TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
o0o
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN
TRONG
HP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC
TẾ
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện:
Diệp Ngọc Dũng Dương Bảo Trân
MSSV: 5044007
Lớp: Luật Thương Mại K30
Năm 2008
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay, khi mà việc hội nhập kinh tế quốc tế và việc mở rộng tăng
cường các mối quan hệ hợp tác với nước ngo
ài là một nhu cầu thiết yếu, không
thể thiếu thì việc tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế cũng là
m
ột vấn đề được quan tâm nhất.
Mặt khác, vì hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là một hợp đồng liên
quan t
ới yếu tố nước ngoài nên việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế sẽ liên quan tới việc hợp tác mua bán với các nước khác nhau. Vì vậy việc
tham gia thực hiện chúng là một vấn đề không đơn giản. Trong đó nổi bật nhất
là các bên khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế sẽ có những quyền và
ngh
ĩa vụ gì?
N
ắm được vấn đề đó, và cũng nhằm tạo lập một khuôn khổ pháp lý hoàn
ốc tế.
Nghiên cứu thực tiễn thi hành các quy định này, đồng thời có sự
so sánh giữa các quy định của luật và thực tiễn thực hiện cũng như giữa các quy
định của Việt Nam với các nước về c
ùng một vấn đề. Từ đó phát hiện ra những
thiếu sót, bất cập trong các quy định của luật về vấn đề này.
Đề xuất phương hướng hoàn thiện, thu hẹp dần khoảng cách khác
biệt giữa pháp luật quốc gia với pháp luật các nước.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế không chỉ được ghi nhận trong pháp luật của các nước khác như: Anh, Pháp,
Hoa K
ỳ… Và để thuận lợi hơn cho việc nghiên cứu cũng như có sự tập trung
hơn trong việc thể hiện đề t
ài, trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ đề cập đến
quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo
pháp luật của Việt Nam .
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thể hiện thông qua việc sử dụng một số phương thức sau:
phân tích, tổng hợp, liệt kê, so sánh…. Nhằm giải quyết và tìm hiểu những vấn
đề đặt ra trong tiểu luận. Để từ đó có được một cái nh
ìn đúng đắn về quyền và
ngh
ĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo pháp luật
Việt Nam
5. Kết cấu của luận văn:
Ngoài mục lục, lời nói đầu, về kết cấu luận văn được thể hiện như sau:
Chương 1: Khái quát về hợp đồng mua bán h
àng hoá quốc tế
Chương 2: Quyền của
tế, chúng ta nên tìm hiểu rõ hơn vì quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng mua bán h
àng hoá quốc tế
Tuy nhiên, quy định của chúng ta về vấn đề n
ày còn rất chung chung,
thiếu sự rõ ràng và chưa đảm bảo thực thi trên thực tế, từ đó chưa thực sự bảo
vệ được quyền lợi các bên khi tham gia giao kết hợp đồng
Trong khi đó, ở một chuẩn mực nhất định, đứng ở góc độ bản chất của
một quan hệ hợp đồng thì đây là việc chúng ta cần nắm rõ để hoàn thiện hơn
nữa hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Chính vì thế, về vấn đề này rất cần có
một sự nghiên cứu toàn diện và hệ thống
Với suy nghĩ đó, nên em quyết định chọn đề tài: “Quyền và nghĩa vụ của
các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình .
Đề tài này, em chia làm 3 chương
Chương 1: Khái quát về hợp đồng mua bán h
àng hóa quốc tế:
Trong chương này, em xin tr
ình bày sơ lược qua về khái niệm, đặc điểm
và vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đồng thời tìm hiểu về nguồn
luật điều chỉnh của qua hệ hợp đồng này
- V
ề khái niệm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: thì chúng ta có
th
ể hiểu một cách đơn giản nhất là có sự trao đổi mua bán hàng hóa giữa các
nước khác nhau trong đó có sự thỏa thuận giữa b
ên bán và bên mua. Bên bán
ph
ải cung cấp hàng hóa, chuyển giao các chứng từ liên quan tới hàng hóa và
quy
hàng hóa quốc tế: pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế, tập quán về thương mại
quốc tế và trong một số trường hợp còn có các tiền lệ pháp (án lệ) về thương
mại. Các nguồn này do các bên thỏa thuận áp dụng
Đó là tất cả những vấn đề m
à em càn trình bày trong chương 1, và qua
chương 2, em xin tr
ình bày quyền của các bên trong hợp đồng mua bán hàng
hóa qu
ốc tế
Như đ
ã biết, bên mua với tư cách là bên nhận hàng do bên bán cung cấp
nen khi tham gia thực hiện hợp đồng thì bên mua sẽ các quyền sau đối với bên
bán: quy
ền yêu cầu người bán giao hàng đúng địa điểm và thời gian được quy
định trong hợp đồng, giao đúng số lượng v
à chất lượng của hàng hóa, giao các
ch
ứng từ liên quan tới hàng hóa, mặt khác, người mua còn có quyền yêu cầu
đối với việc sở hữu hàng hóa… Đó là các quyền cơ bản của người mua được
pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của người mua khi người mua thực
hiện trong quá trình giao kết hợp đồng. Mặt khác, pháp luật cũng có quy định
các quyền để bảo vệ quyền lợi của bên bán Khác với bên mua, bên bán là bên
cung c
ấp hàng hóa cho bên mua nên bên bán trong quá trình thực hiện hợp
đồng sẽ có các quyền sau: quyền y
êu cầu người mua nhận hàng và quyền yêu
c
ầu người mua thanh toán tiền hàng
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
ền yêu cầu người bán giao các chứng từ liên quan tới hàng hóa 32
2.1.1.3 Quy
ền liên quan tới sở hữu đối với hàng hóa 34
2.1.2 Quy
ền của người mua khi người bán có hành vi vi phạm hợp đồng 36
2.1.2.1 Yêu c
ầu người bán thực hiện thực sự 36
2.1.2.2 Quy
ền tuyên bố hủy hợp đồng 39
2.1.2.3 Quy
ền yêu cầu bồi thường thiệt hại 41
2.2 Quyền của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 46
2.2.1 Quyền của người bán trong quá trình thực hiện hơp đồng 47
2.2.1.1 Quy
ền yêu cầu người mua nhận hàng 47
2.2.1.2 Quy
ền yêu cầu người mua thanh toán tiền hàng 48
2.2.2 Quy
ền của người bán khi người mua có hành vi vi phạm hợp đồng 53
2.2.2.1 Yêu c
ầu người mua thực hiện thực sự 53
2.2.2.2 Quy
ền tuyên bố hủy hợp đồng 54
2.2.2.3 Quy
ền yêu cầu bồi thường thiệt hại 55
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quyền và nghĩa vụ của các bên
trong h
ợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 58
K
ẾT LUẬN 62
ngừng, các hoạt động thương mại quốc tế đang từng ngày từng giờ góp phần tích cực
làm thay đổi diện mạo của các quốc gia, của các khu vực v
à toàn thế giới. Ngày nay,
khái ni
ệm về thương mại không chỉ còn bó hẹp trong cách hiểu về thương mại hàng
hoá, d
ịch vụ mà còn mở rộng ra trong lĩnh vực thương mại đầu tư và sở hữu trí tuệ.
Tính quốc tế trong các giao lưu thương mại ngày càng đươc thể hiện rõ nét với sự
tham gia rộng rãi của các chủ thể khác nhau về quốc tịch, sự dịch chuyển liên tục hàng
hoá, d
ịch vụ, sức lao động qua biên giới, sự trao đổi các đồng ngoại tệ, sự luân chuyển
của các dòng vốn đầu tư, hay sự chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia và các vùng
lãnh th
ổ…Trong đó, các giao dịch trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, chủ yếu thông
qua các hợp đồng luôn diễn ra “sôi động nhất” giữ vị trí trung tâm trong các giao dịch
thương mại quốc tế.
Nên hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế mang đầy đủ các đặc
trưng cơ bản của
hợp đồng thương mại quốc tế (hợp đồng thương mại có yếu tố nước
ngoài). Tính quốc tế hay đặc điểm có yếu tố nước ngoài của quan hệ chính là điểm
phân biệt của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế với hợp đồng mua bán thông
thường.
Yếu tố nước ngoài có thể được quy định khác nhau trong pháp luật của các
quốc gia cũng như trong pháp luật quốc tế, nhưng nhìn chung đó là các yếu tố liên
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Dương Bảo Trân
Trang 2
quan tới quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở của các chủ thể, liên quan tới nơi xác lập hợp
đồng, nơi thực hiện hợp đồng hoặc nơi
có tài sản là đối tượng của hợp đồng.
không có x
ảy ra. Và đó chính là điểm phân biệt của hợp đồng trong lĩnh vực dịch vụ
so với hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
nói riêng.
