TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRẦN NGHĨA THANH
LỚP: ĐH9CT
CỬA KHẨU KHÁNH BÌNH TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2011.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KHÓA HỌC: 2008 – 2012
AN GIANG, 5 /2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRẦN NGHĨA THANH
LỚP DH9CT
CỬA KHẨU KHÁNH BÌNH TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH HỌC: SƯ PHẠM GDCT
GVHD: Ths. TRẦN VĂN HÙNG
BẢNG ĐĂNG KÝ CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................3
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................4
1. Tính cấp thuyết của đề tài .......................................................................................4
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................5
3. Tình hình nghiên cứu ..............................................................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................6
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................6
6. Đóng góp của khóa luận..........................................................................................6
7. Kết Cấu của khóa luận ............................................................................................7
PHẦN NỘI DUNG ....................................................................................................8
Chương 1: Những quan điểm cơ bản về phát triển KTCK ..................................8
1.1. Lịch sử quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và HCM về phát triển kinh tế
cửa khẩu ......................................................................................................................8
1.1.1. Lịch sử Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về phát triển KTCK. ................8
1.1.2. Quan điểm của HCM về phát triển KTCK .....................................................10
1.2. Quan điểm của ĐCS Việt Nam về phát triển KTCK ...........................................11
1.2.1. Giai đoạn 1989 – 2000 ......................................................................................12
1.2.2. Giai đoạn từ năm 2001 đến nay. .......................................................................15
1.3. Quan điểm của Đảng bộ tỉnh An Giang và huyện An Phú về phát triển KTCK .16
1.3.1. Quan điểm của Đảng bộ tỉnh An Giang phát triển KTCK từ 2006 đến nay .....16
1.3.2. Quan điểm của Đảng bộ huyện An Phú phát triển KTCK từ 2006 đến nay .....22
Chương 2: Thực trạng hoạt động của khu KTCK Khánh Bình từ 2006 đến
2011... ..........................................................................................................................25
2.1. Khái quát về KT – XH huyện An Phú và cửa khẩu Khánh Bình ........................25
2.1.1. Khái quát về KT – XH huyện An Phú ..............................................................25
2.1.2. Khái quát về KT – XH của khu KTCK Khánh Bình ........................................26
2.2. Thực trạng hoạt động của khu KTCK Khánh Bình huyện An Phú từ 2006 đến
2011… .........................................................................................................................28
2.2.1. Hoạt động xuất nhập khẩu ................................................................................28
2.2.2. Hoạt động thương mại – dịch vụ.......................................................................29
SVTH: Trần Nghĩa Thanh_DH9CT
BẢNG ĐĂNG KÝ CHỮ VIẾT TẮT
KTCK
ASEAN
ASEM
AFTA
CEFT
WTO
KT-XH
VN
TT XTTM
HTX
ODA
FDI
ĐCS
ĐBSCL
TPHCM
GTNT
:
:
:
:
:
:
:
:
:
SVTH: Trần Nghĩa Thanh_DH9CT
PHẦN MỞ ĐẦU
“Cửa khẩu Khánh Bình trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
từ năm 2006 đến 2011.Thực trạng và giải pháp”
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nửa sau thế kỷ XX, đặc biệt là những năm 1970 trở đi, thế giới bước vào một
thời kỳ phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ với những thành tựu
nổi bật trong nghiên cứu, phát minh, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất to
lớn, trực tiếp. Những thành tựu đó đã tác động sâu sắc tới những biến đổi kinh tế,
chính trị, văn hóa và tổ chức đời sống xã hội, đó là một xu thế lớn của thế giới
đương đại mà nổi bật nhất là công nghệ thông tin với sự kết hợp giữa tin học với
viễn thông đã hình thành nên một xã hội thông tin, thúc đẩy sự phát triển của mọi
quốc gia trên cơ sở tri thức khoa học và công nghệ là chủ yếu, nó còn là yếu tố đầu
vào của hệ thống sản xuất, của quản lý, là công cụ sáng tạo ra của cải, là chìa khóa
của an ninh kinh tế - xã hội.
Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đó đã tạo sự phát
triển vượt bật của lực lượng sản xuất nhân loại một cách nhanh chóng, thúc đẩy
nhu cầu mở rộng mạnh mẽ thị trường thế giới và khu vực, tạo đà thuận lợi cho mối
liên kết toàn cầu hóa kinh tế và tiến tới xu hướng liên kết kinh tế khu vực – khu
vực hóa kinh tế và các quan hệ mậu dịch tự do song phương, chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đã nhìn
thấy hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan mà thế giới hướng đến.
Tuy nhiên, tùy vào tình hình cụ thể của mỗi nước mà lựa chọn hội nhập khu vực
trong một số lĩnh vực, đồng thời thúc đẩy hội nhập toàn cầu trong những lĩnh vực
khác và trong từng thời kỳ nhất định.
Đới với Việt Nam, từ khi đất nước ta đổi mới đến nay, Đảng ta luôn chủ
trương phải chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và được đề ra trong các
kỳ Đại hội từ Đại hội VI đến Đại hội XI của Đảng. Qua thực tiễn đã chứng minh,
Việt Nam lần lượt trở thành thành viên của các tổ chức lớn trong khu vực và quốc
Tuy khu KTCK Khánh Bình từ khi thành lập năm 2005 đến nay có nhiều khởi
sắc nhưng khu vực này vẫn là vùng kinh tế chậm phát triển còn chưa tương xứng
với tiềm năng, cơ sở hạ tầng yếu kém, cơ chế chính sách về phát triển khu kinh tế
còn nhiều bất cập…làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu và gây
khó khăn cho công tác quản lý. Do đó, việc đánh giá một cách nghiêm túc, đầy đủ
về thực trạng hoạt động của khu KTCK Khánh Bình, rút ra những thành công và
hạn chế. Trên cơ sở đó đề xuất một giải pháp cụ thể, nâng cao hiệu quả quản lý và
hoạt động của vùng biên này trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đó là một
vấn đề cấp thiết. Từ nhận thức trên, tôi quyết định chọn đề tài “Cửa khẩu Khánh
Bình trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế từ 2006 đến 2011. Thực trạng và
giải pháp” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
2.1. Mục đích:
- Đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng khu KTCK Khánh Bình huyện An Phú trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt
động của khu KTCK Khánh Bình trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trang 5
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Trần Nghĩa Thanh_DH9CT
2.2. Nhiệm vụ
Nghiên cứu, khảo sát những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của nó. Từ đó
đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi để hoạt động của khu kinh tế cửa khẩu
Khánh Bình đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
3. Tình hình nghiên cứu
- Khi chọn và nghiên cứu đề tài này, thời gian qua có nhiều tác giả và nhiều
SVTH: Trần Nghĩa Thanh_DH9CT
- Đề tài nhằm làm rõ thực trạng khu KTCK Khánh Bình huyện An Phú trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của khu
KTCK Khánh Bình trong thời gian tới.
- Nếu đề tài được nghiệm thu sẽ là tài liệu tham khảo cho các cấp quản lý
trong vấn đề hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội cửa khẩu. Đồng thời
cũng là tài liệu tham khảo cho giáo viên và sinh viên trường Đại học An Giang
trong quá trình giảng dạy và học tập.
7. Kết Cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo. Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
CỬA KHẨU
1.1. Lịch sử quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và HCM về phát triển
KTCK.
1.2. Quan điểm của ĐCS Việt Nam về phát triển KTCK:
1.3. Quan điểm Đảng bộ tỉnh An Giang và huyện An Phú về phát triển
KTCK.
