MC LC
Trang
M U .........01
NI DUNG..04
Chơng 1: Hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản ca Tuyờn
ngụn ca ng cng sn...04
1. Hoàn cảnh ra đời.......04
2. Nội dung cơ bản ..............................................................................06
Chơng 2: T tởng về cách mạng vô sản và chuyên chính vô
sản...............................................................................................08
1. T tởng cách mạng vô sản ..........................................................08
1.1. Giai cấp vô sản và sứ mệnh lịch sử của nó.................................08
1.2. Mục đích, tính chất của cuộc cách mạng vô sản.................10
1.3. Đối tợng, lực lợng và phơng pháp cách mạng vô sản......12
2. T tởng chuyên chính vô sản...............................................13
2.1. Bản chất nhà nớc vô sản......................................................13
2.2. Phơng pháp và biện pháp thực hiện chuyên chính vô sản..15
3. Phê phán những luận điệu xuyên tạc t tởng cách mạng vô sản và
chuyên chính vô sản.......................................................................17
Chơng 3: í nghĩa của t tởng cách mạng vô sản và chuyên chính
vô sản i vi phong tro cng sn v cụng nhõn quc
t ..22
1. í nghĩa i vi phong tro cng sn v cụng nhõn quc t22
2. Sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.................24
KT LUN............................................................................................. 26
DANH MC TI LIU THAM KHO ..........................................28
2
lch s ca giai cp cụng nhõn; v Cách mạng vô sản và chuyên chính
vô sản. Trong thời đại ngày nay, nghiên cứu t tng này là hết sức cần
thiết, có ý nghĩa to lớn và sâu sắc về mặt lý luận cũng nh về mặt thực tiễn.
Giai cấp vô sản muốn thực hiện đợc sứ mệnh lịch sử của mình, lật đổ sự
thống trị của giai cấp t sản, không có con đờng nào khác ngoài con đờng
cách mạng vô sản v con đờng chuyên chính vô sản.
Do đó, hc viờn chọn đề tài: "T tng về cách mạng vô sản và
chuyên chính vô sản trong Tuyờn ngụn ca ng cng sn v ý ngha
ca nú i vi phong tro cng sn v cụng nhõn quc t" để làm tiểu
luận học phần mụn Quan h quc t.
2. Tình hình nghiên cứu
Ngay từ khi mới ra i Tuyờn ngụn ca ng cng sn đã đợc giai
cấp vô sản, các chính trị gia nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng những t tởng
của tác phẩm. Đã có rất nhiều công trình khoa học, các hội thảo khoa học
và các bài báo khoa học bàn về tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.
Năm 1997, Hoàng Tùng viết cuốn sách có tựa đề là "Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản - Tuyên ngôn khoa học và cách mạng". Năm 1998, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã phối hợp với Trung tâm Khoa học
xã hội và nhân văn hoàn thành cuốn sách "Sống mãi Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản".
Tuy nhiờn cha có công trình nào đề cập, phõn tớch chuyên sâu về nội
dung t tng Cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản v nh hng
ca nú n phong tro cng sn v cụng nhõn quc t.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận tập trung nghiên cứu những luận điểm về Cách mạng vô
sản và chuyên chính vô sản trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của
Mác và Ăngghen. Ngời viết sẽ tập trung tìm hiểu nội dung và ý nghĩa của
1. Hoàn cảnh ra đời
Tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" do C.Mác và Ph.
Ăngghen soạn thảo từ cuối năm 1847 đến tháng Giêng năm 1848 thì hoàn
thành. Tác phẩm này đợc xuất bản lần đầu tiên vào tháng 2 năn 1848.
4
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ mục đích của tác phẩm là "những ngời
cộng sản công khai trình bày trớc toàn thế giới những quan điểm, mục
đích, ý đồ của mình; và phải có một Tuyên ngôn của Đảng mình để đập lại
câu chuyện hoang đờng về bóng ma cộng sản". (2, tr 595)
"Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" ra đời, trớc hết do những điều kiện
kinh tế - chính trị - xã hội chín muồi vào khoảng giữa thế kỷ XIX.
Tác phẩm xuất hiện trong điều kiện Chủ nghĩa t bản (CNTB) đang
trên đà phát triển. Mâu thuẫn cơ bản trong CNTB biểu hiện về mặt kinh tế
là mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất mang tính xã hội hoá ngày càng cao
với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu t nhân t bản đã phát triển
gay gắt; biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai
cấp t sản. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp t sản
đã bớc sang một giai đoạn mới.
