MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng
ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh Nhân văn hóa thế giới, người chiến sĩ lỗi
lạc của phòng trào giải phóng dân tộc thuộc địa và bị áp bức trên toàn thế giới.
Người lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta tiến hành cuộc cách mạng tháng 8/1945
thắng lợi, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; dẫn dắt dân tộc Việt Nam
đi qua Hai cuộc kháng chiến trường kỳ đến đại thắng Mùa Xuân 1975 thống nhất
đất nước. Người ra đi, để lại cho Đảng ta, dân tộc ta một tài sản to lớn- đó là hệ
thống tư tưởng của Người; Là ngọn đuốc soi đường, chỉ lối cho cách mạng Việt
Nam đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam; kế thừa và
phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá
nhân loại; là ngọn cờ dẫn đường cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong
suốt hơn 80 năm quan và tiếp tục soi sáng con đường chúng ta tiến lên xây dựng
một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và từng bước đi lên
XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, những quan điểm, tư tưởng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng trở
nên quan trọng và cần thiết để cho Đảng ta và các thế hệ lãnh đạo của Đảng vận
dụng vào xây dựng và hoạch định cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng.
Vì vậy, Học viên chọn đề tài: “Tư tưởng của Hồ Chí Minh về Đảng và xây
dựng Đảng cộng sản Việt Nam; ý nghĩa của tư tưởng đối với cách mạng Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay”. Làm đề tài tiểu luận môn Tư tưởng hồ Chí Minh
1
v quan im ca ng Cng sn Vit Nam v Xõy Dng ng v Chớnh quyn
nh nc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và
phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá
nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do
dân, vì dân; về nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về
phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm
lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; Trong đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng
và xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán
bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân
dân là tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển trong mọi giai
đoạn của cách mạng Việt Nam.
1.1. Tính tất yếu và vị trí, vai trò của Đảng cộng sản
Kế thừa và phát huy quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin; Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhấn mạnh: cách mạng muốn thành công thì phải do nhân dân đoàn kết, đem
sức ta mà giải phóng cho ta. Nhưng nhân dân muốn làm cách mạng thành công thì
phải có Đảng dẫn đường. Như vậy Đảng đó phải như thế nào. Để khẳng định vai
trò quan trọng của Đảng, Người nói: Đảng có vững cách mệnh mới thành công,
cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Ở đây Người nhấn mạnh vai trò
3
của Đảng, Đảng mạnh thì mới lãnh đạo cách mạng thành công. Thực tế lịch sử
Việt Nam đã chứng minh điều đó, trước khi Đảng ra đời nhiều phong trào yêu
nước đều bị thất bại và từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/2/1930); chỉ
mới 15 tuổi Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thành công cuộc cách mạng
làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung
sướng” (7, Tr 687).
1.2. Về bản chất giai cấp của Đảng
Khi bàn về bản chất giai cấp của một chính Đảng, chúng ta thấy rằng bất kỳ
một đảng chính trị nào cũng là sản phẩm của đấu tranh giai cấp và mang bản chất
của một giai cấp nhất định. Bản chất giai cấp của Đảng là nguyên lý cơ bản nhất
trong học thuyết Mác- Lênin về Đảng Cộng sản, được thể hiện khá rõ nét trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về Đảng; Người thường có nhiều cách gọi về Đảng Cộng sản
Việt Nam; có lúc Người gọi là “Đảng cách mạng”, “Đảng cách mạng chân chính’,
“Đảng của vô sản giai cấp” v.v…nhưng thực chất là một, đó là Đảng kiểu mới của
giai cấp vô sản, mang trong lòng mình bản chất cách mạng và khoa học trung
thành với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam lại gắn bó chặt chẽ giữa lợi ích giai cấp với lợi ích của nhân dân lao động
Việt Nam và toàn dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhiệm vụ của Đảng là
một long, một dạ phụng sự tổ quốc và nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của
nhân dân, Đảng không có lợi ích gì khác” (8, tr 335).
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ bản chất của Đảng, Đảng mang
bản chất giai cấp công nhân cho nên luôn phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng
của giai cấp, của nhân dân lao động, của cả dân tộc. Bản chất giai cấp công nhân
của Đảng được thể hiện trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức- cả trong
đường lối chính trị, nền tảng tư tưởng, nguyên tắc tổ chức và mọi hoạt động của
Đảng. Dù ở giai đoạn phát triển hay hoàn cảnh lịch sử nào, bản chất giai cấp công
5
nhân vẫn là nguồn gốc quyết định sự tồn tại và phương hướng phát triển của Đảng.