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA KHU KINH TẾ CỬA
KHẨU KHÁNH BÌNH TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2011
2.1. Khái quát về KT – XH huyện An Phú và cửa khẩu Khánh Bình
2.2. Thực trạng hoạt động của khu KTCK Khánh Bình huyện An Phú từ
2006 đến 2011.
2.3. Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của nó.
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁP TRIỂN KINH TẾ
CỬA KHẨU KHÁNH BÌNH.
3.1. Phương hướng phát triển kinh tế cửa khẩu Khánh Bình.
3.2. Giải pháp phát triển kinh tế cửa khẩu Khánh Bình
thể tự do mậu dịch vì đây chính là quốc thể, vinh dự quốc gia và là sức mạnh
chính trị của một nước như ngành an ninh, công nghiệp quốc phòng…
Lịch sử nhân loại đã chứng minh điều đó. Trước hết đối với quốc gia Xã hội
chủ nghĩa đầu tiên của nhân loại – Liên Xô cũ. Những năm 1918 – 1920, trong cuộc
nội chiến, để giữ vững chính quyền Xô Viết, Lê Nin đã thực thi “chính sách cộng
sản thời chiến” – Không có thương nghiệp, không có mậu dịch. Sau chiến tranh,
chính sách này tỏ ra lỗi thời, nhiều cuộc biểu tình của nông dân nổ ra, nhiều vấn đề
nóng bỏng của dân tộc đặt ra phải làm gì để nước Nga Xô Viết phát triển. Không có
con đường nào khác hơn là xây dựng nền kinh tế hàng hóa, phát triển mậu dịch
trong khuông khổ tiền tư bản. Hàng loạt các vấn đề xoay quanh kinh tế hàng hóa
được triển khai thực hiện: Ngân hàng, tài chính, mạng lưới thương mại, giao thông
vận tải,… Hầu hết đều hoạt động trong sự chỉ đạo nhịp nhàng, khớp với sự đòi hỏi
của nền kinh tế. Chung quy lại đó là chính sách kinh tế mới – NEP. Kết quả, chỉ sau
Trang 8
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Trần Nghĩa Thanh_DH9CT
một thời gian ngắn (1921 – 1924) Nền kinh tế nước Nga xô viết đã được khôi phục
lại, cá biệt có những ngành vượt hơn trước chiến tranh. [30]
Thật vậy, khôi phục lại thương nghiệp, phát triển kinh tế hàng hóa là những
thực tiễn hiển hiện cho việc phát triển kinh tế nói chung và mậu dịch nói riêng.
Chính những vấn đề trên đã dẫn đến hình thành các quan điểm tự do mậu
dịch.
Những người ủng hộ quan điểm tự do mậu dịch thương mại cho rằng: người
tiêu dùng trên khắp thế giới chỉ có thể đạt được lợi ích cao nhất nếu như tất cả các
đơn vị kinh tế ở tất cả các quốc gia được tự do tham gia vào các các giao dịch tự
nguyện mà họ cho rằng có lợi cho họ.
SVTH: Trần Nghĩa Thanh_DH9CT
Khi lên ngôi, Minh Mạng ban hành các chỉ dụ: cấm đạo thiên chúa tiếp tục
được ban hành, lãnh sự Pháp không được thừa nhận, đặc sứ Pháp không được tiếp
kiến, thuyền trưởng Pháp không được lên bờ… Đến đời Thiệu Trị, Tự Đức, những
chính sách đó được nâng lên thành quốc sách giữ nước.
Tuy nhiên, trong xu thế của thời đại lúc bấy giờ, triều Nguyễn vẫn không
ngăn nổi các nước phương Tây và ý đồ xâm lược. Cảng Đà Nẳng là một minh
chứng cho sự bất lực của Triều đình muốn đóng cửa, nhưng phải “mở cửa”.
Vì chính sách này mà triều đình Nhà Nguyễn cự tuyệt bang giao với các
nước phương Tây. Chính những chính sách “mở cửa” và đóng cửa đã bộc lộ
những mâu thuẫn không khắc phục được, cho nên sự thống nhất quốc gia và an
ninh chính trị không đảm bảo và đất nước đã trở thành mục tiêu cho sự xâm lược
của thực dân Pháp.
