đen và thêu hoa văn. Và đế thấy độ tinh xảo, kỹ thuật thêu cầu
kỳ phải kể đến chiếc quần.
Phía trên quần màu đen tuyền, không có hoa văn, nhưng ở phía dưới,
họa tiết được thêu rất tỉ mỉ. Những hoa văn trang trí ở hai ống quần thường là
hình vuông, hình chữ nhật màu đỏ, vàng, trắng hay hình cây thông, hình quả
trám... Tạo nên một sự cân đối hài hòa cho toàn bộ trang phục.
Khi mặc, quần phần trên màu đen không có hoa văn, quấn bằng dây,
thắt lưng, phần dưới của hai ống quần với các hoa văn, họa tiết đã tạo nên sự
cân đối hài hòa cho toàn bộ y phục.
•
cây thông, hình quả trám vuông chữ “vạn” . . .viền có các tua len màu đỏ, khi đã
mặc áo, quần, thắt lưng thì cuốn tạp dề ở ngoài cùng. Thắt tạp dề không những
đế che phần vải không thêu hoa văn của áo dài mà còn tăng thêm vẻ đẹp sang
trọng của bộ lễ phục.
Trang phục nam giới
Nam giới Dao Đỏ mặc hai áo: Ngắn và dài. Hoa văn trên áo ngắn tập
trung chủ yếu ở phần ngực, cô và lưng áo để khi mặc áo dài trùm bên ngoài,
nhũng nơi đó không bị che lấp, các họa tiết hoa văn tinh tế sẽ được phô ra
ngoài. Phần cánh tay được thêu và luy tan ở sau lưng. Đàn ông thường đội
khăn choàng đầu được thêu trang trí và đó cũng là phụ kiện không thế thiếu
trong dịp lễ tết.
Mũ trẻ em của người Dao
Những bé trai và gái người Dao đội những cái mũ riêng biệt được
thêu trang trí. Bé trai thì đội mũ được trang trí với các khuy rời bằng bạc và
đồng xu, còn bé gái thì đội mũ được trang trí với các họa tiết thêu.
1.2.1.2. Ẩm thực
Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa
tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là
chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hon ăn cơm hoặc ăn cháo, c ố i xay lúa
thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. c ố i giã có nhiều loại như cối gỗ hình
trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích
ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong,
người ra kiêng đế đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người
chết.
15
Giống như một số tộc người anh em, người Dao cũng thường xuyên
đồ xôi đế ăn trong những ngày Tet và lễ như: lễ vào nhà mới, lễ cưới hoặc
trong nhũng ngày gia đình nhờ anh em giúp cây mộng, gieo trồng ngô lúa,
16
cùng mâm. Tuy vậy, hiện nay cũng có một số gia đình thích chia ra thành hai
mâm đế ăn uống cho thuận tiện. Khi đó, mâm trong gian bếp có bà, mẹ cùng
con dâu và các cháu nhỏ, còn mâm trong gian khách có ông, bố cùng các con
trai và các cháu trai lớn tuôi.
Trong ăn uống của người Dao, khi mọi người ngồi vào mâm phải chờ
cho đủ cả gia đình mới được cầm bát đũa. Người Dao có thói quen trong bữa
ăn mời, nhường nhịn và gắp thức ăn cho nhau. Bố mẹ gắp cho ông bà và con
cái, ông bà gắp cho các cháu nhỏ. Khi thịt gà dù to hay bé đều đành bộ gan
cho ông bà, đùi chân cho những đứa trẻ bé nhất, còn đầu cánh đế cho những
đứa lớn hơn.
Trong bữa ăn, nếu có khách chủ nhà cũng không quên mời và luôn tay
gắp miếng ăn ngon cho khách. Đúng theo tập quán trước kia, người Dao vừa
ăn cơm vừa uống rượu, khách thường nhấc chén uống rượu mỗi khi chủ nhà
nâng chén mời nhưng không chạm chén. Do vậy, khách cần dựa theo khả năng
của mình mà uống nhiều hay ít mỗi khi nhấc chén uống rượu. Khi uống cạn
chén khách cứ tự nhiên để cho chủ nhà rót rượu xuống. Neu cảm thấy không
muốn uống nữa thì lấy tay đẩy nhẹ miệng chai lên mỗi khi thấy chủ nhà định
rót rượu xuống chén của mình. Khi ăn cơm xong hoặc đang ăn không được đế
đũa lên miệng bắt, bởi vì họ quan niệm rằng chỉ trong nhũng ngày ma chay
hoặc xới cơm cúng vong hồn người chết mới được để đũa như vậy.
Đối với các nghi lễ của người Dao như đám cưới, vào nhà mới, đám
ma, có một số món ăn thường được chế biến theo chuân mực đã được tập quán
cộng đồng quy định. Chẳng hạn, trong đám cưới thường phải có các món như:
xôi, thịt lợn luộc, thịt gà thiến, xương lợn nấu với một số món như măng, đậu
tương hầm... Nhìn chung, nếu đám cưới to thì có khá nhiều món và được chế
biến như trong những ngày Tet Nguyên đán. Trong lễ cấp sắc, họ thường ăn
thịt lợn, thịt gà cùng với một số món như cá suối và thịt sóc để cúng lễ. Còn