(Luận án tiến sĩ) tư duy chính trị hồ chí minh những đặc điểm chủ yếu và ý nghĩa phương pháp luận - Pdf 35

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

NGUYN TH THANH DUNG

TƯ DUY CHíNH TRị Hồ CHí MINH - NHữNG ĐặC ĐIểM
CHủ YếU Và ý NGHĩA PHƯƠNG PHáP LUậN

Chuyờn ngnh: Chớnh tr hc
Mó s

: 62 31 20 01

TểM TT LUN N TIN S CHNH TR HC

H NI - 2014


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: GS, TS Nguyễn Văn Huyên

Phản biện 1:.........................................................
.........................................................

Phản biện 2:.........................................................
.........................................................

Phản biện 3:.........................................................
.........................................................


diện kinh tế, văn hóa, xã hội. Đổi mới tư duy chính trị là cơ sở, định hướng cho quá
trình đổi mới toàn diện ở Việt Nam. Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã không ngừng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, lấy đó làm nền tảng lý luận cho quá trình đổi mới. Sau gần 30 năm thực hiện,
bên cạnh những kết quả đạt được là rất lớn, thực tiễn cách mạng đang đặt ra những
yêu cầu mới đòi hỏi cả Hệ thống chính trị cần đẩy mạnh hơn nữa, phát huy sức mạnh
đoàn kết toàn dân, tinh thần, trí tuệ, bản lĩnh, khí phách của người Việt Nam để xây
dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Hơn bao
giờ hết, cần khai thác những di sản mà Hồ Chí Minh để lại cần được khai thác nhằm
tìm thấy những chỉ dẫn quí báu cho sự nghiệp cách mạng hiện nay.
Việc tìm hiểu những đặc điểm chủ yếu của tư duy chính trị Hồ Chí Minh do đó
không chỉ giải mã được cội nguồn của những sáng tạo trong tư tưởng và hành động
chính trị Hồ Chí Minh mà còn lấy đó làm cơ sở lý luận cho sự nghiệp đổi mới hiện
nay. Sự nghiên cứu không chỉ bổ sung những hiểu biết sâu sắc về sự nghiệp chính trị
Hồ Chí Minh mà còn góp phần vào việc nghiên cứu con người chính trị với những
năng lực và tố chất cần có của một lãnh tụ. Đây cũng là cơ sở để góp thêm những
nghiên cứu trong lịch sử tư tưởng và các lý thuyết chính trị trong ngành chính trị học ở
Việt Nam. Đề tài do đó có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn. Nhận thức sự cần thiết của
việc nghiên cứu, học viên lựa chọn đề tài "Tư duy chính trị Hồ Chí Minh - những
đặc điểm chủ yếu và ý nghĩa phương pháp luận" làm luận án Tiến sỹ của mình.


2

2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở lý luận về tư duy, tư duy chính trị và tư duy chính trị Hồ Chí Minh,
luận án phân tích làm rõ những yếu tố hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh; phân
tích và rút ra những đặc điểm thể hiện qua nội dung và phương pháp tư duy chính trị
Hồ Chí Minh; ý nghĩa phương pháp luận của những đặc điểm đó đối với công cuộc đổi

- Về không gian: cuộc đời hoạt động chính trị Hồ Chí Minh vô cùng phong phú,
được hình thành từ sự trải nghiệm thực tiễn của các nước trên thế giới. Do đó, luận án


3

trên cơ sở lần theo quá trình hoạt động của Người ở các nước qua các bài viết, bài nói
và những câu chuyện về cuộc đời sự nghiệp của Người để tìm ra những đặc điểm chủ
yếu trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh.
- Về mặt nội dung: Tư duy chính trị Hồ Chí Minh có phạm vi rất rộng, luận án
không nghiên cứu cấu trúc, chức năng, hình thái của tư duy như góc độ của tâm lý học,
mà chỉ giới hạn, tìm hiểu các dấu hiệu đặc trưng của tư duy chính trị Hồ Chí Minh
dưới góc độ triết học chính trị.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về cách mạng Việt Nam.
- Phương pháp luận của việc thực hiện luận án là biện chứng duy vật và quan
điểm lịch sử.
- Ngoài ra luận án còn sử dụng những phương pháp cụ thể như: lịch sử và lô gic,
so sánh, phân tích, tổng hợp, gắn lý luận với thực tế, phỏng vấn chuyên gia, phân tích
văn bản.v.v..
5. Đóng góp khoa học của luận án
5.1. Đóng góp về mặt khoa học
- Luận án đã góp phần làm rõ và sâu sắc thêm những vấn đề về tư duy duy, tư
duy chính trị, tư duy chính trị Hồ Chí Minh và những yếu tố tác động đến sự hình
thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh.
- Luận án phân tích và khái quát được một số đặc điểm chủ yếu về nội dung và
phương pháp tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Từ đó luận giải nguồn gốc của những sáng
tạo trong tư tưởng và hành vi chính trị Hồ Chí Minh là từ tư duy.
- Rút ra một số nhận xét khoa học đóng góp vào sự phát triển của phân ngành tư

