MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cuộc cách mạng công nghiệp Anh bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XVIII đã
gây nên những chuyển biến căn bản trong sự phát riển của sức sản xuất và
quan hệ sản xuất. Những phát minh kỹ thuật đem lại hậu quả kinh tế cơ bản là
chuyển lao động bằng tay sang lao động bằng máy, thay thế sức gió và sức
nước bằng máy hơi nước, đến những năm 30 của thế kỷ XIX, nước Anh trở
thành một trung tâm công nghiệp của thế giới, nước Pháp cũng giành được
những thắng lợi đáng kể trong phát triển công nghiệp nhưng chậm hơn nước
Anh, nền công nghiệp ở Đức cũng đang phát triển rõ rệt đặc biệt là công
nghiệp than và luyện kim, nhiều trung tâm công nghiệp ra đời với những xí
nghiệp chế tạo lớn. Những lực lượng sản xuất mới này còn đang bị kìm hãm
bởi quan hệ sản xuất nửa phong kiến.
Từ sau năm 1815, mặc dầu thế lực phong kiến được phục hồi ở Pháp,
làn song cách mạng tư sản vẫn không ngừng lan tràn ra các nước Châu Âu.
Mâu thuẫn giữa sức sản xuất tư bản chủ nghĩa với quan hệ sản xuất phong
kiến ngày càng ngay gắt. Sự phát triển của nền kinh tế công thương nghiệp,
những cuộc đấu tranh của xã hội đã từng bước xác lập nền thống trị của giai
cấp tư sản.
Cùng với sự ra đời và lớn mạnh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, giai
cấp công nhân đã xuất hiện và ngày một phát triển. Bị áp bức bóc lột tàn khốc,
công nhân đứng lên đấu tranh vì quyền lợi của mình. Nhưng phong trào đấu
tranh trong những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX chưa giành được
thắng lợi do chưa có tổ chức và không được trang bị lí luận khoa học. Tuy
nhiên tình hình trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của chủ nghĩa
Mác và dẫn đến cao trào cách mạng năm 1848.
1
Để làm sang tỏ và nhận thức đúng đắn hơn về giai cấp công nhân quốc
tế trong thời kỳ đầu, người viết chọn đề tài “ Giai cấp công nhân phong trào
công nhân quốc tế từ ra đời đến 1848” làm tiểu luận của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
3
NỘI DUNG
PHẦN 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN
1.1. Khái niệm về giai cấp công nhân
Bàn về khái niệm giai cấp công nhân, cho tới nay, tuỳ thuộc vào lập
trường giai cấp, thái độ chính trị, trình độ nhận thức và phương pháp tiếp cận ,
vẫn còn những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
C. Mác trong bức thư gửi Vây-Đơ Maye (năm 1852) đã thừa nhận, việc
phát hiện ra giai cấp và đấu tranh giai cấp, không phải là công lao của các nhà
sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, công lao đó thuộc về các nhà sử học
Pháp: G. Phrăngxoa Ghi đô (1776-1874), Ô. Guyxtanh Chirey (1795-1856),
Phrăngxoa Mi nhê (1796-1884)... Công lao của C. Mác chỉ là phát hiện ra: vấn
đề đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản; và chuyên chính vô
sản chỉ là bước quá độ từ xã hội có giai cấp đến xã hội không giai cấp.