Vào giữa thế kỷ XIX, CNTB ở Anh, Pháp đã đạt đợc những bớc phát
triển quan trọng. Cùng với cách mạng công nghiệp, quá trình phát triển của
CNTB ở châu Âu diễn ra khá mạnh mẽ. Tiến trình phát triển của CNTB
một mặt khẳng định sự chiến thắng của CNTB đối với chế độ phong kiến;
mặt khác đã làm cho mâu thuẫn vốn có của CNTB ngày càng gay gắt. Mâu
thuẫn vốn có của phơng thức sản xuất TBCN trở nên không thể điều hoà đợc. Những biểu hiện mới của mâu thuẫn đó là khủng hoảng sản xuất thừa,
nạn thất nghiệp. Tình trạng tơng phản giữa giai cấp vô sản và giai cấp t sản
ngày càng bộc lộ rõ ràng hơn. Mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp t
sản ngày càng gay gắt.
có tính chất chiến đấu và cách mạng "Vô sản tất cả các nớc đoàn kết lại".
Từ ngày 29/11 - 8/12/1847, "Đồng minh những ngời cộng sản" tổ
chức Đại hội lần hai. Trong Đại hội này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã bảo vệ
cơ sở khoa học và thực tiễn của bản "Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng
sản". Lý luận của hai ông đợc đánh giá cao và Đại hội nhất trí giao cho hai
ông soạn thảo một bản cơng lĩnh mới dới hình thức là một tuyên ngôn.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản không chỉ là một tác phẩm lý luận
mà còn là một bản Cơng lĩnh cách mạng đầu tiên của phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế; l cỏi mc quan trng ch rừ s ra i ca Ch ngha
Mỏc. C.Mác và Ăngghen đã chỉ rõ: Tuyên ngôn là "Một cơng lĩnh của
Đảng có đầy đủ chi tiết, vừa về mặt lý luận vừa về mặt thực tiễn để đa ra
công bố". Hoàn cảnh và những điều kiện ra đời của tác phẩm Tuyên ngôn
cho thấy đây là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác và phong trào công nhân.
2. Nội dung cơ bản
Trong Lời tựa cho lần xuất bản tác phẩm Tuyên ngôn bằng tiếng
Đức, năm 1883, Ăngghen đã viết: "T tởng cơ bản và chủ đạo của Tuyên
ngôn là: Trong mỗi thời đại lịch sử sản xuất kinh tế mà ra - cả hai cái đó
6
cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử t tởng của thời đại ấy; do đó
(từ khi chế độ công hữu ruộng đất nguyên thuỷ tan rã), toàn bộ lịch sử của
các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa những giai cấp bị bóc lột và
những giai cấp đi bóc lột, những giai cấp bị trị và giai cấp thống trị, qua
các giai đoạn lịch sử của sự phát triển xã hội của họ. Nhng cuộc đấu tranh
hiện nay đã đến một giai đoạn mà giai cấp bị bóc lột, bị áp bức (tức là giai
cấp vô sản) không còn có thể tự giải phóng khỏi tay giai cấp bóc lột và áp
bức mình (tức là giai cấp t sản) đợc nữa, nếu không đồng thời và vĩnh viễn
giải phóng toàn thể xã hội khỏi ách bóc lột, áp bức và khỏi những cuộc đấu
tranh giai cấp".
phơng pháp luận biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra quy
luật đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp. "Lịch sử tất cả các xã hội
từ trớc tới nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp" (2, tr 596). C.Mác và Ph.
