Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa - Pdf 34

MỞ ĐẦU
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta
đã chủ trương mở cửa hội nhập và giao lưu với mọi dân tộc trên thế giới. Hoạt động ủy
thác mua bán hàng hóa tuy mới diễn ra trong những năm trở lại đây nhưng nó đã có
nhiều đóng góp tích cực trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước. Trong thời kỳ
của sự chuyên môn hóa, hợp tác hóa phát triển cao độ thì yếu tố thời cơ được các doanh
nghiệp đặc biệt quan tâm xem xét, với ủy thác xuất nhập khẩu thì hình thức xuất nhập
khẩu “door to door” hiện nay được dùng rất phổ biến.
Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa trong những năm qua đã có những chuyển
biến tích cực. Không chỉ giúp các doanh nghiệp mở rộng mối quan hệ với các công ty
kinh doanh trong và ngoài nước; mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho các công ty đó mà
còn tạo điều kiện để thúc đẩy quá trình phát triển của doanh nghiệp nói riêng và tăng
trưởng kinh tế của đất nước nói chung. Đồng thời bảo đảm yếu tố thời cơ đối với các
công ty kinh doanh, hoặc kịp thời tái sản xuất đối với những đơn vị sản xuất; củng cố và
xây dựng uy tín cho công ty trong và ngoài nước. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm
thì cũng không thể tránh khỏi những hạn chế, bởi trên thực tế đây là hoạt động hay xảy
ra khiếu nại tranh chấp vì thiếu sự đồng bộ thống nhất giữa đơn vị nhận ủy thác và đơn
vị ủy thác cũng như từ phía nước ngoài. Để hiểu rõ hơn về hoạt động ủy thác, nhóm em
đi vào giải quyết tình huống nêu sau:
“Doanh nghiệp A (Việt Nam) uỷ thác cho Doanh nghiệp B (Việt Nam) nhập giày
phụ nữ để bán vào mùa đông với kích cỡ, kiểu dáng, màu sắc theo đúng yêu cầu của A.
Theo những nội dung đó, B ký hợp đồng mua lô hàng trên của Doanh nghiệp C (Trung
quốc) để chuyển cho A. Do có sự biến động trên thị trường nên C đã không có đủ hàng
để giao theo thoả thuận, C thông báo với B sẽ chậm giao hàng trong thời hạn 2 tháng.
Vì vậy, B cũng không có hàng để giao cho A. Vì không có hàng để bán vào mùa đông,
và đến khi hàng được giao thì đã hết thời điểm có thể bán được nên A chịu rất nhiều
thiệt hại. Do đó, A đã phát đơn kiện B ra Trung tâm Trọng tài Kinh tế Hà Nội yêu cầu
B phải bồi thường thiệt hại cho A.”

1


2


Thứ hai, nội dung của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa bao gồm việc giao
kết, thực hiện hợp đồng ủy thác giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác và giao kết, thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bên nhận ủy thác với bên thứ ba theo yêu cầu của
bên ủy thác. Nội dung của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa hẹp hơn so với nội dung
của hoạt động đại diện cho thương nhân. Bên đại diện cho thương nhân có thể được bên
giao đại diện ủy quyền thực hiện nhiều hành vi thương mại khác nhau, trong khi bên
nhận ủy thác chỉ được bên ủy thác ủy quyền mua hoặc bán hàng hóa cụ thể nào đó cho
bên thứ ba. Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa cũng rất khác hoạt động môi giới
thương mại. Bên môi giới thương mại không giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc
hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại. Những hợp đồng này do các bên được môi giới
giao kết trực tiếp với nhau. Bên môi giới không tham gia quá trình thực hiện hợp đồng.
Còn bên nhận ủy thác trực tiếp giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa với
bên thứ ba.
Trong thực tế, vì nhiều lí do khác nhau mà ủy thác mua bán hàng hóa đã trở nên
phổ biến trong quan hệ ủy thác xuất nhập khẩu khi một đơn vị sản xuất kinh doanh
trong nước do không có điều kiện xuất nhập khẩu trực tiếp (không có nghiệp vụ xuất
nhập khẩu) ủy thác cho đơn vị chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu để thực hiện các hoạt
động mua, bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài theo những yêu cầu của mình.
Thứ ba, việc ủy thác mua bán phải được xác lập bằng hợp đồng. Hợp đồng ủy
thác mua bán hàng hóa phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị
pháp lí tương đương.
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa được giao kết giữa bên ủy thác và bên nhận
ủy thác. Bên ủy thác có thể là tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu mua bán hàng hóa. Bên
nhận ủy thác phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy
thác. Trong trường hợp, bên nhận ủy thác giao kết hợp đồng ủy thác không nằm trong
phạm vi kinh doanh của mình thì hợp đồng đó vi phạm Điều 156 Luật thương mại năm
2005 và có thể bị tuyên bố vô hiệu.