Tóm l
ại, từ một loạt phân tích trên ta có thể kết luận hợp đồng mua bán hàng
hóa qu
ốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên mua bán ở các nước khác nhau trong đó quy
định b
ên bán phải cung cấp hàng hóa, chuyển giao các chứng từ có liên quan tới hàng
hóa và quy
ền sở hữu hàng hóa, bên mua phải thanh toán tiền hàng và nhận hàng.
2
Và từ khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
là sự thống nhất về ý chí giữa các bên trong quan hệ mua bán quốc tế (có yếu tố nước
ngoài) mà thông qua đó, sẽ thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ
1
Xem TS. Nông Quốc Bình , giáo trình luật thương mại quốc tế - Trường Đại học luật Hà Nội – NXB Tư Pháp
Hà Nội, năm 2006.
2
Xem Dương Kim Thế Nguyên , Tập bài giảng Pháp luật về hoạt động xuất nhập khẩu , Khoa Luật – Trường
Đại học Cần Thơ, 2003, Tr
-3.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Dương Bảo Trân
Trang 3
pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau. Hay nói cách khác, vì hợp đồng mua bán hàng
hóa qu
ốc tế khác với các loại hợp đồng mua bán thông thường (vì có yếu tố nước
người tham g
ia thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ căn cứ vào những
quy định đối với chủ thể l
à thể nhân trong quan hệ pháp luật thương mại trong nước
đồng thời có tính đến các quy định có tính bổ sung. Nói cách khác, trong trường hợp
này, một thể nhân muốn trở thành chủ thể tham gia thực hiện hợp đồng mua bán hàng
hóa qu
ốc tế phải là cá nhân tham gia quan hệ thương mại trong nước đồng thời hội đủ
các điều kiện bổ sung theo quy định của pháp luật để có thể tham gia thực hiện hợp
đồng: Ví dụ, theo quy định của pháp luật
Việt Nam thì thể nhân khi đã hội đủ các điều
kiện trở thành chủ thể trong hoạt động thương mại trong nước nói chung, trong lĩnh
vực hợp đồng thương mại nói riêng, nếu muốn tham gia thực hiện hợp đồng mua bán
với nước ngoài thì phải có đầy đủ điều kiện do Chính Phủ quy định sau khi đã đăng
ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Điều 33 Luật Thương mại Việt Nam).
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Dương Bảo Trân
Trang 4
Mặc dù, có những quy định cụ thể khác nhau, nhưng nhìn chung khi đề cập đến
việc xác định tư cách chủ thể của thể nhân trong quan hệ thương mại quốc tế nói
chung, trong lĩnh vực hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng, luật pháp của hầu hết
các nước đều dựa tr
ên hai tiêu chuẩn pháp lý liên quan trực tiếp đến thể nhân đó là
tiêu chu
ẩn đối với các điều kiện nhân thân và tiêu chuẩn đối với các điều kiện về nghề
nghiệp của thể nhân.
Thứ nhất: các điều kiện về nhân thân của thể nhân
Điều kiện nhân thân của một thể nhân là điều kiện pháp lý gắn liền với một con
cụ thể. Theo quy đỉnh của hầu hết các nước trên thế giới, việc xem xét về điều kiện
nhân thân của một người để trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
hỏe không bình thường là những người vì tuổi tác quá cao, hoặc do
thương tật, do bệnh tật…
mà không thể thể hiện đầy đủ ý chí của mình một cách độc
3
Xem : Diệp Ngọc Dũng, Tập bài giảng Luật Thương mại quốc tế, Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ,
NXB Trường Đại học Cần Thơ, 2002.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Dương Bảo Trân
Trang 5
lập.
4
Việc pháp luật quy định về điều kiện sức khỏe nhằm loại trừ những người bị hạn
chế năng lực hành vi tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế nói chung, tham gia
ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng.
Ngoài hai tiêu chí v
ừa nêu trên thì còn có tiêu chí về tình trạng tư pháp.
Theo quy định của pháp luật, t
ình trạng tư pháp của một người là một điều kiện
pháp lý b
ắt buộc cần phải xem xét để xác định người đó có đủ tư cách trở thành chủ
thể trong hoạt động thương mại quốc tế hay không. Về vấn đề này, luật pháp của các
nước đều quy định: Những người đang bị phạt t
ù, những người bị tòa án hoặc cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cấm tham gia hoạt động thương mại sẽ không thể trở thành
ch
ủ thể trong hoạt động thương mại quốc tế và không thể tham gia ký kết hợp đồng
thương mại quốc tế cụ thể l
à hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Ví dụ: Điều 18
Luật Thương mại Việt Nam quy định: những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình
Xem Diệp Ngọc Dũng, Tập bài giảng Luật Thương mại quốc tế, Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ, NXB
Trường Đại học Cần Thơ, 2002.
