Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-------o0o------

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI :

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN
NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
THƢƠNG MẠI VÀ DU LỊCH BẢO LONG

SINH VIÊN THỰC HIỆN
MÃ SINH VIÊN
CHUYÊN NGHÀNH

: NGUYỄN THÙY LINH
: A19279
: TÀI CHÍNH

HÀ NỘI – 2015


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-------o0o------

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI :


Sinh viên
Nguyễn Thùy Linh


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ
trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người
khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên

Thang Long University Library


MỤC LỤC
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG....................1
TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP ..................................................1
1.1. Một số vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp .........................1
1.1.1. Khái niệm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp ..................................................1
1.1.2. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp ..........................................1
1.1.3. Vai trò của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp ..............................................2
1.1.4. Phân loại tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp ................................................3
1.2. Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh
nghiệp ..............................................................................................................................5
1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp .................5
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn........................6
1.2.3. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp ..................7
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh
nghiệp ............................................................................................................................26

hạn tại Công ty TNHH Thƣơng mại và Du lịch Bảo Long ......................................63
3.2.1. Xác định mức dự trữ tiền ...................................................................................63
3.2.2. Áp dụng mô hình Z-core trong tính điểm tín dụng khách hàng ......................65
3.2.3. Bổ sung chính sách thu hồi nợ trong công ty ...................................................67
3.2.4. Đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn .........................................................................68
3.3.5. Các giải pháp khác .............................................................................................69
3.2. Kiến nghị ...............................................................................................................70

Thang Long University Library


DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt
CP
DN
GVHB
GTGT
TSCĐ
TSNH
TNDN
TNHH
SXKD

Tên đầy đủ
Cổ phần
Doanh nghiệp
Giá vốn hàng bán
Giá trị gia tăng
Tài sản cố định
Tài sản ngắn hạn

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, để có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh ngày
càng gay gắt, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, các công ty luôn phải
chú trọng tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả phù hợp. Quá trình đổi mới cơ
chế quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam cũng cho thấy, doanh nghiệp nào xây
dựng và thực thi tốt chính sách sử dụng tài sản ngắn hạn thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi
nhuận cao, sản phẩm mới có tính cạnh tranh. Do vậy việc sử dụng tài sản ngắn hạn
một cách hiệu quả luôn là vấn đề đặt ra mà các nhà quản lý phải quan tâm.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn phát đạt còn
không ít những doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, phá sản. Mặc dù hầu hết các
vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố chứ không phải chỉ do hiệu
quả tài sản ngắn hạn không tốt. Nhưng thực tế thì sự bất lực của một số công ty trong
việc hoạch định, kiểm soát chặt chẽ và sử dụng không có hiệu quả các loại tài sản ngắn
hạn và các khoản nợ ngắn hạn hầu như là nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của
họ.
Trong thời gian qua, mặc dù Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long đã
có nhiều cố gắng trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả hơn, công ty
có lợi nhuận tăng. Nhưng kết quả cho thấy việc sử dụng tài sản ngắn hạn còn có nhiều
điểm chưa hợp lý dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn chưa cao. Mặc dù
mục tiêu hiệu quả đạt được của các doanh nghiệp là khác nhau nhưng tất cả đều hướng
tới đạt được lợi nhuận cao nhất, đứng trước tình hình như hiện nay Công ty Bảo Long
phải tìm cách để khắc phục tình trạng đó, đẩy nhanh công tác hoạt động nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty mình trong thời gian tới.
Do tầm quan trọng của vấn đề và quá trình tìm hiểu tình hình thực tế tại Công ty
TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long, được sự giúp đỡ nhiệt tình giáo viên hướng
dẫn cùng các cán bộ công nhân viên trong công ty, đặc biệt là các cán bộ phòng tài
chính – kế toán, em quyết định lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thƣơng mại và Du lịch Bảo Long” làm
đề tài cho khóa luận tốt nghiệp chương trình đào tạo bậc Đại học của mình.

