Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Hoa Kỳ và những kinh nghiệm cho Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG THỊ LỆ HẰNG

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG
HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
TẠI HOA KỲ VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CHO
VIỆT NAM

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG
HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
TẠI HOA KỲ VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CHO
VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số : 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐOÀN NĂNG
Hà nội – 2012
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI VÀ

2.2.3. Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng
quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam 73
CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG
MẠI Ở VIỆT NAM VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP
ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI 86
3.1. Thực tiễn hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại ở Việt Nam: 86
3.1.1. Hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam 86
3.1.2. Xu hướng phát triển của nhượng quyền thương mại ở Việt Nam: 92
3.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của
các bên trong hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại: 100
3.2.1. Một số quan điểm về hoàn thiện quy định pháp luật về nhượng quyền
thương mại và Bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại 101
3.2.2. Một số khuyến nghị hoàn thiện quy định pháp lý về quyền và nghĩa vụ
của các bên trong nhượng quyền thương mại 103
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 115 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CGCN
Chuyển giao công nghệ
FDD
Franchise Disclosure Document – Tài liệu công bố NQTM
FDD
Franchise Disclosure Document – Tài liệu công bố NQTM FTC

ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các thƣơng hiệu trong nƣớc nhƣ Phở 24, Kinh
Đô, Cà phê Trung Nguyên, cùng với các thƣơng hiệu quốc tế nhƣ hệ thống
siêu thị Parkson, BBQ, KFC, McDonald’s, Loterria, các cửa hàng bán lẻ 7 –
Eleven, hệ thống khách sạn của InterContinetal Hotels Group, hệ thống siêu
thị Metro,…không còn xa lạ và có thể coi là thƣơng hiệu nổi tiếng tại Việt
Nam hiện nay. Mô hình kinh doanh của các thƣơng hiệu này đang làm cho thị
trƣờng Việt Nam trở nên phong phú và ngày càng hấp dẫn hơn.
Theo thông tin từ Bộ Công thƣơng, năm 2009, Việt Nam đã có
khoảng 90 thƣơng hiệu quốc tế và nội địa đã đƣợc NQTM với hơn 800 cửa
hàng đang hoạt động. Trong số gần 30 thƣơng hiệu nƣớc ngoài thì hầu hết đều
là thƣơng hiệu của các doanh nghiệp lớn của Anh, Mỹ, Thụy Sĩ, Ý,
Australia [25]. Với sự phát triển mạnh mẽ của loại hình doanh nghiệp này,
2

rất nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng hoạt động NQTM sẽ bùng nổ tại Việt
Nam trong tƣơng lai không xa.
Mặc dù loại hình kinh doanh này đang trở nên ngày càng phát triển,
nhƣng quan hệ NQTM liên quan đến nhiều lĩnh vực phức tạp, trong đó sở hữu
trí tuệ và cạnh tranh là các lĩnh vực có liên quan mật thiết đến hoạt động này.
Tính chất độc lập về vốn cũng nhƣ hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền
đã làm cho bên nhận quyền luôn có xu hƣớng muốn đƣợc thực hiện các hoạt
động thƣơng mại một cách độc lập, thoát ly khỏi sự kiểm soát của bên
nhƣợng quyền. Trong khi đó, để duy trì sự vận hành ổn định của hệ thống
nhƣợng quyền và bảo vệ tối đa các quyền sở hữu trí tuệ của mình, bên
nhƣợng quyền luôn phải thực hiện việc giám sát chặt chẽ đối với toàn hệ
thống nhƣợng quyền mà cụ thể là các bên nhận quyền. Chính vì vậy, mối
quan hệ hợp tác giữa bên nhƣợng quyền và bên nhận quyền là mối quan hệ
chứa đựng nhiều khả năng phát sinh tranh chấp do các vi phạm quyền sở hữu
trí tuệ hoặc hạn chế cạnh tranh.
Để giảm thiểu những rủi ro và nhƣng tranh chấp có khả năng phát