1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu đề cập đến tư duy
Đây là một trong những hướng thu hút nhiều người nghiên cứu nhất và có
nhiều thành công. Qua các công trình khoa học, các tác giả đã phân tích, làm rõ
những vấn đề như nguồn gốc, bản chất, đặc điểm của tư duy và tư duy biện chứng
duy vật; lịch sử hình thành, phát triển của tư duy biện biện chứng duy vật; mối quan
hệ giữa nội dung và phương pháp, trình độ và năng lực của tư duy, các nguyên tắc và
quy luật của tư duy và tư duy biện chứng duy vật; mối quan hệ giữa tư duy hình thức
và tư duy biện chứng… Thông qua đó, các tác giả đã góp phần làm sâu sắc thêm
những vấn đề lý luận chung nhất về tư duy và tư duy biện chứng duy vật, đặt cơ sở
thế giới quan, phương pháp luận để xây dựng phương pháp tư duy khoa học và sử
dụng phương pháp ấy trong nhận thức và cải tạo thế giới. Đồng thời thông qua các
công trình nghiên cứu, tác giả đặt ra và gợi mở nhiều vấn đề cần được quan tâm, tiếp
tục nghiên cứu và giải quyết.
Ngoài ra, nghiên cứu tư duy gắn với sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã
hội đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong nước, đặc biệt từ sau khi
Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước từ 1986 tới nay. Cách tiếp cận và nội
dung có những điểm khác nhau, song điểm chung của các công trình là giải quyết các
vấn đề lý luận chung về tư duy và tư duy biện chứng duy vật gắn liền với sự nghiệp đổi
mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đóng góp của các công trình khoa học là
làm sáng tỏ lý luận chung về đổi mới tư duy, vai trò của đổi mới tư duy đối với sự
nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực trạng tư duy của chúng ta hiện nay,
những căn bệnh cần khắc phục trong tư duy của chúng ta và nguyên nhân của nó. Sau
khi phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, các tác giả đề xuất phương hướng, biện
pháp khắc phục những hạn chế, tiêu cực trong cách nghĩ, cách làm của cán bộ ta nhằm
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới nói chung và đổi mới tư duy nói riêng do Đảng
ta khởi xướng và lãnh đạo. Trong đó, các tác giả đều khẳng định tính khoa học, cách


5


1.3. Những công trình nghiên cứu liên quan đến tư duy, tư tưởng chính trị
Hồ Chí Minh
Các công trình khoa học mặc dù đã đi đến một quan niệm thống nhất có một tư
duy chính trị Hồ Chí Minh, nhưng mới chỉ dừng lại ở dạng nêu vấn đề hoặc nghiên
cứu phương pháp luận, phương pháp cách mạng hay phương pháp tư duy nói chung.
Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về tư duy chính trị Hồ Chí Minh để
vận dụng vào thực tiễn chính trị hiện nay ở nước ta. Những công trình này cung cấp
cách tiếp cận đa chiều để tác giả có các khái niệm công cụ và tri thức chuyên ngành khi
nghiên cứu luận án. Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã có đóng góp nhất định vào
qua trình khám phá về tư duy, về hoạt động của bộ não con người và bước đầu đề cập


6

đến một loại hình tư duy của con người: tư duy chính trị. Tuy nhiên, các nghiên cứu
bàn trực tiếp đến tư duy chính trị Hồ Chí Minh còn rất ít và tản mạn. Điều này tuy gây
khó khăn cho tác giả khi nghiên cứu, nhưng cũng tạo nên tính mới của đối tượng và
phương pháp tiếp cận. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần khỏa lấp một
"khoảng trống" trong nghiên cứu Hồ Chí Minh và nghiên cứu chính trị học.
Luận giải một vấn đề ít được đặt ra trong nghiên cứu nên đề tài khó khăn khi kế
thừa những công trình liên quan trực tiếp. Điều này sẽ không tránh khỏi những khó
khăn trong nghiên cứu đề tài, nhất lại là một luận án với những chuẩn qui pháp lý và
những giới hạn về thời gian, thời lượng cũng như độ chín của người nghiên cứu. Tuy
nhiên, nhận thức là một quá trình mà càng tìm hiểu đối tượng ta lại càng thấy sự hiểu
biết của mình càng nhỏ bé. Hơn nữa, việc hiểu một cách đầy đủ và toàn diện về một
con người nằm ngoài năng lực của bất kỳ ai. Đặc biệt là việc nghiên cứu một nhân vật
lịch sử hay cá nhân con người Hồ Chí Minh, ta cũng chỉ mong hiểu được một góc cạnh
trong bức tranh tổng thể ấy. Điều đó là hết sức cần thiết cho việc hiểu con người tổng
thể một cách sâu sắc hơn, toàn diện hơn. Đó cũng đồng thời góp thêm những tri thức
nhỏ bé trên con đường khoa học rộng lớn.