trách nhiệm hữu hạn Thƣơng mại và Du lịch Bảo Long

Thang Long University Library


CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Một số vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Theo PGS.TS Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp – nhà xuất
bản Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên
luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh
nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán
thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho”.
Trong cuốn Kế toán – Kiểm toán và Phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Tài
chính Hà Hội năm 2010 của GS. Ngô Thế Chi, PTS. Đoàn Xuân Tiến và PTS. Vương Đình
Huệ đã định nghĩa: “Tài sản ngắn hạn là tiền, các khoản tương đương tiền và các tài
sản khác có thể chuyển đổi thành tiền, hoặc có thể bán hay sử dụng trong vòng một
năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn
phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác
có đến thời điểm báo cáo”.
Như vậy, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những khoản mục có khả năng
chuyển đổi dễ dàng và là mắt xích quan trọng trong quá trình tạo ra doanh thu. Tuy là
yếu tố tồn tại trong ngắn hạn đúng như tên gọi nhưng nếu có phát sinh trục trặc sẽ ảnh
hưởng đến quá trình hoạt động của công ty.
Từ những quan điểm trên về tài sản ngắn hạn, ta đưa ra được khái niệm đầy đủ
nhất về tài sản ngắn hạn như sau: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài
sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân
chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn
hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư hàng hóa),

lúc này sẽ lớn hơn giá trị ban đầu của nó. Đối với loại hình doanh nghiệp SXKD, tài
sản ngắn hạn thường được biểu hiện dưới hình thái là hàng tồn kho (nguyên vật liệu)
dùng cho mục đích sản xuất phải trải qua một quá trình biến đổi thành thành phẩm,
hàng hóa hoàn chỉnh để xuất bán ra thị trường.
Thứ tƣ, tài sản ngắn hạn có giá trị luân chuyển toàn bộ một lần vào giá
thành sản phẩm làm ra. Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh
nghiệp cần phải có ba yếu tố là: Đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động.
Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động chính là tài sản ngắn hạn.
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm
hàng hoá lao vụ, dịch vụ. Khác với tư liệu lao động, giá trị của các đối tượng lao động
(là các nguyên vật liệu tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất) được chuyển dịch
toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực
hiện. Điều này có nghĩa là mọi chi phí phát sinh trong quá trình biến đổi tài sản ngắn
hạn thành thành phẩm đã được tính vào giá thành của sản phẩm trước khi đưa ra thị
trường.
1.1.3. Vai trò của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thể thực hiện hoạt động kinh
doanh. Tài sản ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị tài sản của
doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh thương mại. Giá trị các loại tài sản
ngắn hạn của các doanh nghiệp kinh doanh sản xuất thường chiếm từ 25% đến 50%
tổng giá trị tài sản. Do đó, tài sản ngắn hạn đóng vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn chính là đối tượng lao động trực tiếp

2
Thang Long University
Library


tham gia vào quá trình sản xuất. Ngoài ra, doanh nghiệp cần dự trữ tài sản ngắn hạn để
đáp ứng cho các chi phí giao dịch, chi phí giao dịch bao gồm phí dịch vụ cho việc mua

doanh
Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ bao gồm các khoản: Nguyên vật liệu
chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ và dụng cụ.
Tài sản nằm trong khâu sản xuất bao gồm sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm và các khoản chi phí chờ kết chuyển.

