TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ hồ CHÍ MINH với sự NGHIỆP xây DỰNG hệ THỐNG CHÍNH TRỊ ở VIỆT NAM HIỆN NAY (TT) - Pdf 34

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chí Minh (1890-1969) là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, là nhà tƣ
tƣởng, nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam, ngƣời đã đƣa Việt Nam bƣớc vào kỷ
nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh nói chung, trong đó có tƣ tƣởng chính trị của Ngƣời, là kim chỉ nam hƣớng
dẫn cách mạng Việt Nam thành công vang dội. Đặc biệt, dƣới sự lãnh đạo của Hồ
Chí Minh, hệ thống chính trị dân chủ ở Việt Nam đƣợc hình thành, phát triển và
từng bƣớc đƣợc hoàn thiện cùng với tiến trình phát triển của cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta từ đầu thế kỷ XX đến
nay. Đó là một hệ thống chính trị kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân và
đại biểu cho lợi ích của toàn dân tộc. Trong hệ thống đó, Đảng Cộng sản Việt Nam
là hạt nhân và giữ vai trò lãnh đạo; “Nhà nƣớc ta là cột trụ của hệ thống chính trị, là
công cụ thực hiện quyền lực của nhân dân”1, là ngƣời tổ chức, quản lý, điều hành
xã hội, thực hiện rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân. “Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận
động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp
pháp của nhân dân; đƣa các chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc, các
chƣơng trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp
phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội”2. Sự vững mạnh (hay suy yếu) của hệ
thống chính trị có vai trò quyết định đến thắng lợi (hay thất bại) của công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, các thành tố trong hệ thống chính trị
có vai trò to lớn đối với những thắng lợi vĩ đại của đất nƣớc. Đảng ta là một Đảng
cầm quyền, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên cƣờng và dày dạn trong đấu tranh
cách mạng; một đảng có tầm trí tuệ cao nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; giải quyết một cách đúng đắn và sáng
tạo các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân
tố quyết định thắng lợi trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, xây dựng Tổ quốc

đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng
tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chƣa đƣợc ngăn
chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp…”3. Trong tình hình ấy, việc
nghiên cứu, làm rõ nội dung và đặc điểm của tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh, từ đó
vận dụng đề xuất các giải pháp góp phần phát triển, hoàn thiện hệ thống chính trị
của đất nƣớc và làm cho nó vận hành đồng bộ, nhịp nhàng và có hiệu quả là hết sức
cần thiết và cấp bách, nhất là trong bối cảnh Đảng và nhân dân ta đang đẩy mạnh
việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị và coi đó là một nội dung trọng tâm
của quá trình đổi mới đất nƣớc.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh với sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài
luận án tiến sĩ.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có Tư tưởng chính trị của Ngƣời
là một vấn đề lớn, chứa đựng rất nhiều nội dung sâu sắc, mang tính cách mạng,
khoa học và nhân văn cao cả. Chính vì vậy, vấn đề này đã và đang thu hút sự quan
tâm của đông đảo các nhà khoa học trong nƣớc và trên thế giới với nhiều công
trình nghiên cứu, nhiều hội thảo, nhiều ý kiến trao đổi. Khái quát lại, các công
trình nghiên cứu về tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh đƣợc tập trung theo các hƣớng:
Những công trình nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển và những nội dung
cơ bản của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tƣ
tƣởng chính trị Hồ Chí Minh; Nghiên cứu vận dụng tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí
Minh trong thời kỳ đổi mới.
Hướng nghiên cứu thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ
Chí Minh qua tiến trình lịch sử với nội dung tƣ tƣởng cơ bản của Ngƣời. Liên quan
đến chủ đề này có các công trình tiêu biểu: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường
cách mạng Việt Nam” của Võ Nguyên Giáp (Chủ biên) (Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2003); “Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh” của Trần Văn
Giàu (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); “Những nhận thức cơ bản về tư
tưởng Hồ Chí Minh” của Phạm Văn Đồng (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,

Đình Hòe (Nxb. Trẻ, TP.HCM, 2006); “55 xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì
dân” (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa
phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam” (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1998); “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” (Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh – Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 120 năm
ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); “Xây
dựng Đảng và rèn luyện đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh” (Nxb. Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 2000); “Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh” (Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2012); “Nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân
loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh” (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); “Triết
lý “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Nguyễn Hùng
Hậu (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012); “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí
Minh” của Vũ Đình Hòe (Nxb. Trẻ, TP.HCM, 2006)… và những công trình khác.
Trong các công trình tiêu biểu nói trên, các tác giả đã phân tích khá kỹ các phƣơng
diện khác nhau liên quan trực tiếp (hay gián tiếp) đến tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí
Minh. Tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu sâu và có hệ thống tƣ tƣởng
chính trị Hồ Chí Minh với tƣ cách là học thuyết chính trị chỉ đạo nhất quán và
xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam.
Hướng thứ ba là các công trình nghiên cứu vận dụng tƣ tƣởng chính trị Hồ
Chí Minh trong thời kỳ đổi mới, có các công trình tiêu biểu: “Hồ Chí Minh - một
con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp” của Phạm Văn Đồng (Nxb.
Sự thật, Hà Nội, 1990); “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” (Học viện