Để có được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước nhân dân Việt Nam phải
trải qua một thời gian dài kháng chiến.
1.1.2. Quan điểm của HCM về phát triển KTCK
Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Nhà nước ta
chủ trương tham gia các thể chế kinh tế quốc tế. Trong “Lời kêu gọi Liên Hợp
Quốc” tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đối với các nước dân chủ, nước
Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
a. Nước VN dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà
kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
b. Nước VN sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông
cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
c. Nước VN chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới
sự lãnh đạo của Liên Hợp Quốc.
d. Nước VN sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong
khuôn khổ của Liên Hợp Quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp
đảng ta quan tâm chú ý trong thời gian gần đây. Nhất là khu vực kinh tế cửa khẩu.
Khu kinh tế cửa khẩu là khu vực có ranh giới địa lý xác định lãnh thổ và
chủ quyền quốc gia với các khu chức năng có môi trường đầu tư, kinh doanh
thuận lợi nhất theo các quy định hiện hành bao gồm hạ tầng kinh tế - xã hội và
chính sách, cơ chế quản lý thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh, phù hợp với cơ
chế thị trường.
Trong xu thế hiện nay, vấn đề hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế được
xem là vấn đề mang tính khách quan, một yêu cầu tất yếu đối với tất cả quốc gia
trên thế giới. Điều đó đồng nghĩa với việc, để không ngừng nâng cao thế và lực
trên trường quốc tế, tạo tiền đề cho nền kinh tế đất nước phát triển bền vững thì
các quốc gia phải có sự chủ động trong các hoạt động hợp tác, giao lưu kinh tế đối
ngoại với các nước trong và ngoài khu vực mà trước tiên là quan hệ hợp tác kinh
tế với những nước láng giềng có chung đường biên giới.
Là một quốc gia có vị trí khá thuận lợi trong việc giao lưu với thị trường nước
ngoài, đặc biệt là những nước láng giềng có chung đường biên giới như: Trung Quốc,
Lào, Campuchia, Việt Nam đã sớm xác định một chiến lược phát triển rộng mở, đa
dạng hóa, đa phương hóa với trọng tâm là tạo điều kiện phát triển thương mại qua
thông thương đường biên giới với các nước láng giềng. Theo đó, kinh tế biên mậu được
Đảng và Nhà nước ta xem là một bộ phận hữu cơ trong thương mại quốc tế của Việt
Nam, hoạt động kinh tế biên mậu đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh
tế vùng biên giới.
Trang 11
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Trần Nghĩa Thanh_DH9CT
1.2.1. Giai đoạn 1989 – 2000
thay đổi bộ mặt xã hội của các tỉnh biên giới, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân, phát triển văn minh thương nghiệp. Đồng thời ngăn ngừa việc phân hoá thu
nhập, giàu nghèo quá mức, bảo vệ môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và các
di sản văn hoá của quốc gia. Phát triển thương mại hàng hoá qua biên giới phải có sự
Trang 12
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Trần Nghĩa Thanh_DH9CT
tham gia của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng và điều
hành quản lý của Nhà nước.
Do tầm quan trọng về vai trò, vị trí của các khu cửa khẩu biên giới nên việc
phát triển giao lưu kinh tế với các nước láng giềng không chỉ là nhiệm vụ của từng
tỉnh, từng vùng, từng khu vực, từng thành phần kinh tế… mà đòi hỏi mọi thành
phần kinh tế đều phải tham gia, mọi địa phương cùng góp sức.
Sự phát triển kinh tế cửa khẩu biên giới được thực hiện một cách có tổ
chức, có kế hoạch cùng với sự tham gia của các thành phần kinh tế khác dưới sự
lãnh đạo của Đảng và sự điều hành quản lý của Nhà nước.