3


Tài sản ngắn hạn trong khâu lƣu thông bao gồm thành phẩm, hàng hóa mua
ngoài, hàng gửi bán, vốn bằng tiền và các khoản vốn dùng trong thanh toán.
Hình thức phân loại này cho ta biết vai trò của các tài khoản, dựa vào đó, nhà
quản lý điều chỉnh cơ cấu tài sản hợp lý và có biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
1.1.4.2. Phân loại theo hình thái biểu hiện của tài sản ngắn hạn
Tài sản bằng vật tƣ hàng hóa: những tài sản được biểu hiện dưới hình thái
như hàng tồn kho, nguyên vật liệu.
Tài sản bằng tiền: các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, v.v...
Cách phân loại này cho doanh nghiệp biết cơ cấu dự trữ của các khoản mục,
khả năng thanh toán của doanh nghiệp và có giải pháp điều chỉnh hợp lý.
1.1.4.3. Phân loại tài sản ngắn hạn dựa trên các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
Căn cứ theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán, tài sản ngắn hạn bao
gồm: tiền và chứng khoán khả thị, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tài sản
ngắn hạn khác.
Tiền: được biểu hiện là tiền tồn quỹ, tiền gửi trong ngân hàng, tiền đang
chuyển. Tiền mặt được sử dụng để mua nguyên vật liệu, mua sắm tài sản cố định, trả
lương nhân viên và chi trả các khoản khác.
Chứng khoán khả thị: bao gồm các loại chứng khoán có khả năng sinh lời cho
doanh nghiệp và có thể chuyển đổi sang tiền mặt dễ dàng với chi phí thấp.
Phải thu khách hàng: được hình thành từ việc bán chịu cho khách hàng, khoản

doanh của doanh nghiệp. Do đó các doanh nghiệp phải luôn tìm mọi biện pháp để
nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.
Theo nghĩa chung nhất: “Hiệu quả là một khái niệm phản ánh trình độ sử dụng
các yếu tố đầu vào để tạo ra kết quả đầu ra tốt nhất với mục đích xác định”. Như vậy,
có thể hiểu hiệu quả sử dụng là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng các
nguồn lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh
doanh, tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu với tổng chi phí thấp nhất.
Do đó, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là phạm trù kinh tế đánh giá trình độ
sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu cao nhất với mức tài
sản ngắn hạn hợp lý (tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí). Trình độ sử dụng tài
sản ngắn hạn được thể hiện ở viêc doanh nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn như thế nào
trong các quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông. Cụ thể, quá trình vận động của tài
sản ngắn hạn bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành
sản xuất và khi sản xuất xong doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới
hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm. Mỗi lần vận động như vậy được gọi là
một vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn. Doanh nghiệp sử dụng vốn đó càng có
hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều bấy nhiêu. Với
lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn từng
đồng tài sản ngắn hạn, làm cho mỗi đồng tài sản ngắn hạn hàng năm có thể mua sắm
nguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm và tiêu thụ được nhiều hơn.
Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp nâng cao tốc độ luân chuyển
tài sản ngắn hạn (số vòng quay tài sản ngắn hạn trong một năm).
Tóm lại, “Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù kinh tế, phản
ánh tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt lợi nhuận cao nhất
với chi phí thấp nhất” [2, tr.199]. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp gia tăng được lợi
nhuận, giúp doanh nghiệp phát huy được hiệu quả mà các tài sản ngắn hạn đem lại
trong quá trình sử dụng.

5


Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng tài
sản ngắn hạn luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày với vai trò to lớn như vậy,
việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn
hạn trong doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu.
1.2.2.3. Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tức là có thể tăng tốc độ luân
chuyển tài sản ngắn hạn, rút ngắn thời gian tài sản ngắn hạn nằm trong lĩnh vực dự trữ,

6
Thang Long University
Library


sản xuất và lưu thông, từ đó giảm bớt số lượng tài sản ngắn hạn bị chiếm dụng, tiết
kiệm tài sản ngắn hạn trong luân chuyển.
Tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn cũng có ảnh hưởng tích cực đối với
việc hạ thấp giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn thỏa mãn
nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các khoản thuế cho ngân sách Nhà nước,
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong cả nước.
1.2.2.4. Xuất phát từ thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại các doanh
nghiệp
Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến một doanh nghiệp làm ăn thiếu
hiệu quả thậm chí thất bại trên thương trường. Các nguyên nhân chủ quan, nguyên
nhân khách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến vẫn là việc sử dụng tài sản
ngắn hạn không hiệu quả. Trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí tài sản ngắn hạn, tốc độ luân chuyển tài sản
ngắn hạn thấp, mức sinh lợi kém và thậm chí có doanh nghiệp còn gây thất thoát
không kiểm soát được tài sản lưu động dẫn đến mất khả năng tổ chức sản xuất kinh
doanh, khả năng thanh toán.
Do đó, yêu cầu cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một nội