Ngay từ năm 1845, khi bắt tay vào việc nghiên cứu giai cấp công nhân,
trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, C. Mác đã đặt câu hỏi: “Vấn đề là ở
chỗ tìm hiểu xem giai cấp vô sản thực sự là gì và phù hợp với sự tồn tại ấy của
bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử”. Trong các tác
phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê ghen”(1844), “Tình
cảnh những người lao động ở Anh” (1844-1845), “ Những nguyên lý của chủ
nghĩa cộng sản” (1847), “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” (1848)... C. Mác và
Ph. Angghen đã bàn và sử dụng nhiều từ đồng nghĩa để biểu đạt khái niệm
giai cấp công nhân: “ giai cấp công nhân”, “ giai cấp vô sản”, “ giai cấp vô sản
công nghiệp”, “ giai cấp vô sản hiện đại”, “ giai cấp công nhân hiện đại”, “giai
cấp vô sản công nghiệp”, “ giai cấp công nhân công xưởng, nhà máy”, “ giai
cấp công nhân đại cơ khí” và nhiều thuật ngữ khác nữa. Ngoài ra, trong những
điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, các ông còn sử dụng một số hình thức diễn đạt
khác như: “lao động làm thuê”, “giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào
bán sức lao động của mình”, “ giai cấp của những người hoàn toàn không có
4
nhà kinh điển được đặt trong hoàn cảnh lịch sử từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu
thế kỷ XX, trên cơ sở các ông đã đưa vào hai tiêu chí để phân định giai cấp
công nhân với các giai tầng xã hội khác:
Thứ nhất, về phương thức lao động, phương thức sản xuất: Giai cấp
công nhân là những người (tập đoàn người) lao động trực tiếp hay gián tiếp
vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và
xã hội hoá, quốc tế hoá cao. Công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công
nghiệp hiện đại...” Là sản phẩm của đại công nghiệp, nên giai cấp công nhân
là hiện thân của lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại, đại biểu cho phơng thức
sản xuất tiên tiến, và, do đó nó có những phẩm chất riêng mà không có giai
tầng nào có được. Đó là: tính tiên tiến, hiện đại; ý thức tổ chức kỷ luật cao, tác
phong công nghiệp, tinh thần khoa học và thái độ cách mạng triệt để; tinh thần
quốc tế cao cả và trong sáng...
Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: Giai cấp công
nhân – giai cấp những người làm thuê thế kỷ XIX, Những công nhân ấy buộc
phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hoá, tức là một món
hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi
may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường...”
Căn cứ vào hai tiêu chí trên, trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ
nghĩa cộng sản”, Ph. Anghen đã đưa ra định nghĩa về cấp giai vô sản: “giai
cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán sức lao động
của mình, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn,
vào sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai
cấp vô sản hay giai cấp của những người vô sản là giai cấp lao động trong thế
kỷ XIX... giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra”.
Phát triển học thuyết của Mác và Ph. Ănghen trong thời đại Đế quốc
chủ nghĩa và cách mạng vô sản, đặc biệt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa
6
xã hội hiện thực, trên cơ sở quan niệm đúng và mới về giai cấp, Lênin đã bổ
sung thêm những thuộc tính mới của giai cấp công nhân. V.I. Lênin đã đưa ra
thủ công bằng máy móc hiện đại, Nhờ đó nước Anh sau một thời gian ngắn đã
đạt được những thành tựu về kinh tế rất to lớn. Đến những năm 30- 40 của thế
kỷ XIX, nước Anh trở thành một trung tâm công nghiệp của thế giới và đang
bước vào giai đoạn công nghiệp hoá cao. Nước Pháp, cuộc cách mạng công
nghiệp đang trên đà phát triển, tuy nhiên tốc độ chuyển biến chậm hơn nước
Anh. Nền công nghiệp ở Đức cũng phát triển đáng kể đặc biệt là công nghiệp
than và luyện kim. Nước Mỹ cũng bắt tay vào phát triển công nghiệp từ những
năm 1837 -1842….cùng với sự phát triển đó, nền đại công nghiệp lan dần ra
tất cả các nước châu Âu.
Sự phát triển đó đem lại kết quả tất nhiên là xác lập sự thống trị của chủ
nghĩa tư bản trong các nước đã trải qua cuộc cách mạng xã hội, hoặc ít ra cũng
tạo nên những tiền đề cần thiết cho sự thắng lợi của giai cấp tư sản đối với chế
độ phong kiến trong khoảng thời gian không xa nữa.
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự phát triển nền công
nghiệp giai cấp công nhân đã từng bước hình thành, do yêu cầu về sản xuất
hàng hoá đòi hỏi nhiều lao động cho nên các công xưởng thủ công được cơ
giới hoá và hình thành các lao động làm thuê. C.Mác đã chỉ ra “giai cấp công
nhân là con đẻ của nền đại công nghiệp, nó ra đời và cùng lớn lên với nền đại
công nghiệp”.
Đến những năm 50- 60 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp
căn bản đã hoàn thành trên hầu hết các quốc gia phát triển ở châu Âu và Bắc
Mĩ, những xí nghiệp hiện đại trang bị bằng máy móc và tập trung hàng ngàn
vạn công nhân. Những đường giao thông chằng chịt nối liền các trung tâm với
nhau, xoá bỏ sự ngăn cách lâu đời giữa các vùng. Cuộc cách mạng công
8