con người, khi đó, trong bộ óc diễn ra quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh, đối
chiếu… tức các thao tác tư duy diễn ra nhằm xử lý thông tin. Kết quả của quá trình ấy
sẽ thể hiện qua ngôn ngữ (gồm lời nói và chữ viết, hành vi). Trong quá trình ấy tri thức
và hoàn cảnh thực tiễn được xem là nguyên liệu, đầu vào của tư duy. Từ tri thức về sự
vật mà con người có những hành động tương ứng. Đến lượt mình, chính những hành
động thực tiễn ấy lại cung cấp cứ liệu cho một quá trình tư duy mới. Vậy, tư duy được
xét đến bao gồm nội dung tư duy, cách thức tư duy và sản phẩm của tư duy. Nội dung
tư duy chính là tình huống do thực tiễn đặt ra và nó sẽ được phản ánh xuyên suốt trong
quá trình tư duy thông qua các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu.. để tạo
ra sản phẩm của tư duy là tư tưởng, quan điểm, hành vi.
Sản phẩm của tư duy là tri thức (những hiểu biết về sự vật, hiện tượng). Tri thức
ấy biểu hiện qua tư tưởng, quan điểm, hành vi của con người. Vậy, tư tưởng, quan
điểm, hành vi là biểu hiện cho những hiểu biết của con người về thế giới khách quan,
đó là sản phẩm của quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu diễn ra trong bộ óc
của con người. Do đó, tìm hiểu tư duy (với tư cách là quá trình) khác với tìm hiểu tư
tưởng (với tư cách là kết quả của quá trình tư duy), mặc dù giữa chúng có mối quan hệ
mật thiết, không tách rời nhau. Tư tưởng - dưới bất cứ hình thức biểu hiện nào (khái
niệm, phạm trù, quan điểm, chính kiến…) đều là kết quả của tư duy. Tư duy đúng sẽ
dẫn đến tư tưởng, hành động đúng và ngược lại sẽ dẫn đến tư tưởng, hành động sai.
* Phân loại tư duy: Có nhiều cách phân loại dựa vào những tiêu chí khác nhau:
- Dựa theo cấp độ của tư duy, có tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận. Tư duy
kinh nghiệm là một giai đoạn của nhận thức lý tính, mà trong đó người ta rút ra
những tri thức về sự vật, hiện tượng khách quan, chủ yếu, thông qua con đường khái
quát, quy nạp những tài liệu kinh nghiệm. Tư duy lý luận là giai đoạn nhận thức lý
tính, mà trong đó tri thức được rút ra trên cơ sở khái quát những thành tựu của các
giai đoạng trước đó.
- Theo lĩnh vực tư duy: có tư duy chính trị, kinh tế, khoa học, triết học, nghệ
thuật, quân sự, văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo.v.v…
- Theo loại hình tư duy, có tư duy biện chứng, siêu hình, tư duy lô gic, phi lô gic,
tư duy tổng hợp, phân tích, tư duy sáng tạo, giáo điều, tư duy tích cực, tiêu cực v.v… Sự

Tư duy chính trị có mối quan hệ chặt chẽ, tác động biện chứng với tư tưởng
chính trị. Tư tưởng chính trị là hệ thống những quan điểm phản ánh quan hệ chính trị,
kinh tế giữa các tầng lớp, các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc xung quanh vấn đề
giành, giữ chính quyền, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Tư tưởng chính trị bao
giờ cũng nảy sinh từ những điều kiện kinh tế - xã hội của một xã hội nhất định.
Như vậy, giữa tư duy chính trị và tư tưởng chính trị có mối quan hệ chặt chẽ, tác
động qua lại. Tư duy chính trị là quá trình trăn trở, suy nghĩ về những vấn đề chính trị,
còn tư tưởng là kết quả của quá trình tư duy ấy. Để hiểu tư duy chính trị của một người
phải thông qua tư tưởng, lời nói, hành động của người đó và soi vào lý luận nhận thức
để thấy được những đặc trưng cơ bản của quá trình tư duy. Tư duy chính trị của một
người chỉ được biết đến thông qua việc tìm hiểu tư tưởng, quan điểm, lời nói, bài viết
và những hoạt động thực tiễn của người đó. Nếu thực tiễn cung cấp chất liệu để hình
thành tư tưởng thì tư duy là nỗ lực của chủ thể trong việc khái quát hóa thực tiễn để
biểu đạt bản chất của thực tiễn đó dưới hình thức lý luận. Do đó, để nghiên cứu tư duy
chính trị cần tìm hiểu thông qua tư tưởng chính trị và hành vi chính trị (với tư cách là
sản phẩm và hình thức biểu hiện của tư duy). Đây là khái niệm công cụ để có thể hiểu
sâu hơn các nội dung khác liên quan. Tìm ra được tư duy chính trị là cơ sở để lý giải
thuyết phục sự ra đời của những lý thuyết chính trị và hành vi chính trị. Bởi lẽ, mọi
hành vi chính trị đều bị chi phối bởi đường lối chính trị, quyết sách chính trị, tư duy
chính trị. Thậm chí nhà chính trị đưa ra được một quyết sách chính trị đúng đắn sẽ chi
phối hành vi chính trị đúng. Ngược lại, nếu đường lối chính trị sai lầm sẽ đưa cả dân
tộc đó đi xuống những nấc thang của lịch sử. Vậy, đường lối chính trị có vai trò quan
trọng, chi phối mọi hoạt động của con người chính trị trong xã hội ấy.
2.1.3. Khái niệm tư duy chính trị Hồ Chí Minh
Tư duy chính trị Hồ Chí Minh là hoạt động diễn ra trong bộ óc Người nhằm đưa
ra những quan điểm và hành vi chính trị giải đáp thực tiễn chính trị Việt Nam. Nói một