sản ngắn hạn. Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản ngắn hạn được xác định như sau:
Giá trị của t ng bộ phận TSNH
T trọng của t ng bộ phận TSNH
Tổng tài sản ngắn hạn
Việc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản ngắn hạn
chiếm trong tổng số tài sản ngắn hạn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc mặc dầu cho
phép các nhà quản lý đánh giá được khái quát tình hình phân bổ (sử dụng) vốn nhưng
lại không cho biết được chính xác các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của
các nhân tố đến sự biến động về cơ cấu tài sản ngắn hạn. Do đó, các nhà phân tích còn
kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ
gốc (cả về số tuyệt đối và tương đối) trên tổng số tài sản ngắn hạn.
Thông qua bước phân tích trên, các nhà quản lý sẽ thấy được những đặc trưng
cơ bản trong cơ cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, xác định được tính hợp lý của
việc đầu tư, sử dụng tài sản ngắn hạn. Qua việc xem xét cơ cấu tài sản ngắn hạn và sự
biến động về cơ cấu tài sản ngắn hạn qua nhiều kỳ kinh doanh, các nhà quản lý sẽ
quyết định đầu tư vào khoản mục tài sản ngắn hạn nào là thích hợp, đầu tư vào thời
điểm nào; xác định được việc gia tăng hay cắt giảm hàng tồn kho cũng như mức dự trữ
hàng tồn kho hợp lý trong từng thời kỳ để sao cho có đủ lượng hàng tồn kho cần thiết
đáp ứng chu cầu sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường mà không làm tăng chi
phí tồn kho; có chính sách thích hợp về thanh toán để vừa khuyến khích được khách
hàng vừa thu hồi vốn kịp thời, tránh bị chiếm dụng vốn,... Khi phân tích cơ cấu tài sản
ngắn hạn, nhà phân tích cần liên hệ với số liệu bình quân của ngành cũng như số liệu
của các doanh nghiệp khác (nếu có) để có nhận xét thích đáng hơn về tình hình sử
dụng tài sản ngắn hạn và tính hợp lý của cơ cấu tài sản ngắn hạn. Đồng thời, căn cứ
vào tính hình thực tế của doanh nghiệp cũng như chính sách đầu tư và chính sách kinh
doanh mà doanh nghiệp vận dụng trong từng thời kỳ đánh giá.
1.2.3.2. Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Do đó, sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rất quan
trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Chính sách quản lý

trung vào các quyết định sau: Quản lý hoạt động thu - chi của tiền mặt; xác định nhu
cầu dự trữ tiền mặt tối ưu, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán khả thị và quản lý
ngân quỹ.
(1.1) Quản lý hoạt động thu – chi tiền mặt
Trong quản lý thu chi tiền mặt, một nguyên tắc tất yếu đó chính là “tăng thu –
giảm chi”, tức là nhà quản lý cần tăng tốc độ thu hồi những khoản tiền nhận được và
chậm chi những khoản cần phải chi trả. Tăng thu là doanh nghiệp tích cực thu hồi
được các khoản nợ từ khách hàng để sớm có vốn quay vòng đầu tư vào các hoạt động
của doanh nghiệp, đảm bảo thông suốt quá trình giao dịch kinh doanh. Giảm chi là tận
dụng thời gian chênh lệch của các khoản thu, chi, chậm trả lương để có càng nhiều tiền
nhàn rỗi để đầu tư sinh lời. Lúc này, doanh nghiệp sẽ có một lượng tiền nhàn rỗi để
đem đầu tư tài chính ngắn hạn hay bổ sung cho tài sản ngắn hạn để nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản ngắn hạn.
Để chọn được một phương thức hiệu quả, nhà quản lý cần so sánh giữa lợi ích
và chi phí tăng thêm của các phương thức thu – chi sao cho lợi ích đem lại là lớn nhất
đối với doanh nghiệp. Ta có thể dựa trên cơ sở dưới đây để thực hiện so sánh, đánh
giá:
∆B