Để cụ thể hóa những quan điểm này vào thực tiễn, với từng nước có chung
đường biên giới, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những chính sách khuyến khích
phát triển cụ thể như sau:
Chủ trương về phát triển kinh tế cửa khẩu với Trung Quốc:
Ngay khi mới bắt đầu giai đoạn bình thường hoá quan hệ hai nước, ngày
07/11/1991, thực hiện chủ trương “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” bắt đầu
thời kỳ mới bình thường hóa và mở cửa, Chính phủ hai nước đã ký “Hiệp định
tạm thời về giải quyết các công việc trên biên giới…” Sau Hiệp định này, Chính
phủ đã phê duyệt mở 21 cửa khẩu với Trung Quốc và hàng loạt các chợ biên giới
và nhiều thoả thuận song phương khác… tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác và giao lưu
kinh tế, thương mại giữa hai nước phát triển mạnh.
Bên cạnh đó, các Bộ, Ngành chức năng cũng ban hành các văn bản pháp
quy, hình thành khuôn khổ pháp lý cho hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và
hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới nói riêng.
Chính phủ Việt Nam đã có các quyết định cho áp dụng các chính sách ưu đãi
phát triển đối với các khu kinh tế biên giới và khu thương mại cửa khẩu dọc tuyến
biên giới Việt Nam – Lào: khu vực cửa khẩu Cầu Treo, khu thương mại Lao Bảo
(1998); khu vực cửa khẩu Bờ Y – Ngọc Hồi (1999); cửa khẩu Tây Trang và cửa khẩu
Pa Háng (2001).
Các thoả thuận đa phương trong khuôn khổ dự án phát triển hành lang Đông
Tây cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kết cấu hạ tầng và tạo điều
kiện thuận lợi cho phát triển thương mại giữa hai nước.
Về phía Lào, Chính phủ Lào đã xây dựng những chương trình phát triển
mậu dịch biên giới như xây dựng Khu mậu dịch biên giới Nậm Phao – Cầu Treo,
Khu thương mại tự do Lạc Sao, Khu thương mại tự do Đensavẳn (đối diện với cửa
khẩu quốc tế Lao Bảo), cải thiện kết cấu hạ tầng khu vực biên giới và khuyến
khích đầu tư vào vùng Lạc Sao và vào các công ty Lào có quan hệ kinh doanh với
Việt Nam cũng như thực hiện các chính sách tạo điều kiện thuận tiện cho người,
phương tiện và hàng hoá qua lại biên giới giữa hai nước.
Chính phủ Lào cũng cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
Việt Nam hoạt động kinh doanh tại Lào về mọi thủ tục hành chính. Các doanh
nghiệp Việt Nam được ưu đãi vốn vay, hưởng mức thuế chỉ bằng 50% mức thuế
chung khi đầu tư vào Lào. Các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sản xuất tại Lào
được hưởng hạn ngạch xuất khẩu của Lào sang các nước khác.
Chủ trương về phát triển kinh tế cửa khẩu với Campuchia:
Quan hệ kinh tế Việt Nam – Campuchia ngày càng được cải thiện, đặc biệt
quan hệ mậu dịch qua biên giới. Cụ thể:
Việt Nam và Campuchia đã ký kết được một số Hiệp định quan trọng đối
với sự phát triển giao lưu kinh tế nói chung và biên mậu nói riêng như Hiệp định
định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về khu công
nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; và đặc biệt là Quyết định số 52/2008/QĐTTg ngày 25/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Quy
hoạch phát triển các khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam đến năm 2020”. Theo
Quyết định này, đến năm 2020 về cơ bản Việt Nam sẽ hình thành thêm 7 khu kinh
tế cửa khẩu, nâng tổng số khu kinh tế cửa khẩu từ 23 lên 30 khu, trong đó tập
trung xây dựng đồng bộ về kết cấu hạ tầng và mô hình tổ chức quản lý, cơ chế
chính sách cho chín đến mười khu kinh tế cửa khẩu hoạt động có hiệu quả để đạt
được 36 – 37 tỷ USD hàng hóa và dịch vụ, xuất nhập khẩu qua biên giới Việt Nam
với các nước láng giềng…Nhìn chung, các chính sách này đều hướng đến việc
quy hoạch một khu vực riêng tại khu vực biên giới giành cho việc buôn bán, trao
đổi.