Cho đến thời điểm hiện tại, NQTM đƣợc nghiên cứu tƣơng đối nhiều ở
Việt Nam. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu đứng dƣới góc độ kinh
tế, xã hội, hoặc nghiên cứu chung về hợp đồng NQTM mà chƣa đi sâu vào
những quy định của pháp luật cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên trong
hợp đồng. Đồng thời, các nghiên cứu này cũng chƣa tiếp cận đƣợc hoạt động
thực tiễn về nhƣợng quyền tại các quốc gia có nền tảng vững mạnh về
NQTM.
Từ việc đánh giá tình hình nghiên cứu những quy định liên quan đến
hợp đồng NQTM ở Việt Nam và tính thời sự của hoạt động này cũng nhƣ là
bảo đảm quyền lợi, tạo tiền đề vững chắc cho các bên tham gia hợp đồng thực
hiện tốt hợp đồng đã ký, có thể khẳng định đề tài ―Quyền và nghĩa vụ của các
bên trong hợp đồng NQTM tại Hoa Kỳ và những kinh nghiệm cho Việt Nam‖
4

sẽ cho chúng ta hiểu rõ hơn thực tiễn hợp đồng NQTM tại Hoa Kỳ về quyền
và nghĩa vụ của các bên, từ đó đƣa ra những kinh nghiệm cho các bên tham
gia hoạt động NQTM tại Việt Nam cũng nhƣ góp phần hoàn thiện các quy
định pháp luật liên quan.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng, phạm vi và thời gian nghiên
cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm rõ những vấn đề chủ yếu về quyền và
nghĩa vụ cũng nhƣ mối quan hệ của các bên trong hợp đồng NQTM tại Hoa
Kỳ. Từ đó, rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam và đƣa ra phƣơng hƣớng
hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
NQTM.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số quy định về NQTM tại Hoa Kỳ nói chung và các
quy định về quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng NQTM nói
riêng.

4. Cơ sở lý luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng các
phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ: phƣơng pháp tổng hợp và phân tích; phƣơng
pháp thống kê; phƣơng pháp so sánh và đối chiếu; kết hợp nghiên cứu lý luận
và thực tiễn,… Các phƣơng pháp nghiên cứu trong luận văn đƣợc thực hiện
trên nền tảng của phƣơng pháp luận duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên
cơ sở các quan điểm, đƣờng lối về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
6

Luận văn có những đóng góp sau đây:
i) Khái quát về NQTM và Hợp đồng NQTM cũng nhƣ là một số vấn
đề pháp lý cơ bản về Hợp đồng NQTM;
ii) Làm rõ cơ sở và nội dung của quyền và nghĩa vụ của các bên trong
hợp đồng NQTM tại Hoa Kỳ.
iii) Làm rõ cơ sở và nội dung của quyền và nghĩa vụ của các bên trong
hợp đồng NQTM tại Việt Nam.
iii) Đánh giá thực tiễn hoạt động NQTM ở Việt Nam và nhận định một
vài xu hƣớng phát triển NQTM ở Việt Nam.
iv) Đề xuất một số quan điểm về hoàn thiện quy định pháp luật về
NQTM và Bản giới thiệu về NQTM ở Việt Nam.
v) Đề xuất sửa đổi một số quy định của Việt Nam liên quan đến quyền
và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng NQTM cũng nhƣ một số văn bản
pháp lý liên quan mật thiết đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong NQTM
nhƣ bản giới thiệu về NQTM, hợp đồng NQTM.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ
lục, luận văn gồm 3 chƣơng sau đây:
Chƣơng 1: Tổng quan về NQTM và hợp đồng NQTM.

mại để kinh doanh tại một địa điểm hay khu vực nhất định, trong một khoản
thời gian nhất định‖. Theo giáo sƣ Andrew Terry, ―NQTM là một hệ thống
huy động đƣợc sự sáng tạo, năng động và ngày càng trở thành một phƣơng
thức kinh doanh phổ biến đối với các doanh nghiệp đang tồn tại và mới hình
thành. Trong hệ thống NQTM, bên nhƣợng quyền phải phát triển đƣợc những
khái niệm kinh doanh đã thành công và đã đƣợc công nhận và xây dựng xung
8