4

Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế
kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2010); “Hồ Chí Minh và minh triết Hồ Chí Minh” (Bùi Đình Phong, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); “Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ

Mục đích:
Mục đích của luận án là trên cơ sở làm rõ nội dung và đặc điểm cơ bản của tƣ
tƣởng chính trị Hồ Chí Minh, đề xuất và luận chứng các giải pháp góp phần xây
dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích trên, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích và khái quát những điều kiện và tiền đề hình thành tƣ tƣởng
chính trị Hồ Chí Minh.


5

Hai là, phân tích những nội dung và đặc điểm cơ bản của tƣ tƣởng chính trị
Hồ Chí Minh.
Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm vận dụng tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh
vào sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Nội dung tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh sâu sắc, phong phú, sinh động đƣợc
Đảng ta xác định là nền tảng tƣ tƣởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động cách mạng.
Do đó, trong luận án này, tác giả chỉ tập trung vào việc làm rõ những nội dung cơ
bản trong tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh trên các mặt: tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
mục tiêu chính trị và đƣờng lối chính trị của cách mạng Việt Nam; tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về quyền lực chính trị; Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về hệ thống chính trị, từ đó
vận dụng vào việc xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam trong giai đoạn đổi mới
và hội nhập quốc tế.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận án đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phƣơng pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò
và ý nghĩa của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng Đảng Cộng sản Việt

Ý ngha k oho k hcc
Kết quả nghiên cứu của luận án đã làm rõ những nội dung cơ bản của tƣ tƣởng
chính trị Hồ Chí Minh trên các mặt: tƣ tƣởng về mục tiêu chính trị và đƣờng lối
chính trị của cách mạng Việt Nam; tƣ tƣởng về quyền lực chính trị; tƣ tƣởng về hệ
thống chính trị.
Ý ngha k hḥc hĩn
Những nội dung cơ bản của tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh là những bài học
bổ ích góp phần vào sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công
tác giảng dạy và nghiên cứu về Lịch sử tƣ tƣởng, về tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và xây
dựng Đảng.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án đƣợc
kết cấu thành 3 chƣơng, 7 tiết, 24 tiểu tiết.
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH
HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
1.1. ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

1.1.1. Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành
tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh
Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tƣ bản đã phát triển từ giai
đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa trên phạm vi thế giới. Lúc
này, chủ nghĩa đế quốc là một hiện tƣợng quốc tế, một hệ thống thế giới, chúng vừa
tranh giành, xâu xé thuộc địa, vừa liên kết với nhau để nô dịch các dân tộc thuộc
địa. Để mở rộng thị trƣờng, khai thác sức lao động, xuất khẩu tƣ bản…, chủ nghĩa
đế quốc đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lƣợc các quốc gia, các dân tộc nhỏ
yếu, biến các quốc gia, các dân tộc đó thành thuộc địa và thực hiện đàn áp, bóc lột
tàn bạo “nhằm mục đích cƣớp bóc các nƣớc khác, bóp nghẹt các dân tộc nhƣợc

hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp. Về chính trị, chúng
đặt ách cai trị thực dân, thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề.
Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị ngƣời Pháp, biến vua
quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai. Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay
đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu. Chúng tiếp
tục thi hành chính sách “chia để trị” rất thâm độc... xóa tên nƣớc ta trên bản đồ thế
giới. Về văn hóa, chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự
ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục. Chúng
mở nhà thờ, các tụ điểm ma túy, mại dâm, cờ bạc… nhiều hơn trƣờng học và bệnh
viện. Chúng tìm mọi cách bƣng bít và ngăn chặn ảnh hƣởng của nền văn hóa tiến
bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị...
Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ảnh hƣởng mạnh mẽ đến tình hình
xã hội Việt Nam. Sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc hơn. Ngoài các
giai cấp vốn có trong xã hội Việt Nam nhƣ giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp
nông dân, giờ đây xã hội Việt Nam còn xuất hiện thêm nhiều giai cấp mới nhƣ giai
cấp tƣ sản, tầng lớp tiểu tƣ sản và giai cấp công nhân.
1.1.3. Các phong trào yêu nƣớc, chống thực dân Pháp xâm lƣợc
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lƣợc nƣớc ta, với truyền thống chống ngoại
xâm đã có từ hàng nghìn năm, nhân dân Việt Nam liên tục đấu tranh chống ách
thống trị của thực dân Pháp. Với ý thức hệ phong kiến, các sĩ phu lãnh đạo phong
trào Cần Vƣơng (1958-1896) dƣới chiếu cần vƣơng của vua Hàm Nghi đã hăng hái
phát động phong trào chống Pháp, chủ trƣơng khôi phục lại nƣớc Việt Nam cũ. Các
cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của nhân dân do các sĩ phu lãnh đạo liên tục
nổ ra. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Khởi nghĩa Trƣơng Định (1859 – 1864);
khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (1861); khởi nghĩa Nguyễn Thiện Thuật (1885);
khởi nghĩa Hƣơng Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1885); khởi nghĩa Đinh


