ĐẶT VẤN ĐỀ
“ Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” (Điều 388, BLDS 2005 ). Như vậy, về
nguyên tắc chung, mọi thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ dân sự phải tuân theo các quy định chung về giao dịch dân sự và hợp đồng
dân sự trong BLDS. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như sự tác động của
phong tục, tập quán, thói quen, trên cơ sở quy định của pháp luật …mà mỗi loại hợp
đồng dân sự lại cần có những quy định đặc thù. Một trong các loại hợp đồng dân sự
thông dụng được pháp luật dân sự điều chỉnh đó là hợp đồng bảo hiểm. BLDS 2005
quy định về hợp đồng bảo hiểm từ Điều 567 đến Điều 580 và cũng chịu sự điều
chỉnh của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 . Xuất phát từ nhu cầu của con người, do
cuộc sống luôn luôn có những bất trắc xảy ra, kéo theo là những thiệt hại mà không
phải thiệt hại nào cũng có thể khắc phục được. Chính vì vậy, bảo hiểm ra đời và
phát huy tác dụng rõ rệt vì chức năng của bảo hiểm là “ lấy của số đông, bù cho số
ít”.
Với ý nghĩa quan trọng, hợp đồng bảo hiểm cũng ra đời. Do xã hội ngày
càng phát triển gắn liền với những nhu cầu ngày càng cao, thì tranh chấp trong quan
hệ hợp đồng bảo hiểm cũng trở lên phức tạp. Trong bài tiểu luận này, nhóm chúng
tôi xin được tìm hiểu sâu thêm về mặt lý luận cũng như thực tiễn tranh chấp trong
quan hệ bảo hiểm. Do kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót,
mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Những vấn đề lý luận chung
1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm
Bảo hiểm là hình thức khắc phục thiệt hại cho các nhân, tổ chức khi gặp
những sự kiện rủi ro mà gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản cho các ca
nhân, tài sản cho tập thể. Khi rủi ro, người tham gia bảo hiểm được tổ chức bảo
hiểm bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục nhanh chóng các hậu quả đã xảy ra. Mức
độ bổi thường bao nhiêu phụ thuộc vào hợp đồng bảo hiểm mà các bên thỏa
thuận.Theo Điều 567, BLDS 2005 hợp đồng bảo hiểm được định nghĩa như sau: “
định kỳ thì bên bảo hiểm ấn định một thời hạn để bên mua bảo hiểm đóng phí bảo
hiểm; nếu hết thời hạn đó mà bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm thì hợp
đòng chấm dứt”.
3.2.Sự kiện bảo hiểm
Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm có thể bị thiệt hại bởi nhiều nguyên nhân
khác nhau. Tuy nhiên, không phải bao giờ thiệt hại xảy ra đối với đối tượng bảo
hiểm thì bên bảo hiểm cũng phải thực hiện việc chi trả tiền bảo hiểm cho bên được
bảo hiểm. Chỉ những thiệt hại xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm mà thiệt hại đó do
sự kiện bảo hiểm gây ra thì bên bảo hiểm mới thực hiện việc trả tiền bảo hiểm cho
bên được bảo hiểm. Điều 571, BLDS 2005 quy định: “ Sự kiện bảo hiểm là sự kiện
khách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà sự kiện đó xảy ra thì
bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm, trừ trường hợp quy
định tại khoản 2, Điều 346 của Bộ luật này.”
4. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm.
Tùy thuộc vào từng loại hợp đồng bảo hiểm khác nhau mà quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm có sự khác nhau, tuy nhiên thì vẫn có
những điểm cơ bản sau:
4.1. Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm, bên được mua bảo hiểm
Bên mua bảo hiểm cũng có thể là bên được bảo hiểm nhưng cũng có trường
hợp bên mua bảo hiểm và bên được bảo hiểm là hai chủ thể hoàn toàn độc lập – đó
là trường hợp hợp đồng bảo hiểm được giao kết vì lợi ích người thứ ba.
- Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm, bên được bảo hiểm được thể hiện trên một số
phương diện sau đây:
+ Đối với việc cung cấp thông tin: Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, theo yêu cầu
của bên bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải cung cấp cho bên bảo hiểm đầy đủ thông
tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm, trừ thông tin mà bên bảo hiểm đã biết hoặc
phải biết.