Qua hơn 80 năm lãnh đạo các mạng Việt Nam, trải qua muôn vàn khó khăn,
vai trò và sứ mệnh lịch sử vĩ đại ấy của Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng
được khẳng định. Giữ vững bản chất của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong
nguyên nhân thất bại mà sửa chữa để lần sau không mắc phải sai lầm đó. Người ví
phê bình sửa chữa như rèn dao phải biết chỗ cùn mà mài thì mới có dao tốt. Người
định nghĩa rõ về tự phê bình và phê bình: hai lĩnh vực tự phê bình và phê bình phải
đi đôi với nhau theo đó khi thực hiện tự phê bình và phê bình thì tự phê bình mình
trước sau đó phê bình đồng chí mình. Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết
điểm của đồng chí mình. “Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của
mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau. Mục đích là cho mọi người
học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm”; (5, tr 267).
Về cách phê bình, Người chỉ rõ: phê bình mình cũng như phê bình người
phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu
điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc.
Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người. Những người bị phê bình thì
phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán
ghét”. Theo người; công tác tự phê bình và phê bình phải được thực hiện thường
xuyên nhất là trong Đảng, phải kịp thời thấy khuyết điểm của mình, của đồng chí
mình để sửa chữa và kiên quyết sửa chữa thì Đảng mới phát triển và công việc mới
thành công. Người yêu cầu “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm
điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt” (7, Tr 477).
Đối với Đảng, Người khẳng định: “Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm
khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm
của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh
sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như
7
thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (7, Tr 499).
Tự phê bình hiện nay phải tập trung chủ yếu vào tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và đề cao tính tiên phong gương
mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên. Muốn vậy, phải mở rộng dân chủ trong nội bộ
Đảng, trong tất các các tổ chức quần chúng của Đảng và nhân dân lao động. Đó là
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng phải liên lạc mật thiết với dân
chúng, hiểu biết dân chúng”. Người đã nêu lên ba cơ sở chính đòi hỏi Đảng phải
xây dựng mối gắn bó keo sơn với dân:
Thứ nhất, muốn cách mạng thành công trước hết cần có Đảng, nhưng nhân
dân luôn là một lực lượng quyết định. Từ quá trình hoạt động phong phú, sáng tạo
của mình, Hồ Chí Minh nhận xét: Có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó
khăn mấy cũng làm được. Không có, thì việc gì cũng không xong”. Người kết
luận: “Nếu không có dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì”.
Thứ hai, Đảng cần có mối liên hệ mật thiết với dân. Hồ Chí Minh đánh giá
rất cao kinh nghiệm, trí tuệ của nhân dân. Người viết “Dân chúng biết nhiều vấn đề
một cách đơn giản mau chóng đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to
lớn nghĩ mãi không ra”. Chính vì vậy Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải học
dân chúng, phải hỏi dân chúng”.
Thứ ba, Hồ Chí Minh nhấn mạnh luận điểm: “Từ trong quần chúng ra. Về
sâu trong quần chúng”. Điều này cho thấy, Người rất coi trọng trong công tác dân
vận.
Nhận thức và giải quyết tốt những vấn đề nêu trên sẽ mang lại kết quả tốt
đẹp: Đảng được dân tin, dân phục, dân yêu. Mối quan hệ giữa Đảng và dân sẽ mãi
bền chặt, trở thành động lực đưa sự nghiệp đổi mới đến thành công.
9
Chương 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng
của C.Mác và Ph.Ăngghen về chính đảng của giai cấp vô sản và được V.I.Lênin
phát triển lên thành học thuyết về chính Đảng vô sản kiểu mới; từ truyền thống văn
hiến và đặc biệt là truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam; từ tinh hoa văn
hoá nhân loại và thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân trên thế giới.