8


lõi nhất, đƣợc hình thành sớm nhất và thƣờng xuyên đƣợc củng cố, kế thừa, phát
huy và phát triển từ thời dựng nƣớc đến tận ngày nay là tinh thần yêu nước. Qua
các cuộc chiến tranh chống xâm lƣợc bảo vệ nền độc lập của dân tộc, tinh thần yêu
nƣớc ngày càng lớn lên và trở thành chủ nghĩa yêu nước trong tâm hồn mỗi ngƣời
dân Việt Nam. Tinh thần yêu nƣớc của ngƣời Việt Nam không tách rời tinh thần, ý
thức bảo vệ độc lập dân tộc, cũng có thể xem đó là hai mặt của cùng một vấn đề.
Bên cạnh đó, truyền thống nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân tương ái; phẩm chất
cần cù, thông minh, sáng tạo và lạc quan yêu đời của ngƣời Việt Nam đã góp phần
làm nên cái thông minh, sáng tạo và tạo dựng niềm tin vào sức mạnh của bản thân,
sức mạnh của cộng đồng, của chính nghĩa và Hồ Chí Minh chính là hiện thân của
trí thông minh, tính sáng tạo và tinh thần lạc quan yêu đời ấy.
Kế thừa và phát triển tƣ tƣởng chính trị “lấy dân làm gốc”, “khoan dân” “nhân nghĩa” trong truyền thống lịch sử của dân tộc - một nền chính trị tìm thấy


9

sức mạnh ở dân, thấy đƣợc vai trò to lớn của nhân dân để phát huy sức mạnh của
dân trong công cuộc dựng nƣớc và giữ nƣớc, Hồ Chí Minh luôn quán triệt và nêu
cao tƣ tƣởng cách mạng là của dân, do dân và vì dân. Bên cạnh đó, sự hình thành tƣ
tƣởng chính trị Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hƣởng của giá trị truyền thống quê
hương và gia đình của Ngƣời. Những phẩm chất, nhân cách đƣợc hình thành từ nền
giáo dục của gia đình, những truyền thống của quê hƣơng đã dẫn dắt Hồ Chí Minh
nhận thức đƣợc tội ác của thực dân phong kiến, sự thối nát của chế độ chính trị mà
chúng đặt trên đất nƣớc Việt Nam. Đây là hành trang chuẩn bị của Hồ Chí Minh
trên bƣớc đƣờng tìm kiếm chân lý giải phóng dân tộc, cũng là cơ sở hình thành tƣ
tƣởng chính trị của Ngƣời.
1.2.2. Tƣ tƣởng chính trị và tinh hoa văn hoá Đông - Tây
Tiếp hhu hư hưởng chính trị và văn hó k phương Đông
Có thể nói, trong số các học thuyết chính trị lớn ở phƣơng Đông có ảnh hƣởng
đến sự hình thành tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh thì Nho giáo có ảnh hƣởng sâu

10

tƣ sản nhằm bổ sung, đồng thời phát triển hệ thống tƣ tƣởng chính trị của mình.
Bên cạnh đó, các học thuyết chính trị phương Tây và thực tiễn tổ chức hoạt
động chính trị của Hồ Chí Minh ở các quốc gia hiện đại có ảnh hƣởng nhất định
đến quá trình Hồ Chí Minh tìm kiếm một đƣờng lối chính trị phù hợp cho cách
mạng Việt Nam. Sống trên quê hƣơng của lý tƣởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái,
Nguyễn Ái Quốc đƣợc tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tƣ tƣởng Khai
sáng: Vônte, Rútxô, Môngtexkiơ... Nguyễn Ái Quốc còn tiếp thu đƣợc tƣ tƣởng
dân chủ và hình thành đƣợc phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực
tiễn. Nhờ đƣợc rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực
tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã trƣởng
thành từng bƣớc và cùng với thực tiễn hoạt động cách mạng ấy, tƣ tƣởng chính trị
Hồ Chí Minh cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện.
1.2.3. Tƣ tƣởng chính trị Mác - Lênin
Học thuyết chính trị Mác - Lênin là một học thuyết khoa học, ra đời trên cơ sở
tiếp thu, phát triển tri thức của nhân loại. Đó là học thuyết về con đƣờng đấu tranh
để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con ngƣời, vì vậy nó mang
bản chất chính trị sâu sắc. Học thuyết Mác - Lênin đã lý giải một cách sâu sắc,
đúng đắn những vấn đề cốt lõi liên quan đến chính trị, quyền lực chính trị và nhà
nƣớc kiểu mới của nhân dân lao động. Xây dựng và thực hiện quyền lực của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động là mục tiêu, là động lực của cách mạng xã hội
chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng sáng
tạo lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn sáng tạo ra lý luận cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - gắn
độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sự nghiệp giải phóng dân tộc với giải
phóng giai cấp và giải phóng con ngƣời.
1.2.4. Phƣơng pháp tƣ duy của Hồ Chí Minh
Trong suốt hành trình tìm đƣờng cứu nƣớc của mình, ngoài thế giới quan khoa
học, tri thức vững chắc về lý luận và lấy kinh nghiệm thực tiễn làm cơ sở, chính