+ Đối với nghĩa vụ phòng ngừa thiệt hại: bên được bảo hiểm có nghĩa vụ tuân thủ
+ Bên bảo hiểm : Công ty Prudential VN
Địa điểm: Đồng Tháp.
Nội dung vụ việc: Bà Huỳnh Thị Thảo ở Đồng Tháp mua bảo hiểm của công
ty Prudential VN cho con trai là Nguyễn Văn Nghĩa thời hạn đóng bảo hiểm là 15
năm, tổng giá trị là 150. Tối ngày 5-3-2006, Nghĩa bị tai nạn giao thông và tử vong.
Sau đó, bà Thảo yêu cầu Prudential VN xem xét, đền bù quyền lợi bảo hiểm, nhưng
Prudential VN từ chối không đền bù. Lý do Prudential VN đưa ra là trước khi ký
hợp đồng bảo hiểm bà Thảo đã vi phạm, không kê khai trung thực về tình trạng sức
khỏe của anh Nghĩa. Tháng 8-2008, vụ kiện được TAND tỉnh Đồng Tháp đưa ra xét
xử sơ thẩm. Theo tòa, hợp đồng BHNT của bà Thảo đã bị vô hiệu vì theo quy định
của Prudential VN HĐXX nhận xét bà Thảo đã vi phạm cam kết, tại điều 18, 19
Luật Kinh doanh bảo hiểm nên bà Thảo không được Prudential VN bồi thường 150
triệu đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX nhận định bà Thảo mua BHNT không
phải vì mục đích kinh doanh mà là hợp đồng dân sự. Việc Tòa sơ thẩm áp dụng Luật
doanh nghiệp bảo hiểm xem xét là không phù hợp. Theo Tòa phúc thẩm thì việc quy
định trong bộ luật Dân sự thì hợp đồng chỉ vô hiệu khi vi phạm các điều cấm của
pháp luật. Ngoài những lý do trên, do bản án sơ thẩm còn có những vi phạm tố tụng
khác nên HĐXX tuyên hủy án sơ thẩm xét xử lại.
Nội dung xét xử của tòa án: Tháng 8-2008, vụ kiện được TAND tỉnh Đồng
Tháp đưa ra xét xử sơ thẩm. Tòa sơ thẩm áp dụng Luật Kinh doanh bảo hiểm để
xem xét vụ kiện.Tòa nhận xét bà Thảo đã vi phạm phần cam kết, khai không trung
thực được quy định tại điều 18, 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm nên tuyên bác yêu cầu
của bà Thảo đòi Prudential VN bồi thường 150 triệu đồng. Tòa án phúc thẩm đã
xét xử lại thấy rằng bà Thảo mua bảo hiểm của Prudential VN không dùng với mục
đích kinh doanh mà chỉ là hợp đồng dân sự nên không thể áp dụng Luật kinh doanh
bảo hiểm vào xét xử vụ kiện. Tòa án phúc thẩm đã tuyên hủy án sơ thẩm và chiếu
theo bộ luật Dân Sự hợp đồng BHNT này là hợp đồng dân sự ghi nhận sự thỏa thuận
của các bên. Người mua bảo hiểm phải có nghĩa vụ đóng tiền bảo hiểm đúng kỳ hạn.
Tự tử trong vòng 24 tháng, Nhiễm HIV hoặc AIDS và Bị thi hành án tử hình. Ở đây,
lí do mà bên Prudential Việt Nam đưa ra không bồi thường là do con trai của bà
Thảo đã nhiễm HIV nên không bồi thường. Tuy nhiên, trong trường hợp này, việc
anh Nghĩa (con bà Thảo) nhiễm HIV chưa hẳn đã là do sử dụng chết ma túy, chất
gây nghiện (có thể bị lây qua đường tình dục). Trong khi câu hỏi câu số 7 (b) trong
hợp đồng là: Bạn đã, đang có sử dụng ma túy hoặc chất gây nghiện không? Hơn
nữa, thực tế là anh Nghĩa chết vi tai nạn giao thông chứ không phải là do nhiễm
HIV. Cũng cần làm rõ thêm các vấn đề như khi kê khai, bà Thảo có biết con mình bị
HIV không (vì thông thường bệnh viện giữ bí mật việc này). Khi khai báo, bà Thảo
khẳng định là con chưa từng sử dụng chất ma túy, khai như thế là đúng hay sai? Đây
là khai cho người mua hay cho con bà? Nếu thực sự con bà từng sử dụng chất đó,
nhưng nó có phải là nguyên nhân trực tiếp và duy nhất dẫn đến tử vong không?..