với bên thứ ba. Đó là những thỏa thuận vè số lượng, chất lượng, quy cách, giá cả của
hàng hóa được ủy thác mua hoặc bán. Nếu bên nhận ủy thác vi phạm các quy định của
hợp đồng ủy thác dẫn tới việc kí hợp đồng mua bán hàng hóa với bên thứ ba gây thiệt
hại cho bên ủy thác (ví dụ: kí hợp đồng bán hàng thấp hơn giá do bên ủy thác ấn định)
thì bên nhận ủy thác có trách nhiệm đền bù cho bên ủy thác những thiệt hại phát sinh.
Nhưng nếu bên nhận ủy thác kí hợp đồng với khách hàng theo những điều kiện thuận
lợi hơn so với các điều kiện bên ủy thác đặt ra thì Luật thương mại Việt Nam không quy
4


định cụ thể khoản chênh lệch đó thuộc về bên ủy thác hay bên nhận ủy thác. Do đó, trên
thực tế các bên có thể thỏa thuận cụ thể để phân chia phần lợi chênh lệch này.
Bên nhận ủy thác kí hợp đồng mua bán hàng hóa với bên thứ ba và phải tự mình
thực hiện hợp đồng ủy thác mua hoặc bán hàng hóa đã kí, không được ủy thác lại cho
bên thứ ba thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có sự chấp thuận bằng văn bản của bên
ủy thác (Điều 160 Luật thương mại năm 2005).
Thứ hai, thông báo cho bên ủy thác về các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện
hợp đồng ủy thác, ví dụ như những biến động của thị trường, các yêu cầu cụ thể của bên
thứ ba, khả năng giao kết hoặc không giao két được hợp đồng với bên thứ ba, việc thực
hiện hợp đồng của bên thứ ba…
Thứ ba, thực hiện các chỉ dẫn của bên ủy thác phù hợp với thỏa thuận. Khi nhận
được những chỉ dẫn cụ thể của bên ủy thác, bên nhận ủy thác phải nghiêm chỉnh thực
hiện, trừ trường hợp chỉ dẫn đó là trái với các quy định của pháp luật hoặc không phù
hợp với hợp đồng ủy thác. Bên nhận ủy thác cũng có thể không thực hiện chỉ dẫn của
bên ủy thác nếu việc thực hiện theo các chỉ dẫn này có khả năng gây thiệt hại cho bên
ủy thác và bên nhận ủy thác không thể chờ xin chỉ dẫn mới của bên ủy thác.
Thứ tư, bảo quản những tài sản, tài liệu mà bên ủy thác giao cho bên nhận ủy thác
để thực hiện công việc ủy thác. Bên nhận ủy thác phải chịu trách nhiệm trước bên ủy
thác về sự mất mát, hư hỏng tài sản, tài liệu mà bên ủy thác giao, trừ trường hợp chứng
minh được những mất mát, hư hỏng xảy ra không do lỗi của mình.