Khu kinh tế cửa khẩu biên giới với Campuchia sẽ là điểm nhấn trong hợp tác
phát triển của 3 nước Việt Nam - Lào - Campuchia và hành lang kinh tế đường
Trang 15
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Trần Nghĩa Thanh_DH9CT
Xuyên á. Sẽ tập trung ưu tiên đối với các khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài, An Giang và
Đồng Tháp.
Từ nay đến năm 2015 sẽ quy hoạch bổ sung thêm khu kinh tế cửa khẩu
Long An và giai đoạn từ năm 2015 đến 2020 sẽ bổ sung thêm khu kinh tế cửa
khẩu Đắk Per ở Đắk Nông, Đắk Ruê ở Đắk Lắk.
Cùng với các chính sách phát triển kinh tế biên mậu trên, Chính phủ cũng
đã ban hành Quyết định số 482/QĐ-TTg , quy định mười chính sách hỗ trợ đặc
biệt dành riêng cho các tỉnh của Việt Nam có biên giới với Lào và Campuchia;
Thông tư của Bộ tài chính số 08/2010/TT-BTC ngày 14/01/2010 về việc hướng
dẫn thực hiện Quyết định số 93/2009/QĐ-TTg ngày 10/7/2009 của Thủ tướng
SVTH: Trần Nghĩa Thanh_DH9CT
Xác định đúng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới cùng với quyết tâm “đưa
kinh tế An Giang chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển
với nhịp độ nhanh hơn trước, hiệu quả cao, bảo đảm sự phát triển ổn định, bền
vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Đảng bộ An Giang đã mạnh dạn, chủ
động và sáng tạo trong việc hoạch định và đề ra phương hướng phát triển mới cơ
cấu kinh tế của tỉnh trên cơ sở “huy động nội lực và khai thác chiều sâu các tiềm
năng lợi thế… nhằm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế”[4,90]. Kinh tế cửa khẩu
được xem là một mũi đột phá mới, tạo sức bật cho kinh tế An Giang phát triển
nhanh và bền vững.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ VIII (tháng 03/2006) chủ
trương tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế biên mậu, xem kinh tế biên mậu là một
trong những ngành kinh tế mũi nhọn, tạo bước đột phá để đảm bảo thực hiện thắng
lợi Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội An Giang trong giai đoạn 2006 –
2010. Đại hội khẳng định: “Tập trung phát triển dịch vụ - thương mại xem đây là
mũi nhọn có ý nghĩa quyết định đến tốc độ phát triển. Trong đó, tập trung cho phát
triển du lịch, kinh tế biên giới và các ngành dịch vụ có giá trị cao, có nhu cầu và
điều kiện phát triển” [7,39] và “Phát triển mạnh các khu thương mại, khu kinh tế
biên giới, cửa khẩu, bảo đảm hàng hóa thông suốt trong thị trường nội địa và giao
lưu buôn bán với nước ngoài, hướng mạnh vế xuất khẩu”. [7,89]
Qua đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng đã ban hành kèm theo Chỉ thị số 11 –
CT/TU, ngày 15/09/2006 về việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng phát triển
Khu kinh tế cửa khẩu An Giang đến năm 2010, với một số nhiệm vụ và giải pháp
cụ thể sau:
“Một là, đẩy mạnh đầu tư phát triển kinh tế cửa khẩu làm khâu đột phá để
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2006 – 2010.