5
Xem Diệp Ngoc Dũng, Tập bài giảng Luật Thương mại quốc tế, Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ, NXB
Trường Đại học Cần Thơ, 2002.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Dương Bảo Trân
Trang 6
Trên thực tế, việc các tiêu chuẩn pháp lý này có được áp dụng cho những người có
quốc tịch nước ngoài hoặc những người không có quốc tịch tại quốc gia sở tại hay
không, điều n
ày hoàn toàn phụ thuộc vào luật pháp của từng nước và tùy theo từng
trường hợp cụ thể. Đặc biệt, điều n
ày còn phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ ngoại
giao giữa quốc gia sở tại và quốc gia có các thể nhân đang sinh sống trên lãnh thổ của
nước sở tại. Cho nên, để giải quyết vấn đề n
ày, trong quan hệ quốc tế giữa các quốc
gia, các nước n
ên ký kết hoặc tham gia vào các điều ước quốc tế trong đó thỏa thuận
các nguyên tắc pháp lý trong việc xác định địa vị pháp lý của công dân nước
ngoài.
6
Có như vậy, các quốc gia có thể hạn chế được các xung đột trong việc xác định
tiêu chí pháp lý cho các thể nhân tham gia thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế nói chung, tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế nói riêng với tư cách là chủ
thể.
+ Pháp nhân: (legal person)
Pháp nhân là ch
ủ thể phổ biến trong thương mại quốc tế. Hầu hết các hoạt động
thương mại quốc tế đều có sự tham gia của các pháp nhân.
.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Dương Bảo Trân
Trang 7
thức, bằng các phương thức mà pháp luật không cấm (Khoản 1, Khoản 2 , Điều 6 Luật
Thương mại 2005).
8
Trên nguyên tắc tự do kinh doanh trong thương mại quốc tế, pháp luật của hầu
hết các nước cho phép mọi pháp nhân là thương nhân khi có đầy đủ điều kiện tham
gia hoạt động thương mại trong nước thì cũng được phép tham gia hoạt động thương
mại quốc tế hay nói cách khác thương nhân đó được phép tham gia ký kết hợp đồng
thương mại quốc tế cụ thể ở đây l
à hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên,
do tính ch
ất quan trọng và phức tạp của hoạt động thương mại quốc tế mà pháp luật
của một số nước còn đưa ra một số điều kiện bổ sung để xác định tư cách chủ thể đối
với loại thương nhân này.
Theo đó, thương nhân nước ngoài là thương nhân được th
ành lập hoặc đăng ký
theo pháp luật nước ngoài hoạt động tại nước sở tại. Trong quá trình hoạt động,
thương nhân phải tuân thủ theo pháp luật
của nước nơi đó hoạt động. Ví dụ, theo quy
định của pháp luật Việ
t Nam, thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập
hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của nước ngoài hoặc được pháp luật nước
ngoài công nhận. Thương nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam phải thực hiện
quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam (Điều 16 Luật Thương mại
2005).
9
Và cũng theo quy định của pháp luật Việt Nam, để hiểu rõ hơn về các vấn đề
Giới (WTO) các nước thành viên phải tuân thủ quy chế và các quy định được ghi
nhận trong các Hiệp định của tổ chức này. Theo đó, quốc gia có nghĩa vụ phải thực
hiện đúng những gì mà mình đã ký kết hoặc cam kết với các quốc gia khác, mà không
có b
ất kỳ sự ưu ái nào. Hay nói cách khác, trong trường hợp này, nguyên tắc bình
đẳng được áp dụng một cách thống nhất.
Song song với trường hợp này là quốc gia tham gia quan hệ thương mại quốc
tế với các chủ thể khác như cá nhân và pháp nhân. Ở đây, quốc gia đươc xem là chủ
thể đặc biệt và được hưởng quy chế đặc biệt. Cụ thể là quốc gia sẽ được hưởng các
quy chế đặc biệt sau nếu quốc gia tham gia với tư cách là chủ thể mà không tuyên bố
quyền miễn trừ của mình:
Thứ nhất: nguyên tắc bình đẳng sẽ không được đặt ra. Nếu xét về mặt lý
luận, các chủ thể khi tham gia vào bất cứ hợp đồng nào đều có sự bình đẳng với nhau.