quanh những ngƣời nhận quyền hệ thống đã đƣợc thừa nhận, những li-xăng
để ngƣời nhận quyền sử dụng khái niệm và hệ thống của họ theo một phƣơng
thức kiểm soát tại một địa điểm xác định và vào một thời điểm nhất định tại
cơ sở kinh doanh của ngƣời nhận quyền hoặc tại những cơ sở khác‖ [14].
Tuy nhiên, để hiểu đầy đủ hơn về bản chất và nội dung của NQTM
thông qua định nghĩa NQTM, chúng ta có thể xem xét đến định nghĩa về
NQTM của một số tổ chức và một số nƣớc sau:
Theo Hiệp hội NQTM Pháp, ―NQTM là một phƣơng thức hợp tác giữa
một bên là một doanh nghiệp (bên chuyển nhƣợng) và một bên khác là một
hay nhiều doanh nghiệp (bên nhận quyền) để khai thác một đối tƣợng của
NQTM do ngƣời chuyển nhƣợng triển khai. Đối tƣợng chuyển nhƣợng gồm 3
yếu tố: quyền sở hữu và quyền sử dụng các dấu hiệu tập hợp khách hàng (biển
hiệu, nhãn hiệu, tên thƣơng mại, logo…), việc sử dụng kinh nghiệm hay bí
quyết kinh doanh, một tập hợp các sản phẩm và/hoặc dịch vụ và/hoặc công
nghệ‖ [35]
Uỷ ban (hay còn gọi là hội đồng) Thương mại Liên bang Hoa Kỳ đƣa ra
định nghĩa nhƣ sau: ―Một hợp đồng NQTM là hợp đồng theo đó Bên giao: hỗ
trợ đáng kể cho Bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát
chặt chẽ phƣơng pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận; li-xăng (cấp
quyền sử dụng) nhãn hiệu cho Bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ
theo nhãn hiệu hàng hóa của Bên giao và yêu cầu Bên nhận thanh toán cho
Bên giao một khoản phí tối thiểu‖ [33]. Định nghĩa này cũng phần nào thể

hàng hoá , nhãn hiệu dịch vụ " [35]. Nhƣ vậy, tƣơng tự nhƣ định nghĩa của
EU, định nghĩa của Nga nhấn mạnh tới việc Bên giao chuyển giao một số
quyền sở hữu trí tuệ độc quyền cho Bên nhận để đổi lấy những khoản phí nhất
định.
Australia định nghĩa NQTM nhƣ sau: ―NQTM là một thỏa thuận một
bên (bên nhƣợng quyền) cấp cho bên khác (bên nhận quyền) quyền thực hiện
10

hoạt động đề nghị giao kết hợp đồng, cung cấp hoặc phân phối hàng hóa hoặc
dịch vụ trong lãnh thổ Australia theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà
cơ bản đƣợc xác định kiểm soát hoặc đề xuất bởi bên nhƣợng quyền, theo đó:
Việc tiến hành hoạt động kinh doanh đƣợc chủ yếu gắn liền với thƣơng hiệu,
hoạt động quảng cáo hoặc biểu tƣợng thƣơng mại của bên nhƣợng quyền.
Trƣớc khi bắt đầu kinh doanh và trong quá trình kinh doanh, bên nhận quyền
phải thanh toán cho bên nhƣợng quyền một khoản phí NQTM‖. Australia đƣa
ra định nghĩa khá toàn diện về NQTM, ngoài việc chỉ ra các đặc điểm đặc
trƣng khái quát lên bản chất của NQTM còn chỉ ra đƣợc một quy trình khá chi
tiết và đầy đủ của hoạt động NQTM.
Theo quan điểm của nhóm nghiêm cứu trường Đại học Ngoại thương
Hà Nội, NQTM gọi là chuyển nhƣợng quyền sử dụng thƣơng hiệu ―là một
hoạt động thƣơng mại trong đó, bên chuyển nhƣợng cho phép bên nhận
chuyển nhƣợng quyền độc lập phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ cùng với
quyền đƣợc sử dụng một tập hợp các dấu hiệu liên kết khách hàng gắn liền
với hệ thống kinh doanh nhƣ bí quyết kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa và dịch
vụ trong một khoảng thời gian và phạm vi địa lý nhất định, theo phƣơng thức
và hệ thống kinh doanh đƣợc bên chuyển nhƣợng xây dựng và với sự trợ giúp
đáng kể, thƣờng xuyên của bên chuyển nhƣợng‖ [4].
Theo Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (hiệp hội lớn nhất
nƣớc Mỹ và thế giới), NQTM đƣợc định nghĩa nhƣ sau: "NQTM là mối quan
hệ theo hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề

do bên nhƣợng quyền quy định (các quy định về tiêu chuẩn hàng
hoá, giá sản phẩm, cách bài trí cửa hàng, cung cách phục vụ của
nhân viên )
1.1.1.2. Đặc điểm cơ bản:
12