Ăngghen đề cập đến "lịch sử tất cả các xã hội từ trớc tới nay" là lịch sử
thành văn, lịch sử phát triển của xã hội loài ngời từ khi chế độ công xã
nguyên thuỷ tan rã. Kể từ khi xã hội có phân chia giai cấp thì có đấu tranh
giai cấp. Cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra không ngừng, kế tiếp nhau trong
lịch sử. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, cuộc đấu tranh giữa giai cấp bị áp
bức, bóc lột với giai cấp đi áp bức bóc lột bao giờ cũng kết thúc bằng một
cuộc cải tạo xã hội hoặc bằng sự diệt vong của cả hai giai cấp đấu tranh với
nhau. Xã hội t sản cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen: "Xã hội t sản hiện đại, sinh ra từ lòng
xã hội phong kiến đã bị diệt vong, không xoá bỏ đợc đối kháng giai cấp"
(2, tr 597). CNTB ra đời là sự phát triển tất yếu của lịch sử. Trong xã hội t
bản, mâu thuẫn giữa giai cấp bị áp bức, bóc lột và giai cấp đi áp bức, bóc
lột không hề mất đi mà còn phát triển ở trình độ cao hơn. Mâu thuẫn đó
phát triển đến mức không thể điều hoà đợc nữa. Giai cấp vô sản nhất loạt
đứng lên chống giai cấp t sản. Vì vậy, cách mạng vô sản nổ ra là tất yếu.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp
vô sản quy định một cách khách quan sứ mệnh lịch sử của họ. Giai cấp vô
sản là những ngời công nhân làm thuê hiện đại, vì mất t liệu sản xuất của
bản thân nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống. Giai cấp vô
sản là sản phẩm của nền đại công nghiệp, là một bộ phận của lực lợng sản
xuất TBCN, đại diện cho phơng thức sản xuất tiên tiến. Do vậy, chỉ có giai
cấp vô sản mới là giai cấp cách mạng triệt để nhất trong tiến trình giải
phóng nền sản xuất khỏi sự kìm hãm của quan hệ sản xuất t bản t nhân chủ
nghĩa. Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản phải trải qua nhiều giai đoạn.
8
nghiệp liên hiệp lại thành một khối đoàn kết ở phạm vi quốc gia và ở phạm
vi quốc tế. Xuất phát từ đòi hỏi, yêu cầu của phong trào cách mạng, giai
cấp vô sản đã tổ chức ra chính đảng của mình nhằm lãnh đạo cuộc cách
mạng chống chủ nghĩa t bản. Từ đó, Mác và Ăngghen khẳng định: "Sự sụp
9
đổ của giai cấp t sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu nh
nhau" (2, tr 613).
1.2. Mục đích, tính chất của cuộc cách mạng vô sản
Cuộc cách mạng vô sản do giai cấp công nhân và nhân dân lao động
thực hiện nhằm thủ tiêu sự áp bức, bóc lột, lật đổ chế độ t bản, giải phóng
giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại; thực hiện mục tiêu cao
cả của ngời cộng sản là xây dựng một xã hội văn minh hiện đại trong đó
mọi ngời dân đều đợc bình đẳng, đợc hởng những thành quả lao động do
chính mình làm ra.
Cuộc cách mạng vô sản là cuộc cách mạng toàn diện nhất, triệt để
nhất và sâu sắc nhất và mang tính quốc tế nhất trong lịch sử. Cuộc cách
mạng vô sản không bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà nó mở rộng ra
toàn thế giới. Toàn thể giai cấp vô sản chống lại ách thống trị của giai cấp
t sản trên phạm vi toàn thế giới. Trớc hết, giai cấp vô sản phải đánh đổ giai
cấp t sản ở nớc mình giải phóng công nhân và nhân dân lao động ở nớc
mình.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: "Cuộc đấu tranh của giai cấp
vô sản chống lại giai cấp t sản, dù về mặt nội dung, không phải là một
cuộc đấu tranh dân tộc, nhng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân
tộc. Đơng nhiên là trớc hết giai cấp vô sản ở mỗi nớc phải thanh toán xong
giai cấp t sản ở nớc mình trớc đã" (2, tr 611).
Cuộc cách mạng vô sản nhằm giành chính quyền về tay giai cấp vô
sản, xoá bỏ chế độ t hữu t bản. Theo quan điểm Mác - Ăngghen, chế độ t
hữu t sản, thực hiện và giải quyết những vấn đề về lợi ích cho giai cấp
mình, cho dân tộc và cho quảng đại quần chúng nhân dân.
- Giai đoạn thứ hai: giai cấp vô sản dùng sự thống trị về chính trị của
mình để từng bớc xây dựng chế độ xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Đó là xã hội: "Sự phát triển tự do của mỗi ngời là điều kiện cho sự phát
triển tự do của tất cả mọi ngời" (2, tr 642). Mô hình xã hội tơng lai mà
cuộc cách mạng vô sản hớng đến là xây dựng chủ nghĩa cộng sản, đặc trng
là xoá bỏ chế độ t hữu, chủ yếu là chế độ t hữu t bản.