Tuy nhiên, sự bình đẳng sẽ không được đặt ra khi một bên chủ thể tham gia vào quan
h
ệ hợp đồng là Nhà nước. Hay nói cách khác, khi một hợp đồng kinh doanh được ký
kết giữa quốc gia và thương nhân (thể nhân hoặc pháp nhân) thì nguyên tắc bình đẳng
sẽ các chủ thể sẽ không được áp dụng. Bởi vì, quốc gia khác với các lọai chủ thể khác
là quốc gia là loại chủ thể có chủ quyền và quốc gia có quyền tối cao trong quan hệ
đối nội cũng như đối ngoại.
Mặt khác, nếu xét về mặt thực tế, quốc gia là một chủ thể
có hệ thống pháp luật, nắm cơ sở kinh tế của đất nước, có nhiều hệ thống ngân hàng,
ti
ền tệ, có lực lượng lao động và có nguồn tài nguyên thiên nhiên… Chính vì vậy, mà
qu
ốc gia có đủ điều kiện để thực hiện quyền tối cao của mình và sẽ được hưởng quyền
miễn trừ về chủ quyền (Sovereign immunity) khi tham gia quan hệ dân sự nói chung
và quan hệ kinh doanh quốc tế nói riêng.
10
Thứ hai: quốc gia sẽ được chọn luật áp dụng. Luật áp dụng ở đây là luật áp
ợp đồng và sẽ được hưởng quyền miễn trừ tư pháp nếu quốc gia không từ bỏ
quyền miễn trừ của mình khi có tranh chấp xảy ra. Nội dung của quyền miễn trừ tư
pháp quốc gia là: không một cơ quan xét xử nào có quyền xét xử quốc gia, tài sản của
quốc gia không bị sai áp để bảo đảm sơ bộ cho một vụ kiện và quốc gia sẽ không bị
ràng buộc bởi các phán quyết của tòa án nước ngoài chống lại quyền lợi của mình.
Tuy nhiên, c
ũng chính vì sự ưu ái đặc biệt đối với quốc gia trong quan hệ dân
sự nói chung, và trong kinh doanh quốc tế nói riêng, như đã trình bày trên đây đã làm
cho nhi
ều giao dịch kinh doanh giữa các quốc gia với thương nhân có sự hạn chế. Và
để khắc phục sự hạn chế đó, trong khoảng hơn hai mươi năm trở lại đây, học thuyết về
quyền miễn trừ quốc gia có giới hạn (The doctrine of restricted state immunity) đã và
đang được áp dụng một cách phổ biến trong quan hệ thương mại quốc tế. Theo học
thuyết này, thì quốc gia có thể tự hạn chế quyền miễn trừ của mình hay nói cách khác,
qu
ốc gia sẽ chịu trách nhiệm pháp lý trong quan hệ hợp đồng giống như các chủ thể
khác trong trường hợp quốc gia tuy
ên bố từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp của mình.
Vi
ệc quốc gia tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ của mình có một ý nghĩa rất quan
trọng về lý luận cũng như thực tiễn đối với việc thúc đẩy các giao dịch thương mại
quốc tế. Nó tạo ra môi trường pháp lý bình đẳng giữa các bên tham gia pháp luật dân
sự, đặc biệt là quan hệ hợp đồng, nhằm thu hút sự tham gia của các thể nhân và pháp
nhân nước ngoài. Để thực hiện quyền của mình, quốc gia quy định trong luật pháp
nước m
ình những trường hợp từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia. Ví dụ: Luật về miễn trừ
chủ quyền nước ngoài của Hoa Kỳ năm 1976 (Foreign Sovereign Immunities Act
1976). Trong đó, quy định rằng một quốc gia nước ngoài sẽ không được hưởng quyền
miễn trừ xét xử trước tòa án của Hoa kỳ nếu quốc gia nước ngoài đó đã tuyên bố từ bỏ
quyền miễn trừ quốc gia (Điều 1605). Ngoài việc quy định trong luật pháp nước mình
ững chủ thể tham gia và hoạt động thương mại quốc tế cũng như tham gia vào hợp
đồng mua bán h
àng hóa quốc tế. Các chủ thể này trên cơ sở của sự thỏa thuận với
nhau đ
ã đi đến thống nhất về sự giao kết hợp đồng của mình. Và khi hợp đồng được
giao kết thì các chủ thể phải thực hiện đúng những gì mà mình thỏa thuận và phải tuân
th
ủ theo hình thức của hợp đồng nói chung, của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
nói riêng. Việc tuân thủ hình thức hợp đồng ràng buộc các bên khi thực hiện hợp đồng
phải theo một hình thức nhất định.