làm cách mạng giành chính quyền, cần có nhiều nhân tố, song nhân tố quan trọng,
quyết định nhất là phải có Đảng. Khi đã có Đảng, theo Người để hoàn thành sứ
mệnh lịch sử của mình, Đảng phải coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Đó là việc trước tiên, việc chính, việc cần kíp, việc phải làm ngay. Theo Chủ tịch
Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên sống trong xã hội đều chịu sự tác động của
những cái hay, cái dở, cái tốt, cái xấu, để loại bỏ cái xấu, cái dở phải bằng việc rèn
luyện thường xuyên, trong đó biện pháp quan trọng là thông qua xây dựng, chỉnh
đốn Đảng. Ngoài việc chỉ rõ những ưu điểm, Người còn chỉ ra những khuyết điểm,
yếu kém của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của tổ chức đảng cần phải khắc phục, loại
bỏ. Việc chỉnh đốn Đảng là để cán bộ, đảng viên khi gặp khó khăn thì củng cố
quan điểm, lập trường, bình tĩnh sáng suốt, không bi quan; khi thuận lợi thì tiếp tục
xây dựng quan điểm, lập trường, không chủ quan, tự mãn, lạc quan tếu...Theo Hồ
Chí Minh, xây dựng là để chỉnh đốn, chỉnh đốn là nhằm mục tiêu xây dựng. Xây
dựng, chỉnh đốn Đảng có mối quan hệ mật thiết với nhau, là việc làm thường
xuyên, cần thiết và rất quan trọng để khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm, làm
cho Đảng mạnh lên.
Nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh được đề
cập rất phong phú, đa dạng. Chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng phải làm toàn diện cả
chính trị, tư tưởng và tổ chức. Phải làm cho Đảng mạnh lên toàn diện, đồng thời
chỉnh đốn, xây dựng Đảng được tiến hành ở tất cả các cấp, trong đó đặc biệt coi
11
trng lm tt chi b ng vỡ chi b l nn múng ca ng. Sau cỏch mng thỏng
8/1945 thnh cụng, ng ó thc hin chc nng lónh o chớnh quyn.
phng thc lónh o ca ng phự hp vi nhim v cỏch mng: va xõy dng
chớnh quyn, phỏt trin kinh t, va khỏng chin, va kin quc, H Chớ Minh ó
vit tỏc phm "Sa i li lm vic, trong ú, Ngi ó nờu bn phn v t cỏch
ng viờn. T tng t li ớch ca ng, ca dõn tc lờn trờn ht v ra sc phn
u tu dng rốn luyn, hc tp cho i ng cỏn b, ng viờn l nhng t tng
không che dấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận
khuyết điểm của mình và tự sửa chữa, để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ, đảng viên.
Đảng phải lựa chọn những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành
nhóm trung kiên lãnh đạo. Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hoá ra
ngoài. Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống. Kỷ luật này là tư tưởng phải
nhất trí, hành động phải nhất trí. Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về
nhiệm vụ của họ đói với Đảng. Đảng phải luôn xét lại những nghị quyết và những
chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những chỉ thị và nghị
quyết đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với
Đảng.
Trong nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh có một bộ phận rất quan trọng là tư
tưởng về đạo đức cách mạng. Ngay từ năm 1927 khi còn đang chuẩn bị thành lập
Đảng, trong cuốn “Đường cách mệnh”, sau khi dẫn lời Lênin về vai trò của lý luận
cách mạng tiên phong đối với Đảng tiên phong. Người mở đầu tác phẩm với một
mục lớn: “Tư cách một người cách mệnh”. Trong đó người xác định những yêu
cầu về đạo đức mà người cách mệnh phải có như “giữ chủ nghĩa cho vững…hy
sinh ít lòng tham muốn về vật chất…vị công vô tư. Không hiếu danh, không kiêu
ngạo. Nói thì phải làm…quyết đoán, dũng cảm. Phục tùng đoàn thể.
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thường tu dưỡng rèn
luyện phẩm chất đạo đức người chiến sĩ cách mạng. Người nhấn mạnh: “Người
cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh
14
đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là
một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã
hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.
Đối với một đảng cầm quyền thì việc chăm lo đào tạo bồi dưỡng cán bộ là
việc rất quan trọng, đây là “công việc gốc của Đảng” bởi vì cán bộ là cái gốc của
mọi công việc. “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ
nhiờu khuyt im lũi ra ht, hn na kim tra khộo v sau khuyt im nht nh
bt i (7, Tr 525). Kim tra phi c thc hin thng xuyờn v phi lm cú h
thng v ngi lm cụng tỏc kim tra phi chn ngi cú uy tớn. Theo H Chớ
Minh: Kiểm soát có hai cách: một cách là từ trên xuống. Tức là ngời lãnh
đạo kiểm soát kết quả những công việc của cán bộ mình.
Một cách nữa là từ dới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai
lầm của ngời lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó. Cách này
là cách tốt nhất để kiểm soát các nhân viên (7, Tr 526).