luật.
3.2.2. Quyền của bên ủy thác:
Bên ủy thác có các quyền sau, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (Điều
162 Luật thương mại năm 2005):
Thứ nhất, yêu cầu bên nhận ủy thác thông báo đầy đủ về tình hình thực hiện hợp
đồng ủy thác;
Thứ hai, không chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận ủy thác vi phạm
pháp luật, trừ trường hợp bên nhận ủy thác vi phạm pháp luật mà nguyên nhân do bên
ủy thác gây ra hoặc do các bên cố ý làm trái pháp luật.
4. Chấm dứt hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa:
Pháp luật thương mại không quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy
thác mua bán hàng hóa nhưng căn cứ vào Điều 424 Bộ luật dân sự năm 2005 thì hợp
đồng này chấm dứt trong các trường hợp do các bên thỏa thuận và trong những trường
6


hợp sau: (i) hết thời hạn ủy thác; (ii) mục đích ủy thác đã hoàn thành; (iii) một trong các
bên tham gia hợp đồng chết, mất hoặc bị hạn chết năng lực hành vi dân sự, bên nhận ủy
thác mất tư cách thương nhân; (iv) hợp đồng ủy thác bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt
thực hiện.
Pháp luật thương mại hiện hành không quy định về quyền đơn phương chấm dứt
hợp đồng của các bên tham gia hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, tuy nhiên vì hợp
đồng này là hợp đồng dịch vụ nên căn cứ vào Điều 525 Bộ luật dân sự năm 2005, bên
ủy thác có quyền đơn phương chấm dứt việc thực hiện hợp đồng nếu việc tiêp tục thực
hiện dịch vụ không có lợi cho mình nhưng phải thông báo cho bên nhận ủy thac biết
trước một thời gian hợp lí và thanh toán tiền công cho phần dịch vụ đã tiến hành và bồi
thường thiệt hại. Nếu bên ủy thác không thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện
không đúng theo thỏa thuận thì bên nhận ủy thác có quyền đơn phương chấm dứt thực
hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
II. GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:

với A. Do đó, khi C đáp ứng được các yêu cầu về mặt hàng này, B và C đã ký kết một
hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, do có sự biến động thị trường nên C đã không
kịp giao hàng theo đúng thời hạn đã thỏa thuận với B, do đó, C đã thông báo cho B biết
về sự chậm trễ của mình và hẹn giao hàng cho B chậm hai tháng so với thỏa thuận. Do
đó, B cũng không có hàng để giao cho A như đã thỏa thuận. Để xác định B có phải bồi
thường cho A hay không ta cần làm rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, xác định hành vi vi phạm xảy ra trong tình huống:
Hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi xử sự trái với những cam kết đã thỏa thuận
trong hợp đồng. Trong tình huống này, ta xác định:
+ Trong hợp đồng mua bán hàng hóa giữa B và C, C là bên có hành vi vi phạm hợp
đồng. Bởi lẽ, việc làm này của C đã vi phạm vào quy định về thời hạn giao hàng trong
hợp đồng mua bán hàng hóa theo khoản 1, Điều 37 Luật thương mại năm 2005: “Bên
bán phải giao hàng đúng thời điểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng”.
+ Trong hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa giữa A và B, B là bên có hành vi vi
phạm hợp đồng. Theo Điều 165 Luật thương mại năm 2005 về nghĩa vụ của bên nhận
ủy thác, B có nghĩa vụ “thực hiện mua bán hàng hóa theo thỏa thuận” (khoản 1);
“thông báo cho bên ủy thác về các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng ủy
thác” (khoản 2); “giao tiền, giao hàng đúng thỏa thuận” (khoản 6). Ở đây, B đã không
làm tròn nghĩa vụ giao hàng đúng thời hạn như đã thỏa thuận với A lúc ký kết hợp đồng
ủy thác mua bán hàng hóa, tức là, đã không thực hiện việc mua bán hàng hóa như đã
thỏa thuận với A. Do đó, B đã vi phạm hợp đồng theo quy định tại Điều 165 nói trên.
Nhưng ở đây cần lưu ý, việc B vi phạm hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa đã
thỏa thuận với A xuất phát từ chính hành vi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa của C.
Ngoài ra, hành vi vi phạm của C (không giao hàng đúng thỏa thuận) không nên hiểu là
8


hành vi đó xảy ra là do sự kiện bất khả kháng để trốn tránh trách nhiệm. Vì sự biến
động thị trường không được xem là một sự kiện bất khả kháng.
Thứ hai, xác định thiệt hại thực tế phát sinh trong tình huống:


Sơ đồ mối quan hệ
Doanh nghiệp B
(Việt Nam)
Bên đại lý
Hợp đồng đại lý
thương mại
Doanh ngiệp A
(Việt Nam)
Bên giao đại lý

Hợp đồng mua bán
hàng hóa
Doanh nghiệp C
(Trung Quốc)
Bên thứ ba

Trong trường hợp doanh nghiệp B không phải là bên nhận ủy thác của doanh
nghiệp A mà là đại lý của doanh nghiệp A thì ta có sơ đồ mối quan hệ như trên. Trong
đó, doanh nghiệp A là bên giao đại lý, doanh nghiệp B là bên đại lý, doanh nghiệp C là
bên thứ ba; doanh nghiệp A và doanh nghiệp B ràng buộc trách nhiệm pháp lý với nhau
bởi hợp đồng đại lý thương mại, doanh nghiệp B và doanh nghiệp C ràng buộc trách
nhiệm pháp lý với nhau bởi hợp đồng mua bán hàng hóa.
Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý
thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý
hoặc cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao. Về bản
chất, hoạt động đại lý không có gì khác so với hoạt động ủy thác. Tuy nhiên, hai hoạt
động này vẫn có một số điểm khác biệt. Từ việc giải quyết tình huống đã cho, ta sẽ thấy
được những điểm khác nhau cơ bản giữa hai hình thức hoạt động thương mại này. Cụ
thể:

nhiên, theo quan điểm của nhóm em, doanh nghiệp B đứng ra làm đại lý cho doanh
nghiệp A thì chỉ cần có đăng ký kinh doanh hàng hóa phù hợp với hàng hóa mà A giao
đại lý (tức là theo quan điểm thứ hai). Bởi vì theo quan điểm này sẽ có nhiều ưu điểm
hơn so với hai quan điểm còn lại, cụ thể, nó vừa bắt buộc phải đăng ký kinh doanh nên
Nhà nước dễ dàng quản lý, đồng thời cũng tạo cơ chế “thoáng”, năng động cho các
thương nhân hoạt động trong lĩnh vực đại lý. Trường hợp này, mặt hàng giao đại lý
được xác định là giày phụ nữ đi mùa đông; vì vậy chỉ cần có đăng ký kinh doanh mặt
hàng giày dép nói chung thì B đã có đủ khả năng để thực hiện hoạt động đại lý thông
qua hợp đồng đại lý thương mại với A. Ngoài ra, do B ký kết hợp đồng mua bán hàng
hóa với C (Trung Quốc) nên muốn nhập khẩu mặt hàng này từ thị trường giày của
11


Trung Quốc về Việt Nam thì B phải có giấy phép để tiến hành việc nhập khẩu theo quy
định pháp luật.
- Trường hợp doanh nghiệp B là bên nhận ủy thác của doanh nghiệp A: theo quy
định tại Điều 156 Luật thương mại năm 2005: “Bên nhận ủy thác mua bán hàng hóa là
thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác…”, tức là, pháp
luật quy định, với tư cách là bên nhận ủy thác, B phải là thương nhân, phải có đăng ký
kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác. Bên cạnh đó, B còn phải có
giấy phép theo quy định của pháp luật để thực hiện việc nhập khẩu mặt hàng A yêu cầu
– giày phụ nữ đi mùa đông. Ngoài ra, so với đại lý mua bán hàng hóa thì trong ủy thác,
bên nhận ủy thác phải tuân thủ tuyệt đối chỉ dẫn của bên ủy thác; vì vậy, bên đại lý sẽ
được tự do hơn so với bên nhận ủy thác trong việc lựa chọn đối tác, giao kết và thực
hiện hợp đồng.
Như vậy, về điều kiện làm trung gian đối với bên đại lý, do pháp luật chưa quy
định rõ ràng nên vẫn còn nhiều tranh cãi xoay quanh vấn đề này.
Thứ hai, về phương thức thanh toán cho bên thứ ba:
Đối với hoạt động ủy thác, thông thường bên ủy thác là doanh nghiệp A phải tự
mình thực hiện việc thanh toán tiền cho bên thứ ba là doanh nghiệp C.