- Về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
Có rất nhiều quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia và pháp luật
quốc tế về vấn đề này. Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tùy theo các
h
ệ thống pháp luật khác nhau, có hệ thống pháp luật bắt buộc hợp đồng phải được lập
thành văn bản mới có giá trị pháp lý, nhưng cũng có hệ thống pháp luật không có bất
kỳ yêu cầu nào về hình thức của hợp đồng. Việc pháp luật không yêu cầu hình thức
của hợp đồng được thể hiện rõ nhất trong Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Bộ Nguyên Tắc UNIDROIT về hợp đồng
Thương mại quốc tế năm 2004. Theo đó, Điều 12 Công ước quy định: “Hợp đồng
mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ
theo một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng. Hợp đồng có thể được chứng
minh bằng mọi cách, kể cả bằng những lời khai của nhân chứng”. Và tại Điều 12 của
Bộ Nguyên Tắc: “Bộ Nguyên Tắc UNIDROIT không bắt buộc hợp đồng, tuyên bố
hay bất kỳ một hành vi nào khác phải được giao kết hay chứng minh bằng một hình
12
Xem Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh , NXB Đại học
Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Diệp Ngọc Dũng
bản mới có giá trị pháp lý thì yêu cầu hợp đồng phải được thể hiện dưới hình thức văn
bản phải được tôn trọng (kể cả trong trường hợp chỉ cần một trong các bên có trụ sở
thương mại tại quốc gia có luật quy định hợp đồng phải được thể hiện dưới h
ình thức
văn bản).
13
Nói cách khác, nếu có sự xung đột xảy ra về hình thức của hợp đồng thì sẽ
ưu tiên áp dụng luật của quốc gia
thành viên. Đó là cách giải quyết sự xung đột về
hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Công ước Viên. Theo đó,
quyền lợi của các quốc gia thành viên sẽ được bảo vệ. Ngoài ra, bên cạnh đó, có một
điểm cần lưu
ý là ngay cả trong khái niệm “văn bản” giữa các quốc gia cũng có quan
điểm rộng hẹp khác nhau về những dạng vật chất nhất định chứa đựng th
ông tin nào
được coi là “văn bản”. Vì vậy, các bên khi tiến hành giao kết hợp đồng phải thận
trọng tìm hiểu các quy định của luật có khả năng được áp dụng cho quan hệ hợp đồng,
nhằm cố gắng tránh được tối đa các hậu quả pháp lý bất lợi và các thiệt hại có thể xảy
ra.
13
Xem Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh , NXB Đại học
Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Dương Bảo Trân
Trang 12
Tóm lại, hình thức của hợp đồng được quy định tùy theo các hệ thống pháp luật
khác nhau. Hình thức của hợp đồng có thể được quy định phải được lập thành văn
bản, hay không được lập thành văn bản như lời khai của nhân chứng thì đều có giá trị
pháp lý. Tuy nhiên, dù được quy định ra sao các bên khi tham gia thực hiện hợp đồng
g
ồm cả những giấy tờ có giá (thậm chí cả đơn vận tải đường biển). Hàng hóa bao gồm
cả vật có thực và hàng hóa tương lai. Theo luật Thương mại Việt Nam được Quốc Hội
nước Cộng h
òa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 7, khóa 11 ngày
14/06/2006 có hi
ệu lực từ ngày 01/01/2006 (sau đây gọi là Luật Thương mại 2005) tại
Khoản 2 Điều 3 quy định hàng hóa bao gồm: tất cả các lọai động sản, kể cả động sản
hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai. Như vậy, khái niệm hàng
hóa trong Lu
ật thương mại Việt Nam năm 2005 đã có sự thay đổi cơ bản so với Luật
Thương mại năm 1997 (
Khoản 3 Điều 5) vốn được hiểu theo nghĩa rất hẹp chỉ liệt kê
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Dương Bảo Trân
Trang 13
bao gồm: “máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các
động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình
th
ức cho thuê, mua bán…” mà theo đó, nhiều loại tài sản không được coi là hàng hóa
như cổ phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử
dụng đất, bí quyết công nghệ…
14
Chính vì vậy, ta có thể thấy rằng, hàng hóa dùng để trao đổi mua bán trên thị
trường thương mại quốc tế ng
ày càng rộng. Tuy nhiên, để hàng hóa được xem là đối
tượng của hợp đồng mua bán h
àng hóa quốc tế thì nó còn phải thỏa mãn các quy định
về Quy chế hàng hóa được phép mua bán trao đổi theo pháp luật của nước bên mua và
bên bán. V
Điều 402 Bộ luật Dân sự quy định một số nội dung mang tính hướng dẫn cho các bên
khi xác l
ập thực hiện hợp đồng.