chí tìm con đƣờng giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống mới độc lập, tự do, hạnh
phúc cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Qua các cuộc khảo sát khắp các lục địa, qua
tiếp xúc quảng giao, hoạt động xã hội và cách mạng, Hồ Chí Minh đã chú trọng cả
hai phƣơng diện hoạt động chính trị là lý luận và thực tiễn để xây dựng đường lối
cách mạng Việt Nam, xây dựng một thể chế chính trị, một mô hình tổ chức nhà
nước kiểu mới đối lập với mô hình nhà nước của chính quyền thuộc địa.
Về thực tiễn, nhờ đƣợc rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ
vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp, Nguyễn Ái
Quốc đã trƣởng thành từng bƣớc và cùng với thực tiễn hoạt động cách mạng ấy, tƣ
tƣởng chính trị Hồ Chí Minh cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện.
1.3.2. Giai đoạn Hồ Chí Minh xúc tiến chuẩn bị các tiền đề để thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam (1920-1930)
Tiếp thu chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và bài học kinh nghiệm của
Cách mạng tháng Mƣời Nga, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy muốn cách mạng thành
công phải có Đảng vững mạnh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động lãnh đạo.
Ngƣời đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân, phong trào
yêu nƣớc và huấn luyện cán bộ chuẩn bị cho việc ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
trên tất cả các mặt tƣ tƣởng, chính trị, tổ chức và phƣơng pháp cách mạng. Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời đã khẳng định sự trƣởng thành chín muồi của tƣ tƣởng
chính trị Hồ Chí Minh, mở ra trang sử mới cho cách mạng Việt Nam.
1.3.3. Giai đoạn Hồ Chí Minh tiếp tục chuẩn bị các tiền đề, thiết lập các
tổ chức chính trị để giải phóng dân tộc (1930-1945)
Sau 30 năm bôn ba tìm đƣờng cứu nƣớc, năm 1941, Hồ Chí Minh về nƣớc
chỉ đạo phong trào cách mạng. Ngƣời đã chủ trì Hội nghị Trung ƣơng 8, chuyển
hƣớng chỉ đạo chiến lƣợc, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và gắn liền
cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc với xây dựng thiết chế dân chủ, xây dựng chính
quyền cách mạng của nhân dân. Tại Hội nghị này, Hồ Chủ tịch và Trung ƣơng đã
chủ trƣơng thành lập Chính phủ Cộng hòa. Nhƣ vậy, đến đây, tƣ tƣởng chính trị Hồ
Chí Minh thể hiện ở quyết tâm xây dựng nhà nƣớc kiểu mới: phát triển từ chính


lên là chủ nghĩa yêu nƣớc, truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cƣờng vì độc lập,
tự do của nhân dân Việt Nam. Tƣ tƣởng chính trị của Ngƣời còn kế thừa truyền
thống chính trị và tinh hoa văn hóa phƣơng Đông, trong đó nổi bật là đƣờng lối
“đức trị” của Nho gia, “pháp trị” của Pháp gia và tinh thần nhân ái, vị tha, cứu khổ
cứu nạn của Phật giáo... Ngƣời còn tiếp thu tƣ tƣởng “tự do, bình đẳng, bác ái”
cùng cách thức tổ chức, quản lý xã hội của các nƣớc tiên tiến phƣơng Tây. Đặc
biệt, tƣ tƣởng chính trị Mác - Lênin chính là nền tảng của tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí
Minh.
Chƣơng 2
NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN
CỦA TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
Chính trị là sự phản ánh tập trung đời sống kinh tế - xã hội. Sự phản ánh ấy
trƣớc hết biểu hiện dƣới hình thái tƣ tƣởng chính trị, trên cơ sở đó hình thành các
thiết chế, tổ chức chính trị. Vì vậy, các học thuyết chính trị là nền tảng tƣ tƣởng để
xây dựng các mô hình hệ thống chính trị. Từ xƣa đến nay, các nhà sáng lập ra các
triều đại mới, các chính thể mới đều phải dựa trên những học thuyết nhất định. Đối