1.3. Đối tợng, lực lợng và phơng pháp cách mạng vô sản
- Đối tợng của cuộc cách mạng vô sản là giai cấp t sản, sự thống trị
của giai cấp t sản mà trực tiếp là chế độ chiếm hữu t bản t nhân.
- Lực lợng của cuộc cách mạng là giai cấp vô sản, toàn thể nhân dân
lao động. Trong đó, giai cấp vô sản là ngời lãnh đạo, tổ chức ra đội tiên
phong của giai cấp mình là đảng cộng sản. Trong Tuyên ngôn, Mác và
Ăngghen đã phân biệt rõ sự khác nhau giữa những ngời vô sản và những
ngời cộng sản về cả mặt thực tiễn và cả mặt lý luận.
- Phơng pháp cách mạng vô sản là phơng pháp sử dụng bạo lực cách
mạng. T tởng này chống lại t tởng cơ hội, chống lại việc sử dụng hình thức
"cải lơng", "thoả hiệp".
11
C.Mỏc chỉ rõ: "Những ngời cộng sản công khai tuyên bố rằng mục
đích của họ chỉ có thể đạt đợc bằng cách sử dụng bạo lực lật đổ toàn bộ
trật tự xã hội hiện có" (2, tr 642). Phải sử dụng bạo lực vì giai cấp t sản
không tự nguyện rời bỏ vị trí và nó cũng sử dụng bạo lực để đàn áp phong
trào công nhân.
2. T tng v chuyờn chớnh vụ sn
Chuyên chính vô sản là chính quyền của giai cấp công nhân, đợc
thiếp lập trong tiến trình cách mạng XHCN. Về mặt lịch sử, chuyên chính
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên 10 biện pháp chuyên chính vô sản
về mặt kinh tế cũng nh về mặt văn hoá, xã hội. Hai ông cho rằng các biện
pháp này có thể áp dụng một cách khá phổ biến ở những nớc tiên tiến nhất.
"1. Tớc đoạt sở hũ ruộng đất và bỏ địa tô vào quỹ chi tiêu của nhà nớc.
2. p dụng thuế luỹ tiến cao.
3. Xoá bỏ quyền thừa kế.
4. Tịch thu tài sản của tất cả những kẻ lu vong và của tất cả những
kẻ phiến loạn.
14
5. Tập trung tín dụng vào tay nhà nớc thông qua một ngân hàng
quốc gia với t bản nhà nớc và ngân hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn.
6. Tập trung tất cả những phơng tiện vận tải vào tay nhà nớc.
7. Tăng thêm số công xởng nhà nớc và công cụ sản xuất, khai khẩn
đất đai để cày cấy và cải tạo ruộng đất theo một kế hoạch chung.
8. Thực hành nghĩa vụ lao động đối với tất cả mọi ngời, tổ chức các
đạo quân cho công nghiệp, đặc biệt là cho nông nghiệp.
9. Kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, thi hành những biện pháp
làm mất dần sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn.
10. Giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em. Xoá
bỏ việc trẻ em làm trong các công xởng nh hiện nay. Kết hợp giữa giáo dục
với sản xuất vật chất,." (2, tr 646).
Mời biện pháp này về thực chất là biện pháp bạo lực cách mạng
nhằm tiêu diệt quan hệ sản xuất cũ, tiêu diệt những điều kiện đối kháng
giai cấp, tiêu diệt luôn cả sự thống trị của giai cấp vô sản. Những biện pháp
nêu trong Tuyên ngôn đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc chuyên chính
vô sản, cho rằng chuyên chính vô sản duy nhất là trấn áp, họ cố ý không
nhắc đến chức năng tổ chức xây dựng.