Đặt ra trường hợp anh T bị HIV từ trước khi tham gia bảo hiểm mà khách hàng
không khai báo khi đăng ký hợp đồng, công ty bảo hiểm có thể từ chối ký kết hợp
đồng hoặc tuyên bố hợp đồng vô hiệu bằng văn bản đến khách hàng khi họ có bằng
chứng. Còn nếu công ty này không có một văn bản nào về việc hủy hợp đồng trên
cũng như về phía khách hàng (tức bà Thảo) không có thay đổi nào thì xem như hợp
đồng đã được chấp nhận. Khi hợp đồng đã có hiệu lực và khách hàng này (con trai
bà Thảo tử vong không phải vì HIV) thì công ty vẫn phải đền bù theo điều kiện hợp
đồng đã thỏa thuận. Việc phát hiện bằng chứng, chứng minh khách hàng đã nhiếm
HIV trước khi tham gia bảo hiểm mà công ty vẫn không có một thông báo nào về
việc hủy hiệu lực hợp đồng, đến khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (mà nguyên nhân tử
vong lại không phải do nhiễm HIV) công ty mới vin vào bằng chứng này để từ chối
đền bù là không hợp lý.
Nhận xét, qua vụ việc trên, cho thấy cần phải cẩn trọng hơn trong việc mua
bảo hiểm, phía bên mua cần tìm hiểu kĩ những quy định của hợp đồng, bên bán cần
tìm hiểu rõ về đối tượng mua. Thực tế, tại phiên tòa phúc thẩm, theo lãnh đạo một
công ty bảo hiểm, quy định ràng buộc trong mẫu hợp đồng tranh chấp tại phiên tòa
được rất nhiều các công ty bảo hiểm sử dụng. Vì vậy, từ kết quả của vụ kiện này, rất
có thể nhiều công ty bảo hiểm sẽ phải điều chỉnh mẫu hợp đồng, liên quan đến hàng
PVI cho rằng: “ PVI không chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất do
nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp xảy ra trong những trường hợp vi phạm lệnh
cấm do nhà chức trách ban hành, vi phạm nghiêm trọng luật lệ giao thông...”.( đã
nêu rõ trong hợp đồng bảo hiểm của PVI với Hà Lộc)
Thế nhưng TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã cố tình bỏ qua những tình tiết
quan trọng này và đi đến phán quyết xử thắng án cho Cty Hà Lộc, theo phiên toà
sơ thẩm thì “không phân định được lỗi” trong vụ gây tai nạn đâm tàu ở tỉnh Quảng
Ngãi. Tại phần “Xét thấy” của bán án sơ thẩm, toà cho rằng: “ Trong kết luận điều
tra của Cảng vụ Quảng Ngãi đã không phân định được lỗi của tàu Hà Lộc 08 hay
của tàu Hải Xuân 09. Như vậy căn cứ mà PVI đưa ra để từ chối bồi thường cho Cty
Hà Lộc là không đúng quy định...” Toà buộc PVI có trách nhiệm thanh toán cho Cty
Hà Lộc 665.657.528 đồng. PVI phải đệ đơn kháng cáo lên TAND Tối cao tại
TPHCM xét xử phúc thẩm vụ án.
Ý kiến và nhận xét của nhóm:
Đây là trường hợp tranh chấp về việc thanh toán tiền bảo hiểm khi xảy ra sự
kiện bảo hiểm giữa bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm. Nhóm chúng tôi không
đồng ý với quyết định của Tòa án sơ thẩm Bà Rịa Vũng Tàu.