13

với nƣớc ta, Hồ Chí Minh là ngƣời sáng lập nên hệ thống chính trị hiện đại Việt
Nam, đồng thời, tƣ tƣởng chính trị của Ngƣời trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt
động của hệ thống chính trị.
Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện của
Người về mặt chính trị, phản ánh những mối quan hệ giữa các giai cấp, lực lượng
xã hội, dân tộc, quốc gia xung quanh việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính
trị, quyền lực nhà nước vì lợi ích khách quan của giai cấp công nhân, của nhân
dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đó là tư tưởng thể hiện mục tiêu chính trị
và đường lối chính trị độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người; tư tưởng về Đảng và

Nội dung của chủ nghĩa xã hội: Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã
hội là những khái quát lý luận và đƣợc diễn đạt bằng những quan niệm cụ thể
những gì mà chủ nghĩa xã hội sẽ đƣa lại thật sự cho nhân dân, cho dân tộc: chủ


14

nghĩa xã hội là một chế độ chính trị do nhân dân lao động là chủ và làm chủ; chủ
nghĩa xã hội là một chế độ có nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển
của khoa học - kỹ thuật; chủ nghĩa xã hội là không còn chế độ ngƣời bóc lột ngƣời;
chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn hóa và đạo đức; chủ nghĩa xã
hội có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nƣớc trên thế giới.
Mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Trong mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì,
độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để đi tới chủ nghĩa xã hội. Chủ
nghĩa xã hội là mục tiêu hƣớng tới, là cơ sở đảm bảo vững chắc độc lập dân tộc. Tƣ
tƣởng đó khẳng định cách mạng Việt Nam là một quá trình liên tục không ngừng
gồm hai giai đoạn gắn liền nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau và tác động lẫn nhau cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong đó,
việc đề ra và giải quyết những nhiệm vụ của giai đoạn trƣớc phải tạo tiền đề và
điều kiện cho việc đề ra và giải quyết những nhiệm vụ của giai đoạn sau. Và việc
đề ra và giải quyết những nhiệm vụ của giai đoạn sau phải đồng thời tiếp tục hoàn
thành và củng cố thắng lợi thắng lợi của giai đoạn cách mạng trƣớc. Cả hai giai
đoạn cách mạng đó đều nằm trong tiến trình cách mạng không ngừng giữa chúng
không có sự ngăn cách. Sự phát triển đó mang tính khách quan, là xu thế tất yếu
của cách mạng Việt Nam và cũng là xu thế của thời đại mới. Tuy nhiên, mỗi giai
đoạn cách mạng có nhiệm vụ cơ bản, trung tâm phải tập trung giải quyết trong mối
quan hệ mật thiết với mục tiêu chiến lƣợc lâu dài.
2.1.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về quyền lực chính trị
Quyền lực chính trị là phạm trù trung tâm của chính trị học. Quyền lực chính
trị là quyền lực của một giai cấp (hay liên minh giai cấp), thể hiện khả năng thực tế

trù “nhân dân”, Hồ Chí Minh luôn chú ý một mặt, đảm bảo sự bình đẳng của các
giai cấp, tầng lớp, tránh rơi vào chủ nghĩa biệt phái; mặt khác, không xóa nhòa ranh
giới giữa các giai cấp, tầng lớp, mà vẫn hết sức nhấn mạnh “cái lõi” của nhân dân
là công nhân, nông dân và lao động trí óc, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh
đạo.
Từ nhận thức đúng đắn về nhân dân và vai trò của nhân dân trong lịch sử, Hồ
Chí Minh đi đến khẳng định quyền lực chính trị của dân trong chế độ mới là “dân
là chủ” và “dân làm chủ”. Khi nói dân là chủ là nói đến vị thế của dân, còn khái
niệm dân làm chủ đề cập đến năng lực và trách nhiệm của dân. Cả hai đi đôi với
nhau, thể hiện vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của dân. Tƣ tƣởng này phản ánh
thực chất quan niệm quyền lực chính trị của dân trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh chính
là nội dung dân chủ. Quyền hành và lực lƣợng đều thuộc về nhân dân và xã hội
đảm bảo điều đó đƣợc thực thi thì đó là một xã hội thực sự dân chủ.
Thứ nhất, theo Hồ Chí Minh, nội dung của dân chủ thể hiện trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội, dân chủ thể hiện ở việc bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công
dân, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Thứ hai, dân
chủ còn thể hiện ở tổ chức hệ thống chính trị với cơ cấu quyền lực và phƣơng thức
tổ chức xã hội, trong đó ngƣời dân có thể thực hiện quyền làm chủ xã hội. Thứ ba,
xây dựng nền dân chủ không chỉ chú trọng xây dựng và hoàn thiện chế độ dân chủ
rộng rãi, mà còn phải quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị để bảo
đảm dân chủ.
2.1.3. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về hệ thống chính trị
Trong hệ thống tƣ tƣởng của mình, Hồ Chí Minh không dùng khái niệm hệ
thống chính trị mà bằng những lý giải riêng, Hồ Chí Minh xác định cơ cấu tổ chức
và vai trò của của từng tổ chức trong việc thực thi quyền lực chính trị của nhân dân.
Ngƣời luôn chú trọng xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự trong sạch, vững
mạnh; xây dựng nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân; xây dựng Mặt trận
Tổ quốc thực hiện đại đoàn kết toàn dân. Đó chính là cơ cấu tổ chức của hệ thống
chính trị theo cách hiểu hiện nay.
Tư hưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam và xây ḍng Đảng trở