9


“vượt gộp” trên bản sắc dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh là gạch nồi giữa Việt Nam
với thế giới, giữa truyền thống và hiện đại.
2.2. Các yếu tố tác động tới sự hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh
2.2.1. Yếu tố khách quan
* Thực tiễn xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam chịu sự tác động trực tiếp bởi
chính sách xâm lược và thống trị của thực dân Pháp. Sự cai trị của thực dân Pháp đã
làm xã hội Việt Nam có sự chuyển biến sâu sắc trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã
hội.v.v.. Ở quê hương, Nguyễn Tất Thành được tận mắt chứng kiến cuộc sống nghèo
đói, bị bóc lột đến tận xương tủy của nhân dân. Người nhận thấy nỗi nhục mất nước
hằn trên gương mặt của mỗi người dân xứ Nghệ. Vào Huế Người lại được tận mắt
chứng kiến tình cảnh khốn khổ của người dân lao động và hình ảnh của những ông


10

Tây da trắng nghênh ngang, hách dịch và tàn ác. Lớn lên, trở về quê hương, càng đi
vào cuộc sống của nhân dân, Nguyễn Tất Thành càng thấm thía thân phận cùng khổ
của người dân mất nước: sưu cao thuế nặng, phu dịch. Được tiếp xúc với các sĩ phu
yêu nước và nghe họ bàn luận về việc nước, đã giúp Người dần hiểu được về thời cuộc
và sự day dứt của các thế hệ cha anh trước cảnh nước mất, nhà tan. Những gì học
được, nghe được, kèm theo những lời giảng giải của cha, đối với anh là những bài học
hết sức sống động, có ấn tượng mạnh mẽ. Trong nhận thức của Nguyễn Tất Thành đã
sớm nuôi ý chí đánh đuổi thực dân Pháp.
Tư duy chính trị Hồ Chí Minh được nảy mầm từ đó. Chính hoàn cảnh quê
hương, đất nước, gia đình là cái nôi nuôi dưỡng ý chí đi tìm phương cách đòi lại nền
độc lập, tự do cho đồng bào. Đó là nguồn gốc thực tiễn tác động trực tiếp cho sự hình
thành, phát triển tư duy chính trị của Người. Không được tắm mình trong thực tiễn ấy,
những tư duy về con đường cứu nước khó có thể được định hình và hành động đi tìm
con đường ấy khó thành hiện thực.


dựng và vận hành thể chế, thiết chế chính trị. Tư duy chú trọng xây dựng hình thức tổ
chức chính quyền vận hành một cách khách quan, phù hợp với ý chí và lợi ích của giai
cấp cầm quyền nhưng ít phụ thuộc vào cá nhân người nắm quyền. Tư duy về sự tập
trung quyền lực vào lãnh tụ có đủ đức độ, tài năng và uy tín; sự tham gia lãnh đạo của
đội ngũ những người ưu tú về phẩm chất và đặc biệt là trí tuệ vào bộ máy nhà nước.
- Tư duy chính trị Mác - Lênin với phương pháp tư duy biện chứng duy vật.
Đây là phương pháp tư duy điển hình, bao trùm nhất chi phối tư duy trên mọi lĩnh vực.
Ở một khía cạnh nào đó, các phương pháp tư duy khác chính là biểu hiện cụ thể của tư
duy biện chứng. Nhờ phương pháp tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh thâu thái, tổng tích hợp và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tiếp thu và nghiên
cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, lựa chọn con đường như Lênin chỉ dẫn, vận dụng phương
pháp tư duy biện chứng, Nguyễn Ái Quốc đã sáng tạo con đường đi phù hợp cho cách
mạng Việt Nam để giành được thắng lợi hoàn toàn. Mặc dù học thuyết Mác - Lênin,
xét về mặt địa lý cũng thuộc tư duy phương Tây, nhưng do tính quyết định và ảnh
hưởng chủ yếu của hệ tư tưởng này đối với sự hình thành, phát triển tư duy chính trị
Hồ Chí Minh nên tách ra thành một yếu tố riêng.
Tóm lại, tư duy chính trị Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ dân tộc với trí
tuệ thời đại. Chính sự vận động, phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cuối thế
kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ XX, khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, tư duy
chính trị Hồ Chí Minh được hình thành. Từ tiếp thu, vận dụng sáng tạo, Hồ Chí Minh
từng bước góp phần bổ sung, pháp triển, làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lênin bằng
những luận điểm mới, được rút ra từ thực tiễn của đất nước và dân tộc. Bối cảnh kinh
tế - chính trị trong và ngoài nước cùng với những yếu tố lý luận trên là nguồn gốc
khách quan tác động đến sự hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh.
2.2.2. Nhân tố chủ quan và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh
Về phẩm chất, ở Hồ Chí Minh hội tụ những phẩm chất của một chiến sĩ cách
mạng chân chính. Người có tâm hồn của một nhà yêu nước lớn, một chiến sỹ cộng sản
nhiệt thành cách mạng, sẵn sàng chịu đựng hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, tự do cho
đồng bào. Người có lòng tin mãnh liệt ở nhân dân, có tác phong bình dị, chân thành,
khiêm tốn, hoà mình với quần chúng và có sức cảm hoá lớn đối với mọi người.