14
Xem Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh , NXB Đại học
Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006
15
Xem Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh , NXB Đại học
Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Dương Bảo Trân
Trang 14
Và cũng trên cơ sở của Điều 402 Bộ luật Dân sự, thì hợp đồng mua bán hàng
hóa qu
ốc tế phải có những nội dung sau đây:
+ Tên gọi của hàng hóa:
Trong điều khoản này, hàng hóa phải được ghi một cách đầy đủ, rõ ràng,
chính xác, có kèm theo tên thương mại. Nếu đối tượng của việc mua bán gồm nhiều
mặt hàng, chủng loại hàng khác nhau thì phải ghi rõ danh mục của các mặt hàng đó.
Danh mục của các loại mặt hàng này có thể được coi là phụ lục của hợp đồng.
+ Số lượng của hàng hóa:
Đây là một trong những điều khoản quan trọng của hợp đồng, bởi vì nó liên
quan đến việc xác định rõ đối tượng của hợp đồng mua bán cũng như trách nhiệm và
ngh
ĩa vụ của các bên. Việc lựa chọn đơn vị đo lường phải căn cứ vào tính chất của
hàng hóa, vào tập quán thương mại quốc tế đối với các mặt hàng cụ thể.
Dựa vào tính chất của hàng hóa, có thể dùng các đơn vị đo phổ biến như sau:
Kg, tấn đối với các loại hàng như ngũ cốc, đường…; lít, m
3
này thường áp dụng đối với các lọai hàng đặc thù không có một tiêu chuẩn quốc tế
thống nhất hay không thể mô tả được. Ví dụ: như hàng thủ công mỹ nghệ.
Chất lượng được xác định theo tiêu chuẩn của các cơ quan có thẩm quyền cho
lọai hàng hóa nhất định, như tiêu chuẩn về kích thước, công suất, phương pháp sản
xuất. Ví dụ: theo tiêu chuẩn của VINACONTROL…
Chất lượng được xác định theo quy cách của hàng hóa hay tài liệu kỹ thuật. Ví
d
ụ: theo sơ đồ bản vẽ, bản thuyết trình về tính năng, tác dụng của hàng hóa.
Pháp lu
ật của các nước, kể cả nước ta và các văn bản pháp luật quốc tế về
thương mại không quy định r
õ cách thức xác định chất lượng của hàng hóa, mà chỉ
quy định chung chung rằng, chất lượng của h
àng hóa phải thích hợp cho những mục
đích mà hàng hóa cùng lọai, c
ùng quy cách thường được sử dụng (Mục 2 Điều 35
Công ước Vi
ên 1980; Khoản 2 Luật Thương mại Việt Nam).
Thứ hai, nghĩa vụ của các bên trong việc xác định thời hạn, địa điểm và cách
th
ức kiểm tra chất lượng. Thông thường địa điểm kiểm tra chất lượng của hàng hóa do
các bên t
ự thỏa thuận có tính đến tính chất của từng loại hàng và điều kiện giao hàng.
Hàng hóa có th
ể được kiểm tra toàn bộ hay một phần theo xác suất tùy theo tính chất
của hàng hóa. Đối với hàng không đặc định thường kiểm tra theo xác suất (gạo,
đường, h
àng may mặc…) đối với hàng đặc định thì kiểm tra toàn bộ. Các bên có thể
thuê các cơ quan chức năng hay các giám định vi
ên thực hiện việc kiểm tra chất lượng
Vi
ệc quy định địa điểm giao hàng có ý nghĩa hết sức quan trọng không những
về mặt pháp lý mà còn trong khía cạnh thương mại bởi trong hợp đồng mua bán hàng
hóa qu
ốc tế chi phí vận chuyển trong nhiều trường hợp chiếm 40- 50% giá trị của
hàng hóa. Thông thường địa điểm giao hàng do các bên quy định trong hợp đồng bằng
cách lựa chọn điều kiện giao hàng INCOTERMS.