của dân tộc.
Phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền trong tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh, Theo Hồ Chí Minh, yêu cầu trƣớc hết trong sự lãnh đạo đối với Đảng cầm
quyền là phải đề ra đƣợc đƣờng lối, chủ trƣơng đúng đắn. Đƣờng lối đó phải đƣợc
thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nƣớc. Đồng thời, với tƣ
cách là tổ chức chính trị cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra đƣờng lối,
chủ trƣơng và vận dụng, thuyết phục các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tham
gia vào các phong trào cách mạng biến chủ trƣơng, đƣờng lối thành hiện thực.
Mối quan hệ giữa Đảng với dân trong điều kiện Đảng cầm quyền. Trong quan
niệm của Hồ Chí Minh, quyền lực của Đảng không tự nhiên mà có. Quyền lực ấy
là của nhân dân; nhân dân ủy thác cho Đảng đứng ra lãnh đạo sự nghiệp cách
mạng. Cơ sở xã hội đối với quyền lực của Đảng không chỉ là từ giai cấp công nhân
mà còn từ toàn thể nhân dân lao động. Trong mối quan hệ với dân, trước hết, Đảng
tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân là để lấy các ý kiến đó làm cơ sở cho việc
hoạch định đƣờng lối, chủ trƣơng đúng đắn của mình. Thứ hai, khi đã có đƣờng lối,
chủ trƣơng, chính sách đúng thì Đảng chỉ có thể đƣa đƣờng lối, chủ trƣơng, chính
sách đó vào cuộc sống nếu đƣợc sự tiếp nhận và tự giác thực hiện từ phía nhân dân,
từ đó mới có thể huy động đƣợc đông đảo nhân dân tham gia thực hiện bằng chính
nhân, tài, vật lực của chính nhân dân. Thứ ba, sự liên hệ mật thiết với nhân dân
giúp cho Đảng có thể dựa vào dân để tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng ta và đội ngũ


17

đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh. Bên cạnh đó, một trong những yếu tố
rất quan trọng để tăng cƣờng hơn nữa mối liên hệ giữa đảng viên và quần chúng
chính là việc phát huy mạnh mẽ vai trò gƣơng mẫu của đảng viên và đƣợc thể hiện
trƣớc tiên là ở tƣ cách đạo đức, lối sống trong sạch trong mỗi đảng viên và việc đấu
tranh với những biểu hiện tiêu cực, tha hóa trong Đảng.
Tư hưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân:
Trong nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân, để phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa người chủ (ngƣời dân) và
người đầy tớ (cán bộ chính quyền, Đảng). Hai mặt này có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Nếu chỉ khẳng định một mặt địa vị, quyền lợi, nghĩa vụ của ngƣời dân trong
quá trình làm chủ, thì ngƣời dân chƣa thể thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của


18

mình. Vai trò, trách nhiệm và cách làm việc của cán bộ từ cấp cơ sở đến Chính phủ
trung ƣơng là thành tố thứ hai không thể thiếu đƣợc trong quá trình thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân.
Về xây dựng bộ máy nhà nước và cán bộ công chức: Hồ Chí Minh rất chú
trọng đến việc xây dựng bộ máy nhà nƣớc tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với từng giai
đoạn để phục vụ đắc lực cho mục tiêu hoạt động của nhà nƣớc. Vì vậy, khi bàn về
xây dựng bộ máy nhà nƣớc mới, Hồ Chí Minh hƣớng đến xây dựng đội ngũ cán bộ
công chức đủ đức đủ tài, vừa hồng vừa chuyên. Trƣớc hết, cán bộ, công chức phải
là người trung thành, kiên cường bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhà nước.
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ công chức phải là người giỏi chuyên môn nghiệp vụ
và phải được đào tạo chuyên nghiệp. Đồng thời, ngƣời cán bộ phải có mối liên hệ
mật thiết với nhân dân.
Tư hưởng Hồ Chí Minh về xây ḍng Mặt trận dân tộc thống nhất
Tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm để phát huy
sức mạnh cộng đồng nhằm chống thiên tai và giặc ngoại xâm là truyền thống tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam đƣợc gìn giữ và phát huy từ đời này qua đời khác, từ thế
hệ này qua thế hệ khác. Đến Hồ Chí Minh, truyền thống ấy đƣợc phát triển cao
hơn, “đại đoàn kết đƣợc xây dựng trên cả một lý luận chứ không còn là đơn thuần
là tình cảm tự nhiên của ngƣời trong một nƣớc phải thƣơng nhau cùng”5. Điều đó
có nghĩa là, trong tƣ duy lý luận của Hồ Chí Minh, tƣ tƣởng đại đoàn kết đƣợc hình