định nhất, chìa khóa cho những sự sáng tạo đưa tới thành công trong sự nghiệp chính
trị của Người. Những yếu tố trên được Người kết hợp, vận dụng nhuần nhuyễn hình
thành nên những đặc sắc trong tư duy chính trị Người. Nói cách khác, tư duy chính trị
Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhân tố khách quan và
chủ quan. Những nhân tố này luôn có sự vận động, biến chuyển theo dòng lịch sử, tạo
tiền đề cho sự biến đổi, phát triển của tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Tư duy chính trị
Hồ Chí Minh do đó luôn có sự bổ sung, phát triển trên nền tảng thực tiễn tương ứng
làm nên những đặc trưng riêng, nổi bật, không trộn lẫn với bất kỳ nhà chính trị nào.
Tiểu kết chương 2
Tư duy là quá trình hoạt động của bộ não người ở trình độ nhận thức lý tính bao
gồm các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu… nhằm tìm ra bản chất, qui
luật vận động của sự vật. Kết quả của quá trình tư duy là tri thức được biểu hiện thành
quan điểm, tư tưởng, hành vi thông qua ngôn ngữ. Vì vậy, con người chỉ có thể hiểu
được tư duy của một người thông qua ngôn ngữ (gồm lời nói, chữ viết, hành động).
Đây là phương pháp luận khi nghiên cứu các loại hình tư duy của con người. Nghiên
cứu tư duy chính trị Hồ Chí Minh không nằm ngoài qui luật đó.
Tư duy chính trị Hồ Chí Minh vừa chịu ảnh hưởng của tư duy chính trị chủ
nghĩa Mác - Lênin (tức trên lập trường của giai cấp vô sản), vừa trên lập trường của
người yêu nước chân chính; vừa chịu ảnh hưởng của tư duy duy lý phương Tây, vừa
mang cốt cách của tư duy duy cảm của người Á Đông; vừa chịu ảnh hưởng của hệ tư
tưởng Nho giáo nhưng lại rất Việt Nam, dân tộc nhưng lại ảnh hưởng của thế giới,
nhân loại…Nói cách khác, tư duy chính trị Hồ Chí Minh là tư duy biện chứng mang
bản sắc Việt Nam, ở đó có sự kế thừa và phát triển một cách chọn lọc tư duy chính trị
loài người: Đông - Tây, kim - cổ nhưng đậm chất dân tộc. Vì vậy, đó là tư duy tiên
tiến, hiện đại, khoa học, hợp lôgic của sự phát triển trên nền tảng dân tộc, tư duy thế
giới nhưng lại rất Việt Nam. Nhờ đó, Người đưa ra những lập luận, tư tưởng, quan
điểm mang dáng dấp của phương Đông và phương Tây, Việt Nam và thế giới, dân tộc
và nhân loại.- một tư duy chính trị đặc sắc riêng có ở Hồ Chí Minh.



3.1.2. Tư duy về con đường, cách thức đạt mục tiêu cách mạng
Đó là tư duy về phương pháp cách mạng, lực lượng cách mạng, vai trò của tổ
chức đảng đối với sự thắng lợi của cách mạng. Hồ Chí Minh đã đưa ra những luận
điểm sáng tạo, thậm chí trái ngược với quan điểm của các đồng chí trong Quốc tế
Cộng sản. Điển hình là quan điểm về lực lượng cách mạng. Trong Chánh cương vắt
tắt, Người viết: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh
niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông,
trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi
dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng
(Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ”.
Các đồng chí cộng sản quốc tế khi đó do bị chi phối bởi khuynh hướng tả, cô
độc, biệt phái, hẹp hòi nên có những nhận định sai lầm trong nhiều vấn đề của cách


14

mạng giải phóng dân tộc. Họ nhận định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là giải
phóng giai cấp, chỉ khi giai cấp vô sản giành thắng lợi mới giúp đỡ các dân tộc thuộc
địa giành thắng lợi. Họ xác định, lực lượng thực hiện cuộc cách mạng chủ yếu là công
nông, giai cấp tư sản dân tộc, tiểu tư sản, trung nông.. là lực lượng phản cách mạng.
Rõ ràng, những quan điểm, chủ trương của Nguyễn Ái Quốc nêu ra lúc đó là
hoàn toàn trái ngược với những nhận thức xơ cứng, những sai lầm “tả khuynh” đang
tồn tại trong Quốc tế Cộng sản lúc đó nên đã phê phán Nguyễn Ái Quốc gay gắt, làm
ảnh hưởng đến vai trò và hoạt động Người. Nhưng, với bản lĩnh chính trị vững vàng,
Hồ Chí Minh không sợ bị qui kết vào khuynh hướng chủ nghĩa xét lại, cũng không tự
trói mình vào tư duy giáo điều, mà vươn tới sự kết hợp một cách sáng tạo những giá
trị phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn Việt Nam. Những sáng tạo trong
các nội dung đó là biểu hiện của những đặc sắc trong nội dung tư duy chính trị Hồ
Chí Minh.
3.1.3. Tư duy về xây dựng một thể chế nhà nước lý tưởng cho nhân dân