NQTM là phƣơng thức kinh doanh đặc biệt, mặc dù rất giống với li-
xăng (cấp quyền kinh doanh), đại lý thƣơng mại và chuyển giao công nghệ
nhƣng nó không phải là một trong các phƣơng thức đó, chúng ta có thể nhận
biết NQTM qua một số đặc điểm cơ bản của nó nhƣ:
Thứ nhất, chủ thể tham gia hoạt động NQTM gồm bên nhƣợng quyền
và bên nhận quyền là các pháp nhân độc lập và hoàn toàn không phụ thuộc
với nhau về mặt pháp lý cũng nhƣ tài chính. Bên nhận quyền mặc dù kinh
doanh dƣới thƣơng hiệu của bên nhƣợng quyền nhƣng lại hoàn toàn chủ động
trong việc kinh doanh của mình, việc có lãi hay chịu lỗ không liên quan trực
tiếp đến bên nhƣợng quyền. Mặt khác, các chủ thể hoạt động NQTM đều là
những doanh nghiệp hoàn toàn độc lập về mặt trách nhiệm đối với khách
hàng và các đối tác khác trong kinh doanh, vì vậy nó sẽ có địa vị pháp lý
ngang nhau khi kinh doanh NQTM.
Thứ hai, đối tƣợng của hoạt động NQTM là vô hình – chính là quyền
thƣơng mại, đó là một thể thống nhất tạo bởi rất nhiều các quyền tài sản khác
nhau nhƣ quyền sử dụng các đối tƣợng của quyền sở hữu công nghiệp (nhãn
hiệu hàng hóa, tên thƣơng mại, bí quyết kinh doanh, bí quyết kỹ thuật ),
quyền kinh doanh theo hệ thống vận hành với phƣơng thức quản lý, tiếp thị,
đào tạo của bên nhƣợng quyền. NQTM là một hoạt động thƣơng mại trong đó
có việc sử dụng chung thƣơng hiệu cũng nhƣ các đối tƣợng quyền sở hữu
công nghiệp khác.
Thứ ba là mối quan hệ hỗ trợ mật thiết giữa bên nhƣợng quyền và bên
nhận quyền. Bên nhận quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết kinh
doanh của bên nhận quyền để sản xuất, phân phối hàng hóa và cung ứng dịch

quyền phân phối sản phẩm, nhƣợng quyền cung cấp dịch vụ và
nhƣợng quyền sử dụng công thức kinh doanh.
14

Nhƣợng quyền sản xuất hay nhƣợng quyền kinh doanh sản xuất: Đây là
loại hình NQTM theo đó bên nhận đƣợc sử dụng các nguyên liệu đặc thù và
có thể là bí quyết kinh doanh để thực hiện việc sản xuất và bán/phân phối sản
phẩm dƣới tên thƣơng mại và nhãn hiệu của bên giao. Bên giao quyền chỉ
cung cấp các nguyên liệu đặc thù, các bí quyết kỹ thuật và cấp li-xăng quyền
sử dụng các đối tƣợng sở hữu trí tuệ cho bên nhận để tiến hành kinh doanh.
Nhƣợng quyền phân phối hay nhƣợng quyền phân phối sản phẩm: Đây
là loại hình NQTM đơn giản nhất, mà mối quan hệ giữa hai bên chủ thể (bên
giao và bên nhận quyền) thực chất là quan hệ giữa nhà cung cấp và nhà phân
phối. Theo đó bên nhận quyền chỉ đƣợc thực hiện phân phối các sản phẩm do
bên giao quyền sản xuất, cung cấp dƣới thƣơng hiệu của bên giao quyền mà
không nhận đƣợc sự giúp đỡ, hỗ trợ nào từ phía bên giao quyền nhƣ các hình
thức nhƣợng quyền kinh doanh khác. Có chăng chỉ là việc bên nhận quyền
đƣợc sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ thuộc sở hữu của bên giao quyền nhƣ
tên thƣơng mại, nhãn hiệu hàng hoá, biển hiệu cửa hàng để kinh doanh. Chính
vì vậy, bên nhận quyền cũng tự do hơn trong việc kinh doanh của mình, ít
chịu sự kiểm tra, giám sát của bên giao quyền trong quá trình kinh doanh.
Hình thức nhƣợng quyền này đƣợc áp dụng rộng rãi vào thời kì trƣớc chiến
tranh thế giới thứ 2 và đến nay vẫn còn phổ biến ở các nƣớc phƣơng tây trong
các lĩnh vực nhƣ kinh doanh trong các trạm xăng dầu, đại lý bán ô tô, các
công ty nƣớc giải khát (nhƣ Coca-Cola hay Pepsi).
Nhƣợng quyền cung cấp dịch vụ: là hình thức chuyển nhƣợng bí quyết
cung cấp dịch vụ - hay bí quyết kinh doanh hoàn chỉnh cho phép bên nhận
quyền có thể cung cấp cho khách hàng dịch vụ đặc thù của hệ thống. Mục
đích của hệ thống chuyển nhƣợng này là cung cấp dịch vụ tới khách hàng của
hệ thống. Các lĩnh vực của hình thức kinh doanh này rất đa dạng nhƣ NQTM