Doanh nghiệp B đã có hành vi vi phạm hợp đồng đối với doanh nghiệp C (về
nghĩa vụ thanh toán). Khoản 1 Điều 302 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định trách nhiệm
dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự như sau: “Bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền”.
Vì vậy, doanh nghiệp B phải có trách nhiệm đối với hành vi không thực hiện đúng
nghĩa vụ thanh toán của mình trước doanh nghiệp C.
 Đầu tiên, nếu có hành vi vi phạm xảy ra thì “bên bị vi phạm có quyền yêu cầu
bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được
thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh” (Điều 297 Luật thương mại năm
2005). Như vậy, doanh nghiệp C có quyền buộc doanh nghiệp B thực hiện đúng
hợp đồng theo quy định của pháp luật. Trường hợp C buộc B thực hiện đúng hợp
đồng, C có thể gia hạn cho B một thời gian hợp lý để B thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng (Điều 298 Luật thương mại năm 2005).
 Sau thời gian gia hạn đó mà doanh nghiệp B vẫn không thực hiện đúng thỏa
thuận trong hợp đồng và vẫn xảy ra tranh chấp trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng
hóa, thì doanh nghiệp C có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi đó, doanh nghiệp B
sẽ là bị đơn dân sự vì chính B đã nhân danh mình giao kết hợp đồng với doanh nghiệp
C và B có hành vi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa. Như vậy, theo đúng trong quan
hệ hợp đồng mua bán hàng hóa đơn thuần thì B sẽ là người bồi thường cho C (căn cứ
13


vào nguyên tắc chung gây thiệt hại thì phải bồi thường trong Bộ luật dân sự năm
2005). Tuy nhiên, tình huống đặt ra là doanh nghiệp C giao hàng theo đúng thỏa thuận
trong hợp đồng, nhưng do doanh nghiệp A không chuyển tiền cho doanh nghiệp B nên
B không có tiền thanh toán cho C theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
 Vì vậy, trong trường hợp này sẽ được giải quyết như sau:
Thứ nhất, hướng giải quyết: Theo lý thuyết, doanh nghiệp B sẽ có trách nhiệm
bồi thường cho doanh nghiệp C, vì theo nguyên tắc chung người nào gây thiệt hại thì
phải bồi thường. Sau khi B bồi thường thiệt hại cho C xong thì B có quyền đòi A trả cho

giữa A với B về việc chuyển tiền thì vẫn chưa đến hạn nên A vẫn chưa có hành vi vi
phạm nghĩa vụ). Lúc này hành vi vi phạm của B (không thanh toán cho C) là chính do
lỗi của B. Căn cứ vào khoản 2 Điều 162 Luật thương mại năm 2005 quy định: bên ủy
thác “Không chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận ủy thác vi phạm pháp luật
trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 163 của Luật này”. Do đó, nếu phát sinh
quan hệ bồi thường, dựa vào Điều 303 Luật thương mại năm 2005 về căn cứ phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì hành vi của B đều thỏa mãn các dấu hiệu đó. Dựa
theo nguyên tắc người nào gây thiệt hại thì phải bồi thường, do đó, trách nhiệm này sẽ
thuộc về B. Việc xác định trách nhiệm của B với C sẽ tương tự như đã phân tích ở trên.

KẾT LUẬN
Qua việc giải quyết tình huống nêu trên, nhóm em đã có nhận thức rõ hơn về hoạt
động ủy thác và đại lý thương mại. Từ đó, thấy được để nền kinh tế nước ta nói chung
và hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa nói riêng phát triển hơn nữa thì Nhà nước cần
có những chính sách ưu tiên, khuyến khích các đơn vị hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu ủy thác phát triển. Hơn nữa, bằng cách điều chỉnh hoạt động mua bán ủy thác mà
nhà nước cũng có thể phần nào cân đối được các cân mậu dịch, đẩy mạnh mua bán hàng
hóa. Đồng thời hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý, tránh sự chồng chéo lẫn nhau tạo
sự thống nhất đồng bộ, ổn định riêng biệt và cụ thể. Các công ty cần giảm các khoản phí
nhằm tạo nên sự hiệu quả đối với các hoạt động ủy thác, đồng thời quản lý, kiểm tra
chất lượng hành hóa chặt chẽ.

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status