16
Chương 3: Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI
CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Ý nghĩa về mặt lý luận:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam là
một kho tàng lý luận còn mãi giá trị đối với Đảng ta hiện nay. Đó không chỉ là
những quan điểm chính trị đầu tiên của cách mạng Việt Nam, mà cùng với hệ
thống tư tưởng của Người, nó đã đặt cơ sở cho việc ra đời Đảng cộng sản Việt
Nam; hình thành đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc của nước ta theo con
đường cách mạng vô sản. Nó đánh dấu sự chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường
lối cứu nước đã diễn ra từ cuối thế kỷ XIX cho đến những năm đầu thế kỷ XX.
Tư tưởng của Người đã đề cập tỷ mỷ đến hầu hết các mặt công tác xây dựng
Đảng, chứ không chỉ riêng “lối làm việc” (tức là phương thức làm việc của Đảng).
Và, vượt lên trên tất cả những vấn đề về lối làm việc hay phương thức lãnh đạo của
Đảng, những quan điểm của Hồ Chí Minh có ý nghĩa như là lý luận về chỉnh đốn
Đảng ta. Đảng ta là một thực thể của xã hội, “Đảng ta không phải trên trời sa
xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”. Do đó, Đảng phải thường xuyên được chỉnh đốn.
Đây cũng là một quy luật tồn tại và phát triển của Đảng ta.
Thời kỳ của toàn cầu hóa với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng;
đặt ra như một yêu cầu và thách đố đối với nhiều quốc gia- dân tộc; là thời đại
bùng nổ cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với sự phát triển rất nhanh chóng
của nền kinh tế tri thức. Đó là thời kỳ mà nước ta đang đứng trước thời cơ, vận hội
để phát triển, đồng thời cũng gặp những nguy cơ, thách thức lớn. Đó là thời kỳ đất
nước ta dần hoàn chỉnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây
dựng đất nước với mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì
dân”, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam- một chính đảng cách mạng
chân chính duy nhất lãnh đạo toàn xã hội và đóng vai trò là Đảng cầm quyền.
18
Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong điều kiện như vậy. Việc đổi mới
và chỉnh đốn Đảng một cách thường xuyên là quy luật tồn tại và phát triển của
Đảng. Làm theo quy luật, Đảng sẽ giành thắng lợi. Làm sai, Đảng sẽ bị quy luật
trừng trị.
Từ thực tiễn hơn 25 năm đổi mới đất nước, tại Đại hội XI (01/2011) Đảng đã
rút ra một số kinh nghiệm, trong công tác xây dựng Đảng: “...trong bất kỳ điều
kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên
định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (11, tr 180). Đổi
mới không phải từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà làm cho chủ nghĩa xã hội được
nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn. Đổi mới không phải là
xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho
hành động cách mạng”.
Trong thời kỳ hiện nay, đất nước có những chuyển biến tích cực trên nhiều
mặt, tình hình thế giới cũng có những diễn biến phức tạp, do đó nắm vững lý luận
và phương pháp cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Để làm tốt nhiệm vụ lãnh đạo nhân
dân ta xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tiếp tục phát huy sức mạnh toàn dân
tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển như Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ "Giữ vững vàn chất và tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh
cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của Đảng là nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp
cách mạng của nhân dân ta hiện nay" (11, tr 56).
Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là đợt
sinh hoạt chính trị rộng lớn trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội, được tiến
20
hành trong thời gian dài, có nội dung phong phú, cụ thể và thiết thực. Đây là một
trong những biện pháp cơ bản để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của
Đảng; là một trong những động lực chính trị quan trọng góp phần tăng cường sức
mạnh của Đảng, của dân tộc trước cục diện phát triển mới của đất nước. Thắng lợi
của cuộc vận động tuỳ thuộc trước hết vào nhận thức, tinh thần trách nhiệm, quyết
tâm hành động và sự chỉ đạo chặt chẽ, thường xuyên của các cấp uỷ đảng; sự phấn
đấu tự giác của từng cán bộ, đảng viên và sự ủng hộ của toàn dân.
Với niềm tự hào và niềm tin sâu sắc vào Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ
Chí Minh vĩ đại, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, phát huy mạnh mẽ truyền thống vẻ vang của dân tộc, của
Đảng, vững bước tiến lên trong thời kỳ đổi mới, đoàn kết, hội nhập và phát triển
bền vững.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
21