T tởng về một xã hội cộng sản chủ nghĩa mà Mác và Ăngghen đa ra
công nhân cái sứ mệnh mà nó không có vì Mác thơng giai cấp công nhân
nghèo khổ. Họ cũng cho rằng, CNTB đã thay đổi về chất, đã trở thành
"CNTB của nhân dân", nhà nớc t bản đã là "nhà nớc phúc lợi chung", nó
không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê nữa, địa vị của họ đã có
sự thay đổi căn bản nên họ không còn sứ mệnh lịch sử nữa. Thực chất
những quan điểm trên là sự biện hộ cho sự thống trị và bóc lột của giai cấp
t sản, biện hộ cho sự tồn tại của CNTB trên cơ sở phủ nhận vai trò khách
quan của giai cấp công nhân, phủ nhận tính tất yếu của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Trên cơ sở luận giải địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân
trong xã hội t bản, Mác và Ăngghen đã đa ra kết luận khoa học: Sự sụp đổ
của giai cấp t sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu nh nhau.
Trong xã hội t bản, các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự
phát triển của nn đại công nghiệp, trái lại, giai cp công nhân là sản phẩm
của nền đại công nghiệp, là lực lợng sản xuất tiên tiến, đại diện cho phơng
thức sản xuất tiên tiến. Do đó, giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có
sứ mệnh thủ tiêu CNTB, xây dựng CNXH. Lấy sự nghèo khổ làm cơ sở
luận giải cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một lập luận phản
khoa học và mu đồ hòng xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin.
Hiện nay có những quan điểm cho rằng, giai cấp công nhân các nớc
t bản phát triển không còn bị bóc lột nh trớc nữa, giai cấp công nhân đã trở
nên "trung lu hoá" thậm chí trở thành "nhà t bản" khi đã có cổ phiếu trong
16
các xí nghiệp, công ty. Đúng là hiện nay, ở các nớc t bản phát triển đang
diễn ra việc thực hiện cổ phần hoá ngày càng rộng khắp. Việc bán cổ phiếu
cho công nhân không những là không động chạm đến quyền lợi của giới
chủ mà trái lại càng làm tăng thêm quyền lực kinh tế cho bọn t bản. Bán cổ
phiếu cho ngời lao động chỉ diễn ra trong chừng mực không làm tổn hại
đến quan hệ sản xuất của CNTB và lợi ích của giới chủ. Lợi nhuận mà ngời
Chúng ta cần nhắc lại một luận điểm trong "Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản": "Giai cấp t sản không những rèn vũ khí giết mình mà nó còn
tạo ra những ngời sử dụng vũ khí ấy - những ngời vô sản". Luận điểm nổi
tiếng ấy của Mác và Ăngghen càng trở nên có ý nghĩa trong điều kiện lịch
sử mới.
Sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu đối với những
ngời cộng sản, giai cấp công nhân, nhân loại tiến bộ trên thế giới là một
tổn thất to lớn. Điều này không phải là CNXH "tiêu vong", giai cấp công
nhân "mất vai trò lịch sử", nó cũng làm mất đi niềm tin và ý chí phấn đấu
vơn lên CNXH. Ngợc lại, giai cấp công nhân càng có thêm bài học quý
giá, càng nhận thức đợc rõ hơn tính chất gay go của cuộc đấu tranh giai
cấp, đấu tranh dân tộc trong thời đại ngày nay.
Gần đây, cú nhiu th lc đã xuyên tạc và phủ nhận chủ nghĩa MácLờnin, xuyên tạc quan điểm về chuyên chính vô sản của Mác. Mác coi
chuyên chính vô sản chỉ là phơng tiện để đi đến một xã hội không có giai
cấp, là phơng tiện để giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng toàn xã
hội khỏi áp bức, bóc lột chứ không phải là mục đích. Cỏc th lc thự ch
hoàn toàn xuyên tạc khi nói rằng: "Các Đảng Cộng sản coi chuyên chính
vô sản là bửu bối tuyệt hảo, là vũ khí chuyên chính tuyệt đối, đắc dụng,
mạng mẽ nhất", "các Đảng Cộng sản cầm quyền tuỳ nghi, duy ý chí
sáng tạo ra xã hội chủ nghĩa bằng chuyên chính vô sản cực đoan, hà khắc
nhất, phi pháp nhất trong lịch sử nhân loại". Chúng ta không phủ nhận việc
xây dựng CNXH hiện thực có những sai lầm khuyết điểm. Nhng dứt khoát
đó không phải là sai lầm của chủ nghĩa Mác.