+ Giá c
ả:
Giá cả cần phải được xác định trên cơ sở quốc tế và xuất phát từ điều kiện giao
hàng. Thông thường giá hàng được thể hiện bằng một loại ngoại tệ mạnh như USD
của Hoa Kỳ hay đồng EURO của Châu Âu. Theo nguyên tắc, giá cả cần phải được
quy định r
õ, đúng và chính xác. Trong nhiều trường hợp người mua yêu cầu người
bán ghi giá ít hơn giá thực tế để trốn thuế nhập khẩu ở nước m
ình, hoặc ngược lại để
tránh việc kiểm soát ngoại tê của nước mình, người mua cũng có thể yêu cầu người
bán ghi giá cao hơn giá thực tế để chuyển phần ch
ênh lệch vào tài khoản của người
mua ở nước ngoài.
M
ặc dù pháp luật Việt Nam chưa có quy định về hậu quả pháp lý của việc hạ
thấp hay nâng cao giá ghi trong thực tiễn thương mại quốc tế, việc trong hợp đồng ghi
giá không đúng với thực tế dẫn đến việc hợp đồng khôn
g có hiệu lực pháp lý.
+ Thanh toán:
Điều kiện thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm:
phương thức, thời hạn, địa điểm thanh toán. Hai phương thức thanh toán thường được
sử dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đó là: phương thức nhờ thu
(collection of payment) và phương thức tín dụng chứng từ (TT-Telegraphic Transfer)
chung nguyên nhân là doanh nghiệp Việt Nam chúng ta không sử dụng phương thức
thnah toán bằng tín dụng chứng từ. Những trường hợp đó đều có chung một kịch bản:
ban đầu người mua ở nước ngo
ài mua những lô hàng có giá trị nhỏ, thanh toán bằng
tín dụng chứng từ và bao giờ cũng thanh toán đầy đủ, đúng thời hạn. Sau khi đã tạo
được niềm tin đối với người bán ở Việt Nam th
ì ký hợp đồng giá trị lớn hơn và đề
nghị cho sử dụng phương thức thanh toán khác mềm dẻo hơn (trả chậm, D/A chẳng
hạn).
+ Bao bì đóng gói:
Đối với mỗi loại hàng hóa đ
òi hỏi phải có một loại bao bì hoặc được đóng gói
phù hợp bởi vì bao bì và quy cách đóng gói ảnh hưởng đến chất lượng và nhiều khi
đến cả giá cả của hàng hóa, đặc biệt l
à trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Trong trường hợp hợp đồng không có quy định khác, người bán có nghĩa vụ đóng gói
bằng cách nào để hàng đến nơi an toàn cũng như có thể dễ dàng xếp dỡ trong thời
gian quá cảnh hay tại điểm đến (Khoản 3 Điều 60 Luật thương mại Việt Nam).
Trong một số trường hợp người mua có thể từ chối nhận hàng nếu chúng không
được đóng gói ph
ù hợp với chỉ dẫn hay tâp quán thương mại. Việc giao hàng trong
bao bì hay
được đóng gói phù hợp đối với người mua có ý nghĩa quan trọng, nhất là
dười góc độ kinh tế. Bao bì, đóng gói phải phù hợp với những yêu cầu của pháp luật
hiện hành của quốc gia người mua. Ở một số nước, có một số loại bao bì bị cấm hay
hạn chế sử dụng. Hiện nay ở nhiều nước việc gắn nhãn hiệu lên bao bì được quy định
một cách nghiêm ngặt. Trong trường hợp có nghi ngờ thì người bán phải tham khảo
với người mua.
+ Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng:
Trong điều khoản n
của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng. Các bên có thể tự thỏa thuận luật
áp dụng cho hợp đồng. Theo nguyên tắc, nếu quốc gia của các bên không tham gia các
điều ước quốc tế điều chỉnh hợp đồng thì luật áp dụng có thể là luật quốc gia của
người bán, của người mua. Trong trường hợp các quy phạm điều chỉnh hợp đồng mua
bán hàng hóa ngoại thương luật quốc gia của các bên có nhiều quy định xung đột thì
các bên có th
ể áp dụng luật của nước thứ ba.
+ Giải quyết tranh chấp (trọng tài) :
Ở điều khoản này, các bên thỏa thuận thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh
trong quá trình thức hiện hợp đồng. Các bên cũng thỏa thuận và thống nhất tòa án hay
tr
ọng tài thương mại của nước ngoài giải quyết tranh chấp trong trường hợp các bên
không th
ể giải quyết bằng con đường thương lượng. Hiện nay, Việt Nam đã có trọng
tài thương mại và đ
ã tham gia Công ước New York 1958 về việc công nhận phán
quyết của trọng tài, vì vậy các doanh ngiệp của chúng ta nên chọn Trung tâm trọng tài
Thương mại Quốc tế Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh.
16
16
Xem Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh , NXB Đại học
Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006