Khoa học là cơ sở, là tiền đề của lý luận cách mạng. Cách mạng là hệ quả tất
yếu nảy sinh từ khoa học, từ nhận thức khoa học mà đi tới hành động cách mạng
trong thực tiễn, từ giải thích đúng đắn, chân thực thế giới khách quan mà đi đến cải
tạo thế giới bằng cách mạng. Tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh không những mang
tính khoa học, sáng tạo mà còn mang bản chất cách mạng, triệt để. Nói cách khác,
Chính trị Hồ Chí Minh là chính trị hành động, không dừng ở tƣ tƣởng, lời nói mà
tƣ tƣởng, lời nói phải đƣợc thể hiện bằng việc làm, bằng hành động cụ thể, thiết
thực. Nói cách khác, tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh thể hiện một kiểu mẫu của
chính trị hành động, trọng công việc thực tế, trọng sự thiết thực, có ích cho cuộc
sống của dân, cho sự phát triển của đất nƣớc, con ngƣời và xã hội, chống lại mọi
biểu hiện phô trƣơng, hình thức, sự hời hợt, giản đơn trong suy nghĩ và hành động.
Hành động để cứu dân, cứu nƣớc, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc cũng là để toan
tính, trù liệu cho cuộc sống độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Hành động vì
chân lý mà xem xét, từ chính trị mà đấu tranh cách mạng, từ phá cái cũ lạc hậu,
thối nát, hƣ hỏng, đổi sang cái mới tiến bộ, lành mạnh để nƣớc nhà có độc lập, dân
tộc đƣợc tự do, đồng bào có hạnh phúc thì phải hiểu chân lý là những gì tốt cho
dân, có lợi cho dân, phục tùng chân lý thì phải phục vụ nhân dân.
2.2.2. Tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh có sự thống nhất giữa tính giai
cấp, tính dân tộc và tính thời đại
Tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính dân
tộc và tính nhân loại. Khi nói về giai cấp là nói đến lực lƣợng lãnh đạo sự phát
triển tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa tiếp ngay sau cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân. Khi nói đến dân tộc là nói đến mục tiêu giải phóng các tầng lớp nhân
dân bị áp bức, huy động sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc, đƣợc xây dựng trên
nền tảng công nông liên minh, dƣới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân.
Mục tiêu của giai cấp vô sản và dân tộc về cơ bản là thống nhất: độc lập cho dân
tộc, dân chủ cho nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ở Hồ Chí Minh, biết đặt
quyền lợi dân tộc lên trên hết là động lực giúp Hồ Chí Minh vƣợt qua mọi khó
khăn, thử thách trong cuộc đời hoạt động chính trị và là nền tảng cho đại đoàn kết
dân tộc, đảm bảo cho mọi thành công của cách mạng nƣớc ta. Đồng thời, tính dân

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2

Tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh đã thể hiện phong phú, đa dạng và sâu sắc
trên một số nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Hồ Chí Minh xác định mục tiêu chính trị và đƣờng lối chính trị là
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giành độc lập tự do cho dân tộc để
tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thứ hai, Hồ Chí Minh đã xác định cơ cấu tổ
chức gắn liền với vai trò của từng tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tổ chức ấy
trong chế độ mới. Ngƣời luôn luôn chú trọng xây dựng các tổ chức chính trị ở nƣớc
ta, bao gồm: Đảng cầm quyền, Nhà nƣớc dân chủ nhân dân và các tổ chức chính trị
quần chúng. Đây chính là cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị theo cách hiểu hiện
nay. Thứ ba, từ việc tìm hiểu, nghiên cứu nội dung cơ bản của tƣ tƣởng chính trị
Hồ Chí Minh, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, tƣ
tƣởng chính trị Hồ Chí Minh mang tính khoa học; Thứ hai, tƣ tƣởng chính trị Hồ
Chí Minh mang tính cách mạng, triệt để; Thứ ba, tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh
mang tính nhân văn sâu sắc.
Chƣơng 3
VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. KHÁI QUÁT HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

3.1.1. Khái niệm và đặc điểm hệ thống chính trị Việt Nam
Hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thƣợng tầng xã hội, bao gồm
các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong
việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, trong việc đƣa ra các
quyết định chính trị.
Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam: Ở Việt Nam, khái niệm “hệ thống
chính trị” xuất hiện vào những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, tại Văn kiện


nhiều hạn chế, yếu kém, chậm đƣợc khắc phục: Tình trạng suy thoái về chính trị, tƣ
tƣởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình
trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chƣa đƣợc
ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp. Một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một
số cán bộ cao cấp, suy thoái về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu
hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tƣởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội,
thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng
phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...
Thực trạng hoạt động của bộ máy Nhà nước
Trong quá trình đổi mới đất nƣớc, lĩnh vực tổ chức và quản lý nhà nƣớc là
lĩnh vực khó khăn nhất đối với một Đảng cầm quyền, “Đó là nhiệm vụ khó khăn
nhất, vì vấn đề là phải tổ chức theo phƣơng thức mới những cơ sở sâu xa nhất,
những cơ sở kinh tế của đời sống của hàng chục và hàng chục triệu con ngƣời”6.
6

V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 36, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, tr.210.