Thứ nhất, việc toà án sơ thẩm tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử thắng cho Công ty Hà
Lộc trong khi bỏ qua hết những kết luận của Cảng vụ Quãng Ngãi về nguyên nhân
gây ra vụ tai nạn đâm tàu chở dầu giữa tàu Hà Lộc 08 và Hải Xuân 09 là không
đúng với quy định của pháp luật. Luật tố tụng hình sự quy định tại khoản 1 điều 97:
“Mọi chứng cứ được công bố và sử dụng công khai như nhau, trừ những trường
hợp được quy định tại khoản 2 (chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần
phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời củacá
nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự.)”
Thứ hai, xét theo kết luận của Cảng vụ Quảng Ngãi về nguyên nhân gây ra vụ
đâm tàu, thì tàu Hà Lộc 08 hoàn toàn có lỗi khi không tuân thủ những quy định,
nguyên tắc đảm bảo an toàn giao thông đường biển được pháp luật quy định. Các
Xuất nhập khẩu Thành Nam.
+ Bên bảo hiểm : Công ty Cổ Phần Bảo hiểm Petrolimex ( PJICO).
Nội dụng vụ việc: Bà Trần Thị Thái – Phó Giám đốc Công ty TNHH Xuất nhập
khẩu Thành Nam (gọi tắt là Công ty Thành Nam) đã mua bảo hiểm của Công ty Cổ
phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) cho chiếc Mercedes E280 mang BKS 30K –
0647 của công ty. Cuối tháng 10/2008, chiếc xe Mercedes E280 bị ngập nước, dẫn
tới hư hỏng nặng nên buộc phải đưa vào xưởng sửa chữa. Ngay khi xe bị hỏng,
Công ty Thành Nam đã liên hệ với Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO)
– Đơn vị bán bảo hiểm xe cơ giới cho chiếc xe Mercedes E280. Tuy nhiên, trái với
kỳ vọng, những cán bộ có trách nhiệm của PJICO tỏ ra rất thờ ơ trong việc lập hồ
sơ, làm thủ tục giải quyết bảo hiểm cho chiếc xe của Công ty Thành Nam. Sau nhiều
ngày, Công ty Thành Nam mới liên lạc được với cán bộ bảo hiểm của PJICO và
được hướng dẫn đưa xe về Xưởng dịch vụ Mercedes An Du để chờ thủ tục giám
định, sửa chữa xe. Trong quá trình chờ đợi giám định, sửa chữa xe, một cán bộ bảo
hiểm của PJICO đã tới Công ty Thành Nam để đàm phán việc chia sẻ chi phí sửa
chữa. Vị cán bộ này yêu cầu Công ty Thành Nam phải chia sẻ, chịu trách nhiệm cho
việc khấu hao tất cả các bộ phận thay thế cùng các chi phí thay thế, sửa chữa khác
trong quá trình sửa chữa xe Mercedes 30K – 0647 cho dù chiếc xe đã được mua bảo
hiểm đầy đủ.
Nhận thấy yêu cầu này là quá vô lý nên Công ty Thành Nam đã từ chối và yêu
cầu vị cán bộ bảo hiểm này thông báo bằng văn bản nhưng sau đó chẳng hề thấy bất
cứ văn bản nào gửi lại. Ròng rã nhiều ngày sau đó, khi Công ty Thành Nam liên tục
gửi công văn, gọi điện thoại thúc giục thì đến tận ngày 10/12/2008 phía Bảo hiểm
PJICO mới có công văn số 1667/2008/PJICO/XCG về việc "Chấp nhận sửa chữa xe
30K – 0647" có nội dung rất chung chung.
Tự thấy cách giải quyết của PJICO quá chậm chạp và sẽ gây tổn thất lớn về
cơ hội kinh doanh nên Công ty Thành Nam đã phải tạm ứng trước tiền đặt hàng cho
linh kiện thay thế và thanh toán 100% chi phí sửa chữa cho Xưởng dịch vụ
Điều 48 LKDBH: “Trong trường hợp các bên không thống nhất về nguyên nhân và
mức độ tổn thất thì có thể trưng cầu giám định viên độc lập, trừ trường hợp có thỏa
thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận
được việc trưng cầu giám định viên độc lập thì một trong các bên được yêu cầu tòa
án nơi xảy ra tổn thất hoặc nơi cư trú của người được bảo hiểm chỉ định giám định
viên độc lập. Kết luận của giám định viên độc lập có giá trị bắt buộc đối với các
bên”. Do đó việc phát sinh thêm chi phí cho việc sửa chữa là rất khách quan, không
có dấu hiệu của hành vi gian lận nhằm lấy thêm tiền bảo hiểm ở đây. Với lại việc
công ty PJICO không cử người xuống Xưởng dịch vụ Mercedes An Du tức là mặc
nhiên thừa nhận thêm chi phí phát sinh đó.