Cú lun iu cho rằng: "chuyên chính vô sản không phải là cái gì
khác bạo lực", "Mác đã công khai đặt niềm tin tuyệt đối vào bạo lực". Trên
thực tế, Mác không bao giờ sùng bái bạo lực. Đối với Mác, bạo lực chỉ là
phơng tiện, là bà đỡ cho mọi xã hội mới đang thai nghén trong lòng xã hội
thực hiện chủ nghĩa cộng sản trên thế giới, giải phóng toàn thể nhân dân
lao động. Dới ánh sáng của Ch ngha Mỏc- Lờnin, phong trào cộng sản v
cụng nhõn thế giới vn phát triển sâu rộng và trở thành hạt nhân lãnh đạo
cách mạng nhiều nớc thắng lợi.
Trong giai đoạn hiện nay, trớc những biến động sâu sắc của thời đại,
t tng v cỏch mng vụ sn v chuyờn chớnh vụ sn" vẫn giữ nguyên
giá trị đích thực của nó về cả lý luận và thực tiễn. Bởi vì những luận điểm
đều phản ánh đúng quy luật vận động khách quan của lịch sử loài ngời.
Đồng thời, nó phù hợp với khát vọng của nhân dân lao động, dẫn dắt họ hớng đến những giá trị nhân văn cao cả.
20
T tng v cỏch mng vụ sn v chuyờn chớnh vụ sn đã đợc thực
tiễn cách mạng thế giới kiểm chứng cụ thể và khẳng định rằng không thể
thoát khỏi áp bức bóc lột vơn tới ấm no, hạnh phúc nếu xa rời những t tởng
của Mỏc- ngghen. Song thực tiễn vận động của cách mạng thế giới cũng
đặt ra vấn đề cấp thiết phải duy trì, bảo vệ và phát triển những luận điểm
của Hai ụng.
2. Sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng đã
luôn trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên lý của ch ngha
Mỏc- Lờnin, c bit l t tng "cỏch mng vụ sn v chuyờn chớnh vụ
sn" đã đợc Ch tch Hồ Chí Minh và Đảng ta vận dụng sỏng to vo hon
cnh Vit Nam khi xây dựng Cơng lĩnh, ờng lối, Chiến lợc và Sách lợc
của cách mạng ca ng. Đảng ta v Bỏc H đã quán triệt t tởng cách
mạng không ngừng ca Mỏc- ngghen, Lờnin. Sau khi giành đợc thắng lợi
trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân
bớc vào công cuộc xây dựng CNXH. Mặc dù trờn con ng xõy dng t
22
KT LUN
"Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" là cơng lĩnh đầu tiên của chủ
nghĩa cộng sản khoa học, trình bày một cách cô đọng những luận điểm cơ
bản của chủ nghĩa Mác, trong ú, t tng v cỏch mng vụ sn v
chuyờn chớnh vụ sn cú tm quan trng v ý ngha vụ cựng to ln i vi
phong tro cng sn v cụng nhõn quc t.
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, Ch ngha Mỏc- Lờnin v t tng
H Chớ Minh; trong ú quan im cỏch mng vụ sn v chuyờn chớnh vụ sn
đang chiếu rọi con đờng chúng ta đi. Đó là t tởng về đấu tranh giai cấp, t tởng
về quy luật phát triển của xã hội, t tởng về giá trị thặng d, t tởng về sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân, t tởng về lý luận gắn liền với thực tiễn.
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu, càng đòi
hỏi chúng ta phải thấu triệt những nguyên lý của phép biện chứng duy vât,
phải biết cách tiếp cận với những vấn đề lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin trong
tầng sâu bản chất chứ không dừng lại ở câu chữ trên bền mặt của ch ngha
Mỏc- Lờnin; t ú chúng ta sẽ có đợc những nn tng lý lun quý giá trên
con đờng tiến lên phía trớc.
Khi nghiên cứu những vn v lý luận, chúng ta cần phải gắn với
thực tiễn, phải đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phải bảo vệ và phát triển sáng
tạo những nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin, t tng H Chớ Minh trong
thời đại mới. Để lý luận khoa học thực sự biến thành sức mạnh vật chất,
cải tạo xã hội thì phải luôn bổ sung, phát triển, kiểm nghim lý luận trong
đời sống thực tiễn và phải hiện thực hoá lý luận. Có nh vậy, chúng ta mới
biến những nguyên lý của chủ nghĩa Mác nói chung trong đó có t tng
"cỏch mng vụ sn v chuyờn chớnh vụ sn" trở thành sức mạnh vô địch
trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