thƣơng hiệu trong nƣớc đầu tƣ ra nƣớc ngoài bằng cách nhƣợng
16

quyền. Trung Nguyên, Phở 24 là hai trong các thƣơng hiệu nổi
tiếng ở Việt Nam đã nhƣợng quyền một cách thành công ra nƣớc
ngoài. Phở 24 đã nhƣợng quyền thành công tại Jakarta-
Indonesia. Trung Nguyên – thƣơng hiệu cà phê hàng đầu ở Việt
Nam thì đã nhƣợng quyền ở rất nhiều nƣớc nhƣ: Singapore, Nhật
Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Mỹ, Đức, Australia.
(iii) Nhượng quyền trong nước: là hình thức nhƣợng quyền mà các
thƣơng hiệu trong nƣớc đƣợc nhƣợng quyền cho chính các bên
nhận quyền trong nƣớc. Hiện nay, các thƣơng hiệu Việt Nam
nhƣợng quyền trong nƣớc đã bắt đầu phát triển. Chúng ta có thể
thấy Kinh Đô, một thƣơng hiệu bánh kẹo nổi tiếng với chuỗi các
cửa hàng bánh kẹo nhƣợng quyền. Ngoài ra còn có Phở 24, Cà
phê Trung nguyên, Foci, Ninomax
Ngoài ra, nếu căn cứ vào tiêu chí hình thức phát triển hoạt động
NQTM, ngƣời ta cũng có thể phân loại NQTM thành độc quyền và thứ cấp
hoặc NQTM vùng, NQTM phát triển khu vực hay liên doanh.
Đây là những hình thức nhƣợng quyền cơ bản nhất, từ đây có thể phát
triển thành nhiều hình thức nhƣợng quyền (các biến thể) khác. Tùy thuộc vào
điều kiện, hoàn cảnh của mình mà các bên chọn ra hình thức NQTM phù hợp
để kinh doanh.
1.1.2. Nguồn gốc, lịch sử hình thành và phát triển của nhượng quyền thương
mại
1.1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển nhƣợng quyền thƣơng mại trên thế
giới
Tuy là một hình thức kinh doanh tƣơng đối mới mẻ ở Việt Nam nhƣng
NQTM có lịch sử hình thành lâu đời và đã trở thành phổ biến trên thế giới.
17


Trƣớc chiến tranh thế giới thứ nhất, luật Chống độc quyền cấm ngƣời
sản xuất sở hữu các điểm bán hàng, không cho phép họ bán trực tiếp ô tô cho
ngƣời tiêu dùng. Chính điều đó đã thúc đẩy hình thành một hệ thống phân
phối mới. Genera Motor (GM) đã tìm ra một các thức liên kết với các nhà bán
lẻ độc quyền bằng hợp đồng độc quyền. Công ty nào muốn kinh doanh sản
phẩm của GM phải tự tìm mua đất và xây dựng cơ sở, sau đó bán ô tô và đƣợc
hƣởng khoản chênh lệch từ nhà sản xuất. Nhìn chung, trong thời gian này
nhƣợng quyền chỉ tồn tại dƣới hình thức phân phối sản phẩm mà chƣa hình
thành hình thức nhƣợng quyền công thức kinh doanh.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, NQTM đã phát triển sang nhiều lĩnh
vực khác, đặc biệt là lĩnh vực bán thức ăn nhanh và bán lẻ. Một loạt các
thƣơng hiệu đồ ăn nhanh và nhà hàng xuất hiện trong lĩnh vực bán lẻ nhƣ:
Ben Franklin, A&W Root Beer, Howard Jonhson. Hình thức này đã thực sự
phát triển rất mạnh mẽ trong thời gian này. Sự bùng nổ dân số sau chiến tranh
cùng với sự phát triển, gia tăng quảng cáo và sự mở rộng đƣờng cao tốc quốc
gia đã kéo theo sự tăng vọt nhu cầu về các loại sản phẩm và dịch vụ và lúc
này, nhƣợng quyền đã trở thành mô hình kinh doanh thích hợp để phát triển
nhanh chóng trong ngành công nghiệp thức ăn nhanh, nhà hàng và khách sạn.
Vào thập niên 60-70 của thế kỷ 20, nhƣợng quyền bùng nổ và phát triển mạnh
ở Mỹ, Anh và một số nƣớc khác. Những thƣơng hiệu tiêu biểu đã vô cùng
thành công trong thời gian này phải kể đến KFC, McDonald’s. Chính việc mở
rộng hình thức kinh doanh này đã làm cho thƣơng hiệu ngày càng lớn mạnh
và chủ sở hữu thƣơng hiệu đó có một công cụ cạnh tranh với các thƣơng hiệu
khác. Trong những năm 1970, các hệ thống NQTM tại Hoa Kỳ bắt đầu mở
rộng hoạt động sang các quốc gia phát triển khác. Đến năm 1980, tại nhiền
nƣớc khác trên thế giới, hệ thống cửa hàng NQTM sử dụng thƣơng hiệu nội
địa bắt đầu hình thành. Và đến năm 1990, NQTM đƣợc phát triển trên phạm
vi toàn thế giới, cả ở các nƣớc phát triển và đang phát triển và phát triển trên
nhiều lĩnh vực khác nhau, từ khách sạn, nhà hàng, đến giáo dục