Xác định, nâng cao nhận thức trong Đảng bộ về lợi thế biên giới, nhất là các
cửa khẩu quốc tế, quốc gia là cửa ngõ của vùng Tây Nam bộ và thành phố Hồ Chí
Tỉnh lộ 956 sang Tỉnh lộ 957 được Bộ Giao thông vận tải phê duyệt và chuẩn bị
các điều kiện nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế khi hội đủ điều kiện.
Ba là, hoàn chỉnh đề án và các thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ quyết
định ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của khu kinh tế cửa khẩu của tỉnh
ngay trong năm 2006 để từ đó có cơ chế chính sách cơ bản, đặc thù cho khu kinh
tế cửa khẩu của tỉnh. Tập trung nguồn vốn đầu tư và tổ chức tốt việc kêu gọi đầu
tư để khai thác tốt quỹ đất vừa tạo lập ở các khu kinh tế cửa khẩu.
Tập trung vốn ngân sách đầu tư cho các công trình có tính chất cơ sở, các
công trình phục vụ tái định cư và phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng. Thực hiện
tốt nguồn vốn đầu tư có mục tiêu do Trung ương để lại đầu tư cho khu kinh tế cửa
khẩu.
Bốn là, đẩy nhanh tiến độ bồi hoàn, giải phóng mặt bằng và tiến độ triển
khai thi công xây dựng các công trình trọng điểm của khu kinh tế cửa khẩu.
Năm là, đầu tư xây dựng khu kinh tế cửa khẩu phát triển gắn chặt với an
ninh quốc phòng. Đảm bảo giao thương thông suốt và an ninh biên giới ổn định”.
[24]
Quán triệt chủ trương, chỉ thị trên của Đảng bộ, sở Công thương An Giang
đã tham mưu với UBND tỉnh An Giang phê duyệt “ Chương trình phát triển kinh
tế kinh tế biên giới tỉnh An Giang giai đoạn 2006 – 2010”. Đây là một trong 13
Chương trình trọng điểm của tỉnh An Giang.
Trang 18
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Trần Nghĩa Thanh_DH9CT
Mục tiêu tổng quát của Chương trình là: “Khai thác tiềm năng cửa khẩu, tạo
ra một động lực mới cho sự phát triển kinh tế của tỉnh, cần tập trung xây dựng và
Thực hiện chỉ thị số 11–CT/TU ngày 15/09/2006 của Tỉnh ủy về việc đẩy
mạnh tiến bộ đầu tư xây dựng phát triển Khu kinh tế của khẩu đến năm 2010;
trong điều kiện nguồn vốn đầu tư còn nhiều khó khăn thì cần ưu tiên tập trung đầu
tư khu vực cửa khẩu Tịnh Biên, khu vực này có điều kiện phát huy. Trong đó,
Trang 19
Khoá luận tốt nghiệp
SVTH: Trần Nghĩa Thanh_DH9CT
quan tâm đầu tư và đưa vào hoạt động khu vực thương mại – công nghiệp và từng
bước mở rộng khu thương mại, phát triển nhiều loại hình như: du lịch, vui chơi
giải trí và các dịch vụ khác. Chính vì vậy, Khu vực cửa khẩu Tịnh Biên đã được
các sở, ban ngành từ tỉnh đến địa phương khẩn trương mời gọi đầu tư và đầu tư
công trình hạ tầng cơ sở; triển khai các dự án công trình,… khu vực cửa khẩu Tịnh
Biên nhanh chóng trở thành khâu đột phá trong phát triển kinh tế biên mậu của
tỉnh.