22

Trong quá trình đổi mới đất nƣớc, việc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tƣ pháp7. Đồng thời, việc
xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa đƣợc đẩy mạnh, hiệu lực và hiệu
quả hoạt động đƣợc nâng lên. Bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc, tổ chức và
hoạt động của Nhà nƣớc còn một số khâu chậm đổi mới. Bộ máy quản lý nhà nƣớc
các cấp, nhất là ở cơ sở còn yếu kém. Tình trạng nhũng nhiễu cửa quyền, thiếu
trách nhiệm ở một bộ phận công chức nhất là ở cơ quan trực tiếp giải quyết công
việc của dân và doanh nghiệp chậm đƣợc khắc phục. Đặc biệt, tình trạng quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi, lợi ích nhóm... vẫn còn nghiêm trọng, với

tƣởng chính trị, đạo đức và lối sống của đảng viên; cần phải xây dựng Đảng ta thực
7

Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr.60.


23

sự trong sạch, vững mạnh và xem việc “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là
khâu then chốt, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới”8.
3.2.2. Giải pháp xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Để xây dựng Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh, thật
sự là nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, cần tập trung
giải quyết một số nội dung cơ bản, cấp bách sau đây: Một là, bằng nhiều hình thức,
biện pháp phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân; Hai là, xây dựng đội
ngũ cán bộ, nhân viên nhà nƣớc có phẩm chất đạo đức và năng lực phù hợp với
chức trách, nhiệm vụ mà nhân dân tín nhiệm giao phó; Ba là, tăng cƣờng sự lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nƣớc.
3.2.3. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
chính trị - xã hội
Để xây dựng Mặt trận Tổ quốc theo tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh, trong
giai đoạn hiện nay, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức thành viên cần
làm tốt những nhiệm vụ sau: Một là, khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi ngƣời
có cơ hội lập thân, lập nghiệp; Hai là, góp phần tích cực vào việc mở rộng và tăng
cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng Nhà nƣớc sớm thể chế hóa các định
hƣớng chính sách đối với các giai cấp và tầng lớp, đảm bảo bình đẳng và công
bằng xã hội. Mở rộng dân chủ đi liền với việc tăng cƣờng trật tự, kỷ cƣơng, vận
động nhân dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền và lợi
ích chính đáng của đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân; Ba là, tổ chức

Mặt trận Tổ quốc là tổ chức chính trị - xã hội, là nơi tập hợp, đoàn kết, quy tụ mọi
tầng lớp nhân dân, đại diện cho các tầng lớp nhân dân thực hiện chức năng giám
sát, phản biện mọi hoạt động của Đảng, Nhà nƣớc trong việc thực thi quyền lực
chính trị, quyền lực nhà nƣớc, quyền lực công với tƣ cách là ngƣời chủ xã hội. Hai
là, việc vận dụng tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh vào việc xây dựng hệ thống
chính trị ở nƣớc ta hiện nay, trong đó xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự
trong sạch, vững mạnh; xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự
của dân, do dân và vì dân; xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành khối đại
đoàn kết toàn dân vững chắc, đƣợc đặt ra một cách cấp bách.
KẾT LUẬN CHUNG
Trong khi phản ánh thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới những năm cuối
thế kỷ XIX và trong thế kỷ XX, tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát
triển tƣ tƣởng chính trị và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, tƣ tƣởng
chính trị và tinh hoa văn hóa phƣơng Đông, phƣơng Tây và đặc biệt mỗi luận điểm
mà Ngƣời nêu ra đều thể hiện sinh động tinh thần và phƣơng pháp biện chứng của
chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới. Trên cơ sở những điều kiện và tiền đề
ấy, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra bản chất dã man, tàn bạo của chủ nghĩa thực dân
và khẳng định tính tất yếu phải đi theo con đƣờng cách mạng vô sản thì mới có thể
giải phóng đƣợc dân tộc và đƣa dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nội dung tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh thể hiện khá phong phú, sâu sắc ở ở
nhiều khía cạnh khác nhau: Hồ Chí Minh xác định mục tiêu chính trị và đƣờng lối
chính trị là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Để đảm bảo cho đƣờng
lối chính trị “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” đƣợc thực hiện thắng
lợi ở nƣớc ta, theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng một Đảng Cộng sản ngày càng
trong sạch, vững mạnh và luôn tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng trong suốt quá
trình cách mạng; xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân
và vì dân và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng liên minh giữa
giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dƣới sự lãnh đạo của
Đảng; đồng thời có sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lƣợng cách mạng, hòa bình, dân
chủ và tiến bộ trên thế giới. Những nhân tố trên tồn tại không phải là biệt lập mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status