15

3.2. Những đặc điểm chủ yếu của quá trình tư duy chính trị Hồ Chí Minh
3.2.1. Tính hệ thống
Tư duy hệ thống và nhất quán là điểm nổi bật trong tư duy lý luận của Hồ Chí
Minh. Người có cái nhìn bao quát, nhìn nhận sự vật trong một chỉnh thể thống nhất
giữa cái bộ phận với cái toàn thể, giữa cá biệt với xu thế chung của thế giới. Từ nhận
thức cái chung, tính hệ thống của cách mạng thế giới để nhận rõ vị trí, vai trò của cách
mạng Việt Nam trong xu thế ấy. Đạt được tầm đó, Hồ Chí Minh đưa chính trị không
những là khoa học mà còn là nghệ thuật lãnh đạo, là tài ba và năng lực bẩm sinh của
nhà chính trị.
Tính hệ thống trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh thể hiện trên nhiều phương
diện. Đó là tính hệ thống trong mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc Việt
nam với phong trào cách mạng thế giới; là việc nhìn nhận về một xã hội Xã hội chủ
nghĩa không nhất thành bất biến mà cần phải được xem xét trong trạng thái vận
động biến đổi và được cải tạo thường xuyên. Tính hệ thống trong tư duy chính trị
của Người còn thể hiện ở cách nhìn đa chiều, ở sự cùng tồn tại các thuộc tính đối
lập và sự tương tác giữa các mặt đối lập, sự chuyển hóa giữa các mặt đó với nhau để
sáng tạo nên những chất lượng cao hơn trong quá trình phát triển của các hệ thống;
hay đó là việc tìm thấy điểm tương đồng trong sự khác biệt giữa các học thuyết
cũng như thấy được sự khác biệt trong khi xem xét cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác
- Lênin. Tính hệ thống trong tư duy đã giúp Hồ Chí Minh hình thành hệ quan điểm,
tư tưởng, đường lối, phương pháp, lực lượng, vai trò của tổ chức…. để giành, giữ và
thực thi quyền hành cho nhân dân Việt Nam. Đó cũng là điểm nổi bật chi phối quá
trình tư duy chính trị Hồ Chí Minh.
3.2.2. Đề cao tính thực tiễn, chống chủ nghĩa giáo điều
Hồ Chí Minh là nhà mác xít điển hình không chỉ nhận thức mà còn vận dụng
sáng tạo học thuyết Mác để phân tích cụ thể vấn đề giải phóng dân tộc theo phương
pháp làm việc biện chứng và quan điểm thực tiễn. Xuyên suốt quá trình tư duy
chính trị, quan điểm thực tiễn được coi là điểm xuất phát, là động lực và là mục đích

Việt Nam tự giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài, nhân dân Việt Nam
không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào; mọi sự ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam đấu
tranh cho độc lập, tự do đều được hoan nghênh và ghi ơn; mọi sự áp đặt xâm phạm chủ
quyền quốc gia đều chối từ, gạt bỏ. Nền độc lập đó do chính nhân dân Việt Nam đấu
tranh giành và đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc cho chính nhân dân. Cả cuộc đời
của Người đều suy nghĩ phải làm gì để thực hiện cho được quyền độc lập của đất
nước, quyền tự do cho nhân dân, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng
được học hành. Đó là nguyên tắc, là phương hướng trong tư duy và hành động chính
trị Hồ Chí Minh.
3.2.4. Tính linh hoạt, ứng biến
Hồ Chủ tịch là một chiến sĩ cộng sản luôn nhất quán trong mục tiêu và mềm dẻo
trong phương pháp. Mục đích tối cao của Người là độc lập cho dân tộc, tự do hạnh
phúc cho đồng bào. Mục tiêu là bất biến, nhưng con đường đạt được đầy khó khăn
gian khổ, đòi hỏi phải có sự chiến đấu, hy sinh của nhiều lớp người, nhiều thế hệ.
Trong mỗi bước đi lên, cách mạng phải đối phó với muôn vàn sự biến đổi, đòi hỏi
người cách mạng phải sáng suốt, tỉnh táo, nhạy bén để thay đổi cách thức đấu tranh
cho thích hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể mà các cuộc đấu tranh đặt ra. Những
sách lược trong một thời điểm, thời kỳ nhất định không được làm tổn hại đến “cái bất
biến”, tức cái mục tiêu lâu dài đã được xác định. Phương pháp mềm dẻo, lúc tiến, lúc
lui, có lúc cần thỏa hiệp trên nguyên tắc để đạt mục đích lâu dài. Đó không những là
khoa học mà còn là một nghệ thuật cách mạng của Hồ Chí Minh. Điều này được thể
hiện nổi trội nhất ở giai đoạn cách mạng Việt Nam những năm 1945 - 1946. Chính tính
linh hoạt, ứng biến trong quá trình lãnh đạo cách mạng đã thể hiện nét đặc sắc và tài
năng của Người. Đây cũng là một đặc trưng tiêu biểu, làm nên đặc sắc của quá trình tư
duy chính trị Hồ Chí Minh.
3.2.5. Tính dự báo
Ở Hổ Chí Minh, năng lực tư duy dự báo được hình thành ngay từ những năm
đầu hoạt động cách mạng và là một trong những nhân tố quyết định đến thành công