Đồng thời, để tăng tính hiệu quả trong công tác quản lí và điều hành với
chức năng và nhiệm vụ được quy định cụ thể, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đã
kiến nghị, đề xuất với các Bộ, ngành Trung ương và Chính phủ về việc hợp nhất
Ban quản lí Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh An Giang (được thành lập theo Quyết định
số 1474/QĐ – TTg ngày 07/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ) với Ban quản lí
các khu công nghiệp tỉnh An Giang (thành lập Quyết định số 457/QĐ –TTg ngày
18/04/2007 của Thủ tướng Chính phủ) thành Ban quản lí khu kinh tế tỉnh An
Giang (được thành lập theo quyết định số 1944/QĐ-TTg ngày 26/11/2009 của Thủ
tướng Chính phủ).
Cùng với việc tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng khu kinh tế của khẩu, Đảng bộ
An Giang cũng quan tâm đến việc xúc tiến công tác triển khai nâng cấp cơ sở hạ
tầng, đường giao thông khu vực cửa khẩu.
nghiệp khi tham gia đầu tư kinh doanh tại khu thương mại Tịnh Biên còn được
hưởng thêm chính sách đặc thù về bán hàng miễn thuế ở mức không quá 500 ngàn
đồng/người/ngày.
Bên cạnh đó, Chính quyền tỉnh đã tích cực trong việc tham mưu Bộ, ngành
Trung ương kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong cơ chế chính sách, như: đề
xuất Bộ, ngành Trung ương ban hành Quy định số 65/2007/QĐ- TTg ngày
11/05/2007 về việc ban hành Quy chế hoạt động của khu kinh tế cửa khẩu tỉnh An
Giang; góp ý sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định 254/QĐ- TTg ngày
07/11/2006 về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung
đường biên giới, về quy hoạch phát triển mạng lưới chợ biên giới Việt NamCampuchia đến năm 2020 kết hợp với Bộ ngành Trung ương phối hợp thực hiện
cơ chế kiểm tra mô hình “ một cửa một điểm dừng” về hàng hóa, người và phương
tiện qua lại cặp cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên,…
Tỉnh cũng đã kiến nghị Bộ, Ngành Trung ương về các vấn đề liên quan đến
phát triển kinh tế biên giới như: Quyết định số 33/2009/QĐ- TTg ngày 02/02/2009
về ban hành cơ chế chính sách tài chính đối với khu kinh tế cửa khẩu; Quyết định
số 22/2008/QĐ- BCT ngày 31/07/2008 của Bộ Công Thương về việc ban hành
Quy chế chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu.
Ngoài ra, Ban điều hành Chương trình phát triển kinh tế biên giới đã đề
xuất UBND tỉnh ban hành Quyết định số 03/2007/QĐ-UBND ngày 11/01/2007 về
26 chợ biên giới chợ trong khu kinh tế cửa khẩu.
Về công tác xúc tiến thương mại
Nhằm mục tiêu giành, giữ và mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm
hàng hóa và dịch vụ, Đảng bộ An Giang đã chỉ đạo Ban điều hành chương trình
phát triển kinh tế biên giới trên cơ sở thực hiện “Chương trình xúc tiến đầu tư thương mại - du lịch tỉnh An Giang giai đoạn 2007-2010” (Quyết định số
2520/QĐ-UBND, ngày 17/9/2007) nhanh chóng lập và triển khai các kế hoạch
hướng tới hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá hàng Việt đến người tiêu dùng
Campuchia.
Trang 21
Đối với việc lưu thông hàng hóa tại cửa khẩu:
- Huyện ủy và UBND huyện rất quan tâm, thường xuyên duy trì tốt mối quan
hệ ngoại giao với các ngành địa phương trong và ngoài tỉnh, tăng cường xúc tiến
hợp tác với nước bạn trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế đến hoạt động văn hóa xã hội
và an ninh quốc phòng, tạo thuận lợi giao thương buôn bán và các điều kiện cho
hoạt động thương mại - dịch vụ khu kinh tế cửa khẩu phát triển tốt.
- Thực hiện tốt việc cải tiến thủ tục hành chính, tạo thuận tiện cho doanh
nghiệp đưa hàng về cửa khẩu. [2,25]
Về việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng:
Trang 22