Việc công văn này cũng từ chối chi trả chi phí lệ phí trước bạ đăng ký lại xe
30K – 0647 và chi phí "Cơ hội kinh doanh" (163.800.000 đồng tiền thuê xe trong
quá trình xe 30K – 0647 không sử dụng được) là sai trái. Bởi theo khoản 3 Điều 46
LKDBH quy định: “Ngoài số tiền bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm còn phải trả
cho người được bảo hiểm những chi phí cần thiết, hợp lý để đề phòng, hạn chế tổn
thất và những chi phí phát sinh mà người được bảo hiểm phải chịu để thực hiện chỉ
dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm”.
Việc mỗi lần Công ty Thành Nam đề nghị Bảo hiểm PJICO hoàn trả chi phí
bảo hiểm thì phía PJICO lại gửi một văn bản yêu cầu Công ty Thành Nam phải nộp
một vài thứ giấy tờ có liên quan khác để hoàn thiện hồ sơ chi trả tiền bảo hiểm. Đến
nay đã 6 tháng trôi qua (tính từ khi xe 30K – 0647 bị ngập nước), phía Báo hiểm
PJICO vẫn chưa thanh toán cho Công ty Thành Nam tiền bảo hiểm. Điều này cho ta
thấy được chủ ý của PJICO là chần chừ trong việc thanh toán tiền bảo hiểm, bởi nếu
đúng thì PJICO phải có trách nhiệm hướng dẫn công ty Thành Nam hoàn thiện hồ
sơ yêu cầu chi trả bảo hiểm. Chứ không phải cứ mỗi lần công ty Thành nam yêu cầu
PJICO chuyển tiền bảo hiểm thì PJICO lại yêu cầu một loại giấy tờ để hoàn thiện hồ
sơ, trong đó có những giấy tờ mà công ty Thành Nam phải nộp cho cơ quan công an
để đăng ký lại cho xe. Đây là cách gây khó dễ của PJICO, bởi theo khoản 1 Điều
chậm trả của mình (Theo khoản 2, Điều 576 BLDS).
III. Nhận xét
Pháp luật dân sự đã có những quy định trong về hợp đồng bảo hiểm. Ngoài
BLDS 2005, hợp đồng bảo hiểm còn được quy định trong Luật kinh doanh bảo hiểm
2000. Tuy nhiên những quy định của pháp luật còn một số thiếu sót. Luật hiểm kinh
doanh bảo hiểm có những mâu thuẫn liên quan đến hành vi lừa dối khi giao kết hợp
đồng bảo hiểm ( quy định tại Điều 19 và Điều 22) dẫn đến các tranh chấp trong quan
hệ hợp đồng dân sự. Ngoài ra, giữa BLDS và Luật kinh doanh bảo hiểm không
thống nhất trong quy định trả tiền bảo hiểm khi người được bảo hiểm chết trong bảo
hiểm con người. Vì vậy, trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, cần xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn để có
thể giải quyết các tranh chấp trong thực tế pháp luật diễn ra ngày càng phức tạp.
KẾT LUẬN
Hợp đồng bảo hiểm là một trong những loại hợp đồng dân sự thông dụng
được pháp luật dân sự điều chỉnh. Bảo hiểm ra đời nhằm khắc phục, giảm thiểu
những thiệt hại mà thiên nhiên cũng như con người gây ra đối với con người, tài
sản…Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển cũng kéo theo những tranh chấp
trong quan hệ bảo hiểm diễn ra phức tạp hơn. Vì vậy, mà việc cấp thiết phải xây
dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, và phù hợp. Đồng thời cũng cần phải
nâng cao hiểu biết pháp luật của người dân để có thể dễ dàng hơn trong khi tham gia
các giao kết hợp đồng tránh sai sót dẫn đến bị thiệt hại.