20

khoảng 2.000 hệ thống nhƣợng quyền (cuối năm 2004), hơn 120.000 cửa
hàng nhƣợng quyền tạo ra khoảng 1,8 triệu việc làm cho ngƣời lao động và
hơn 300 công ty nƣớc ngoài đang chờ để đầu tƣ vào Trung Quốc theo hình
thức nhƣợng quyền. Các nhãn hiệu nổi tiếng hầu nhƣ đã có mặt ở Trung Quốc
nhƣ KFC (1.000 cửa hàng), McDonald's (560 cửa hàng), Pizza Hut (110 cửa
hàng), Starbucks (70 cửa hàng), Dairy Queen, 7-Eleven, Days Inn, Sign-A-
Rama Đứng thứ 3 là Nhật 1.100 hệ thống NQTM tạo ra gần 150 tỷ USD
mỗi năm với mức tăng trƣởng 7%/năm (theo Hội Đồng Nhƣợng Quyền Thế
Giới). Có khoảng 4.000 hệ thống ở Châu Âu, trong đó Đức, Anh, Ý và Tây
Ban Nha chiếm hơn một nửa. Còn Úc, xếp thứ 9 trong danh sách này với 720
nhà nhƣợng quyền và đến nay vẫn là nƣớc có tỉ lệ chuyển nhƣợng thƣơng
hiệu cao nhất thế giới (tính theo đầu ngƣời). [32]
NQTM đã thực sự có chỗ đứng quan trọng trong nền kinh tế thế giới.
Từ thế kỷ 19, thế kỷ 20 và thế kỷ 21 đã, đang và sẽ còn chứng kiến sự lớn
mạnh không ngừng của hệ thống này. Tính ƣu việt của hình thức NQTM sẽ
còn đƣợc áp dụng ở nhiều lĩnh vực, nhiều công ty, nhiều khu vực và nhiều
quốc gia trên thế giới. NQTM trong lịch sử đã thể hiện tính ƣu việt của nó,
trong hiện tại đã thể hiện sức mạnh của hệ thống và chắc rằng trong tƣơng lai
sẽ là một trong những hình thức để tiến hành hoạt động kinh doanh ƣu việt
của các công ty, các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nơi mà
nguồn vốn, kinh nghiệm quản lý, thƣơng hiệu thành công luôn là đòn bẩy cho
sự phát triển của một đất nƣớc.
1.1.2.2. Lịch sử hình thành NQTM tại Việt Nam
`Ở Việt Nam, NQTM đƣợc xuất hiện từ khá lâu nhƣng kể từ sau khi
giành đƣợc độc lập và mở cửa thị trƣờng, NQTM đã quay trở lại vào những
năm 90 với sự có mặt của Trung Nguyên. Trong thời gian này, khái niệm
NQTM tƣơng đối xa lạ và chƣa đƣợc luật hóa. Mãi đến năm 1998, lần đầu
tiên, thông tƣ 12544/BKHCN/1998 hƣớng dẫn Nghị định 45/CP/1998 về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status