duy chính trị Hồ Chí Minh lấy dân làm gốc cũng chính là tư duy về một nền chính trị
đạo đức. Sự nghiệp Người theo đuổi suốt đời là phấn đấu “cho nước ta được hoàn toàn
độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng
được học hành”. Theo đó, đạo đức cao nhất theo Người là “hết lòng hết sức phục vụ
nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc”.
Tính nhân văn trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh còn thể hiện ở tinh thần
khoan dung với con người, với những người đã mắc phải sai lầm và khoan dung cả với
kẻ thù. Chính điều này đã nâng Người lên tầm văn hóa không chỉ là văn hóa khoan
dung mà văn hóa trong mọi cử chỉ, mọi hành vi, trong đời sống thường ngày và trong
cả những thời kỳ khắc nghiệt nhất của sự nghiệp cách mạng. Văn hóa khoan dung giúp
Người không ngừng rộng mở để thâu hóa những yếu tố tích cực, tiến bộ và nhân văn
của thế giới để làm giàu cho văn hóa dân tộc. Nhờ đó làm nên một đặc sắc trong tư duy
chính trị Hồ Chí Minh - tư duy nhân văn, văn hóa.


18

Tiểu kết chương 3
Những đặc điểm cơ bản của tư duy chính trị Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự
kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy chính trị truyền thống của Việt Nam với tư duy
chính trị thế giới. Đó vừa là sự kế thừa, phát huy đồng thời là sự vận dụng sáng tạo vào
thực tiễn chính trị Việt Nam trong đó Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành. Từ
những sáng tạo được thể hiện qua những nội dung đặc sắc của tư duy chính trị Hồ Chí
Minh như: tư duy về sự lựa chọn con đường cách mạng; tư duy về con đường, cách
thức đạt mục tiêu cách mạng và tư duy về xây dựng một thể chế nhà nước nhân dân
cho thấy, có điểm chung khi Người suy nghĩ về những vấn đề đó. Điểm chung ấy
chính là những đặc tính, những nguyên tắc chi phối quá trình tư duy. Khi tư duy,
Người luôn nhất quán những nguyên tắc đó để đưa ra những nhận định, tư tưởng và
hành động cho cách mạng.
Luận án khái quát ở những đặc tính cơ bản của tư duy chính trị Hồ Chí Minh bao


19

Chương 4
Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA TƯ DUY CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC ĐỔI MỚI TƯ DUY CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. Tư duy chính trị ở Việt Nam sau gần 30 năm đổi mới
Tư duy chính trị của Đảng là quá trình nhận thức về con đường, cách thức đạt
mục tiêu CNXH; về đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của Hệ thống chính trị,
trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới, nâng cao hiệu quả quản
lý của nhà nước nhằm giữ vững ổn định chính trị để xây dựng chế độ XHCN ngày
càng vững mạnh; thực hiện tốt vai trò của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã
hội nhằm đảm bảo nền dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong
quá trình đổi mới, Đảng luôn khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Nhờ sự vận dụng những
nguyên lý của chủ nghĩa Mác, những chỉ dẫn trong tư tưởng và hành động Hồ Chí
Minh mà công cuộc đổi mới đạt những thành tựu đáng kể trên mọi phương diện.
4.1.1. Tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta
Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng ta luôn
khẳng định, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta; đi lên chủ
nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.
Kiên trì độc lập và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay được Đảng ta tiếp tục
khẳng định trong các Văn kiện Đại hội Đảng, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Điều này hoàn toàn nhất quán với tư
tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Vận dụng phương pháp tư duy nhất quán của Hồ Chí Minh khẳng định sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một quá trình lâu dài, gian khổ, đầy khó khăn, thử
thách, vì vậy, phải tiến hành dần dần, từng bước một, thận trọng, vững chắc.Trong sự
nghiệp đổi mới, Đảng ta đã tập trung vào giải quyết nhiệm vụ kinh tế, phát triển kinh tế

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước… Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động
“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê
phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; khắc phục sự
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên”.
4.1.3. Tư duy về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Nhà nước là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị và có ảnh hưởng lớn
đến mọi mặt của đời sống xã hội. Bộ máy nhà nước phù hợp với trình độ và yêu cầu
phát triển của nền kinh tế sẽ trở thành một động lực to lớn thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển. Ngược lại sẽ trở thành lực lượng bảo thủ, kìm hãm sự tiến bộ xã hội, thậm
chí có thể kéo lùi lịch sử.
Ngay sau khi ra đời, với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh, nhà nước đã tổ chức đời sống xã hội hoàn thành những nhiệm vụ cách mạng.
Sau khi đất nước thống nhất, tình hình kinh tế - chính trị trong nước và thế giới có
nhiều thay đổi đặt ra yêu cầu phải đổi mới bộ máy nhà nước. Cùng với sự đổi mới các
yếu tố trong hệ thống chính trị, nhà nước cũng có những thay đổi cho phù hợp. Sau gần
30 năm đổi mới, thành tựu to lớn nhất mà nhà nước đã đạt được là tổ chức thành công
việc đưa đường lối đổi mới của Đảng đi vào cuộc sống, trước hết là đổi mới về kinh tế,
mở ra bước ngoặt trong quá trình chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu, bao
cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa; bộ máy nhà nước ta đã từng bước chuyển đổi cơ chế điều hành các lĩnh vực
của đời sống xã hội thông qua thực hiện cuộc cải cách lớn về hệ thống thể chế, trước
hết là thể chế kinh tế v.v..
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới, việc xây
dựng nhà nước còn nhiều yếu kém, nhất là về chất lượng của bộ máy lãnh đạo và quản
lý các cấp. Một yêu cầu tất yếu hiện nay là cần tìm ra những giải pháp để khắc phục