∆t * TS * I * (1 – T)

9


∆C

(C2 – C1) * (1 – T)

Trong đó:
∆B = Lợi ích tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất

cán cân tiền mặt. Do tiền mặt biến động hầu như liên tục và không thể giữ chúng ở
mức vừa đúng với hạn mức chuẩn trong tất cả mọi thời điểm, do đó chúng ta phải thiết
lập một mô hình để xác định mức tiền mặt mà công ty phải mua hay bán các loại
chứng khoán thanh khoản cao. Việc thiết lập mức dự trữ tiền tối ưu không những đảm

10
Thang Long University
Library


bảo doanh nghiệp có đủ tiền để thực hiện thanh toán các chi phí giao dịch thường
xuyên mà còn giúp cho lượng tiền nhàn rỗi được đem đi đầu tư sinh lời, gia tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nâng cao tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn
hạn.
Người đầu tiên vận dụng mô hình EOQ vào quản trị tiền mặt là nhà khoa học
người Hoa Kỳ William J.Baumol (1952). Mô hình cho rằng, mỗi doanh nghiệp đều có
một dòng lưu kim thuần ổn định, là kết quả của dòng lưu kim chi phí và dòng lưu kim
thu nhập trên phương diện kế hoạch. Giả sử một doanh nghiệp có kỳ vọng có dòng lưu
kim thu nhập đều đặn là A/kỳ và dòng lưu kim chi phí là B/kỳ. Bởi vậy dòng lưu kim
chi phí thuần là (B-A)/kỳ.
Doanh nghiệp khởi sự các giao dịch chuyển tiền tệ ở đầu kỳ đầu tiên có cán cân
tiền mặt là C (Hình 01). Với lượng tiền sử dụng ổn định mỗi kỳ là (B-A), số tiền này
sẽ hết sau C/(B-A) kỳ. Tại thời điểm kết thức kỳ thứ C/(B-A), cán cân tiền mặt bằng 0
và cần phải bán một lượng chứng khoán có giá trị C để phục hồi cán cân tiền ban đầu.
Như hình 02 cho thấy, cán cân tiền mặt khi bắt đầu các hoạt động là C và giảm dần
đều đến hết mỗi chu kỳ C/(B-A). Bởi vậy, lượng tiền mặt trung bình của doanh nghiệp
là C/2.
Hình 1.1. Mô hình tồn quỹ tiền mặt
Cán cân tiền mặt
(C)

â







á

Do đó, tổng chi phí (TC) cho việc tiến hành T/C lần chuyển đổi các loại chứng
khoán, mỗi lần có giá trị C trong năm là:
(

)

(

)

Từ đó, ta có thể thấy rằng tổng chi phí sẽ ở mức tối thiểu khi:

C’ là mức dự trữ tiền mặt tối ưu.
(1.3) Quản lý ngân quỹ
Ngân quỹ có thể được hiểu là toàn bộ khoản tiền thu chi của một tổ chức hay
đoàn thể. Quản lý ngân quỹ là sự tác động của các chủ thể quản lý trong doanh nghiệp
lên các khoản thực thu và thực chi bằng tiền nhằm thay đổi mức tồn quỹ thực tế của
doanh nghiệp sao cho ngân quỹ doanh nghiệp đạt mức tối ưu nhằm tối đa hoá giá trị
tài sản của chủ sở hữu và đảm bảo khả năng chi trả của doanh nghiệp trong từng thời
kỳ trong điều kiện biến động của môi trường. Do vậy mà việc quản trị dòng tiền luôn