21

và quan trọng hơn là vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn ấy trong thực tiễn cách mạng
Việt Nam.
4.1.5. Tư duy về xây dựng đội ngũ cán bộ
Là một nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp, Hồ Chí Minh nhìn thấy rất rõ vai
trò của người cán bộ trong sự nghiệp cách mạng. Người cho rằng, cán bộ là giây
chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, “là những người đem chính
sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời
đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính
sách cho đúng”. Người nói, cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung
thành, là trâu ngựa của nhân dân. Do đó, theo Người trong quá trình hoạt động cán bộ
ít nhiều đều phải trải qua đào tạo, bồi dưỡng với nhiều hình thức khác nhau, mà Hồ
Chí Minh nhấn mạnh rằng, huấn luyện cán bộ là gốc của Đảng. Muôn việc thành công


22

hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém mà ra. Cán bộ là chủ thể của sự nghiệp cách
mạng do Đảng lãnh đạo. Vị trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là do Đảng, Nhà
nước, đoàn thể phân công và quyền lực của cán bộ cũng như nhiệm vụ của người cán
bộ là do nhân dân giao cho.
Trải qua gần ba mươi năm đổi mới, với những hoạt động thực tiễn sôi nổi trong
công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng, tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
đã có những thay đổi nhất định (về trình độ cũng như phong cách tư duy). Trên lĩnh
vực tư duy lý luận, cán bộ lãnh đạo quản lý ở nước ta đã có sự năng động, sáng tạo
hơn, thích ứng dần với cơ chế mới, trình độ kiến thức và năng lực lãnh đạo, quản lý
kinh tế, xã hội ngày càng được nâng cao. Vai trò của họ càng được khẳng định qua
những thành tựu của sự nghiệp đổi mới. Bên cạnh những thành tựu đó, Nghị quyết
Trung ương 4 (khóa XI) cũng nhấn mạnh; “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên,
trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp,
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự

nhất về phương diện này của Nhà nước là biết điều hòa các lợi ích trên cơ sở đặt lợi ích
quốc gia lên trên hết. Bằng cách đó, Nhà nước mới có thể huy động được sức mạnh
cộng đồng dân tộc phấn đấu cho mục tiêu chung là "sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại"
Lấy lợi ích của nhân dân, của dân tộc là nền tảng cũng có nghĩa là mọi chủ
trương, đường lối, chính sách đều phải vì lợi ích đó, ngoài ra Đảng không có lợi ích
nào khác. Điều này đòi hỏi, Đảng phải thực sự thấm nhuần và vận dụng tư duy Hồ
Chí Minh về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng.
Đảng phải đi vào dân để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của dân, nắm sát thực tiễn ở
nơi dân và đề ra đường lối chính sách phù hợp với nhân dân, phát huy sức mạnh toàn
dân tham gia vào cải tổ, đổi mới và làm trong sạch hệ thống chính trị nói chung và
nhà nước nói riêng.
4.2.3. Đổi mới tư duy chính trị cần có tầm nhìn chiến lược và cách thức thực
hiện linh hoạt, mềm dẻo
Việc xác định tầm nhìn chiến lược là biểu hiện của một tư duy chiến lược dựa trên
sự phân tích những thực tại khách quan và dự báo xu thế phát triển để xây dựng chiến
lược hành động. Đây là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến những
thắng lợi bền vững của một quyết sách chính trị. Tuy nhiên, việc xác định tầm nhìn đó,
trong quá trình thực hiện có những tác động khách quan và chủ quan đòi hỏi sự ứng phó
kịp thời của Đảng nhằm chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn
toàn. Việc dự báo tình hình cho ta thấy được thời cơ và thách thức trong quá trình phát
triển, là cơ sở để Đảng nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức giành thắng lợi.
4.2.4. Đổi mới tư duy chính trị nhằm hướng đến một nền chính trị nhân văn,
văn hóa
Mọi sự thay đổi trong đường lối chính trị, suy đến cùng là hướng đến một nền
chính trị vì dân, lấy lợi ích của nhân dân là gốc, phát huy quyền làm chủ thực sự của
nhân dân. Một nền chính trị vì dân là nền chính trị đạt tầm văn hóa. Chỉ khi nào, chính
trị thực sự vì đa số nhân dân, vì quyền và lợi ích chính đáng của đông đảo quần chúng
nhân dân, khi ấy nền chính trị mới đạt tầm văn hóa - văn hóa chính trị vì con người.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status