mua bán chứng khoán ngắn hạn. Khi tồn quỹ đụng giới hạn trên tại điểm X thì công ty
sẽ mua (H-Z) đồng chứng khoán ngắn hạn để giảm tồn quỹ trở về Z. Ngược lại, khi
tồn quỹ giảm đụng giới hạn dưới tại điểm Y thì công ty sẽ bán (Z-L) đồng chứng
khoán để tăng tồn quỹ lên đến điểm Z.
Mô hình Miller Orr xác định mức tồn quỹ dựa vào chi phí cơ hội và chi phí giao
dịch. Chi phí giao dịch (F) là chi phí liên quan đến việc mua bán chứng khoán ngắn
hạn để chuyển đổi từ tài sản đầu tư cho mục đích sinh lời ra tiền mặt nhằm mục đích
thanh toán. Chi phí giao dịch không phụ thuộc vào doanh số mua bán chứng khoán
ngắn hạn. Chi phí cơ hội giữ tiền mặt là K, bằng lãi suất ngắn hạn. Trong mô hình
Miller Orr, số lần giao dịch của một kỳ là số ngẫu nhiên thay đổi tùy thuộc vào biến
động của luồng thu và luồng chi tiền mặt. Kết quả là chi phí giao dịch phụ thuộc vào
số lần giao dịch chứng khoán ngắn hạn kỳ vọng còn chi phí cơ hội phụ thuộc vào tồn
quỹ kỳ vọng.
Với tồn quỹ thấp nhất L đã cho, giải mô hình Miller Orr chúng ta tìm được tồn
quỹ mục tiêu (Z) và giới hạn trên (H). Giá trị của Z và H làm cho tổng chi phí tối thiểu
được quyết định theo mô hinh Miller Orr là:


H = 3Z – 2L
Trong đó:
F = Chi phí giao dịch
∂2 = Phương sai của dòng tiền mặt trong ngày

13


K = Chi phí cơ hội
Tồn quỹ trung bình theo mô hình Milller Orr là:

Caverage=

gia tăng khối lượng đơn hàng, giúp doanh nghiệp tăng trưởng doanh thu. Tuy nhiên,
trong trường hợp khách hàng chậm thanh toán sẽ gây ra những bất lợi cho doanh
nghiệp, trước hết là sự ảnh hưởng đến kế hoạch thu hồi vốn cho kỳ sản xuất kinh
14
Thang Long University
Library


doanh mới, thứ hai sẽ khiến cho khoản phải thu khách hàng tăng lên, chi phí thu tiền
bán hàng cũng tăng lên, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
(2.2) Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là yếu tố cần thiết để quyết định có bán trả chậm cho khách
hàng hay không, quy định điều khoản tín dụng cụ thể cho khách hàng như thế nào. Để
phân tích tín dụng khách hàng, doanh nghiệp thông thường thu thập một số thông tin:
Thứ nhất, phân tích tín dụng từ các báo cáo tài chính: Dựa vào những báo cáo
tài chính do khách hàng cung cấp, doanh nghiệp có thể xác định mức độ ổn định, tự
chủ tài chính và khả năng chi trả của khách hàng.
Thứ hai, phân tích tín dụng từ các xếp hạng tín dụng báo cáo: Doanh nghiệp
tham khảo bảng xếp hạng tín dụng của các tổ chức có uy tín trong việc đánh giá khả
năng tín dụng của khách hàng. Báo cáo tín dụng thường bao gồm:
 Tóm tắt báo cáo tài chính
 Các chỉ số quan trọng và có xu hướng thay đổi theo thời gian.
 Các thông tin về mô hình thanh toán của đối tượng đang xét.
 Bản mô tả điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh bất thường liên quan đến
doanh nghiệp đang xét.
 Tư cách tín dụng của khách hàng thông qua điều tra trực tiếp hoặc thông
qua các trung tâm xử lý dữ liệu.
Cuối cùng, phân tích tín dụng từ kinh nghiệm của doanh nghiệp: Dựa trên kinh
nghiệm của bản thân, nhà quản lý cũng có thể đánh giá vị thế tín dụng của các khách
hàng tiềm năng của mình. Khi đã thu thập đủ thông tin tín dụng, doanh nghiệp sẽ đưa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status