skkn cấp tỉnh TỔNG hợp nội DUNG, PHƯƠNG PHÁP dạy học CHƯƠNG IV QUAN hệ QUỐC tế từ năm 1945 đến NAY CHO đối TƯỢNG học SINH GIỎI lớp 9 - Pdf 32

PHÒNG GD & ĐT VĨNH TƯỜNG
TRƯỜNG THCS VĨNH TƯỜNG

MÃ SKKN

BÁO CÁO KẾT QUẢ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CẤP: CƠ SỞ

; TỈNH

TỔNG HỢP NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHƯƠNG IV:
" QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY" CHO ĐỐI
TƯỢNG HỌC SINH GIỎI LỚP 9.
Môn:
Người thực hiện:
Điện thoại:
Email:

Lịch sử
Trần Lê Sỹ - trường THCS Vĩnh Tường

Người thực hiện: Hoàng Thị Hưởng - trường THCS Nguyễn Viết Xuân
Điện thoại:
Email:

Vĩnh Tường, tháng 11 năm 2015


MỤC LỤC
NỘI DUNG

Chương 4. Tổng hợp các phương pháp dạy học chương IV:...............
9....................
1. Căn cứ vào nội dung kiến thức, GV chuẩn bị bài giảng:...................
2. Phương pháp được thực hiện cho đối tượng HSG lớp 9: ...............
Chương 5. Kết quả ứng dụng..............................................................
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...........................................
1. Kết luận............................................................................................
2. Kiến nghị.........................................................................................
Danh mục tài liệu tham khảo

TRANG
i
ii
3
3
5
5
6
6
6
6
6
8
8
8
8
9
9
11
11


Giáo dục và Đào tạo

KN.

Kĩ năng

KX.

Kĩ xảo

HL.

Học lực

SGK.

Sách giáo khoa

HSG.

Học sinh giỏi

GV.

Giáo viên

HS.

Học sinh

hướng phương pháp tốt.
Lí luận dạy học chỉ rõ trong thực tiễn ở trường trung học cơ sở (THCS) có
nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau như xêmina, tham quan học tập, hoạt
động ngoài lớp đang được áp dụng rộng rãi. Trong đó hình thức lên lớp là hình
thức tổ chức dạy học cơ bản.
Quá trình dạy học lịch sử có bản chất là một quá trình nhận thức đặc thù.
Nhận thức của HS trong học tập lịch sử cũng giống như quá trình nhận thức các
môn học khác nói chung. Nhưng nét khác biệt trong nhận thức học tập lịch sử của
HS là xuất phát từ sự kiện, từ việc tri giác tài liệu, GV hướng dẫn cho HS tạo biểu
tượng, nắm được khái niệm lịch sử, từ đó rút ra quy luật, bài học kinh nghiệm của
quá khứ để HS vận dụng vào hoạt động thực tiễn.
Quan điểm chỉ đạo chuyên môn lại chỉ rõ trước hết GV phải xây dựng kế
hoạch dạy học toàn diện cho cả năm học, từng học kỳ, từng chương, từng bài. GV
lựa chọn kiến thức cơ bản, cần thiết mà HS phải nắm vững. Những kiến thức đó là
cơ sở để hình thành thế giới quan, giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức và phát
triển toàn diện HS.
Xuất phát từ lí luận dạy học, nội dung - kiến thức là một cơ sở để người thầy
hình thành phương pháp dạy học đúng, phù hợp.
Quan hệ quốc tế là một nội dung nằm trong hệ thống kiến thức lịch sử nhân
loại, “Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến nay” là một trong năm nội dung chính của
lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến nay nằm trong chương trình lịch sử thế
giới của môn lịch sử lớp 9. Trong thời đại ngày nay, các nước, các tổ chức trên thế
giới đều chú trọng đến tình hình thế giới, đến mối quan hệ giữa các nước với nhau.
Thông qua mối quan hệ quốc tế giúp các nước hiểu nhau, và các nước có đường
lối, chính sách đúng và phù hợp, có thể tạo nên sự phát triển cho đất nước.
3


Như vậy vị trí, vai trò của quan hệ quốc tế là rất cao, quan trọng không thể
thiếu trong thời hiện đại này và cho sự phát triển của mỗi nước. Việc giúp HS có

cả đối tượng là HSG trong nhận thức của các em còn coi Lịch sử là môn phụ, nên
ít để ý đến việc học tập bộ môn. Đây là một thực tế khá phổ biến với bộ môn lịch
sử.
Hiện nay khối lượng tri thức nhân loại luôn tăng theo cấp số nhân. Để tiếp
thu hệ thống kiến thức đó không phải là việc đơn giản. Thông thường thì người học
không nắm chắc chắn những vấn đề lớn, việc hiểu còn nông cạn.
Trong các đề kiểm tra ở các lớp đại trà, các kỳ thi HSG các cấp tôi thấy rằng
HS thường lúng túng, mất điểm khi gặp những nội dung lớn, mở rộng nâng cao.
Đa số HS cho rằng đó là vấn đề khó, nên việc trả lời các câu hỏi có nội dung lớn,
4


mở rộng nâng cao thường được các em làm một cách chiếu lệ, nên vừa mất thời
gian lại vừa mất điểm trong khi làm bài. Qua nhiều năm dạy học ở các lớp đại trà
và đội tuyển HSG cấp huyện, cấp tỉnh tôi luôn trăn trở và suy nghĩ mình phải làm
thế nào để HS yêu thích bộ môn và giải quyết được tất cả các vấn đề lớn, khó một
cách chủ động, tích cực. Điều đó đòi hỏi ở việc chuẩn bị công phu của thầy, trang
bị cho HS đầy đủ kiến thức, và cải tiến phương pháp giảng dạy cho các đối tượng
HS nói chung và HSG nói riêng, để các em luôn hứng thú, yêu thích, say mê học
tập. Trong các nội dung để dạy HSG lớp 9 tôi thấy nội dung “Quan hệ quốc tế từ
năm 1945 đến nay” có nhiều kiến thức dễ khai thác để giảng dạy đối tượng HSG,
giải quyết được những vấn đề mà tôi trăn trở ở trên.
Thực tiễn giảng dạy môn Lịch sử còn chưa tạo ra nhiều hứng thú học tập cho
HS. Nhiều nội dung của quan hệ quốc tế ngày nay rất gần gũi, quen thuộc và được
cập nhật hàng ngày trên các phương tiện thông tin, nên HS dễ tiếp thu, GV dễ tạo
nên hứng thú, say mê học tập bộ môn thông qua việc xây dựng và giảng dạy
chuyên đề này. Hơn nữa HS sẽ có được lượng kiến thức lớn, có khả năng lĩnh hội,
tiếp thu sâu rộng hơn lượng tri thức lớn của nhân loại. Chuyên đề “ Tổng hợp nội
dung, phương pháp dạy học chương IV : "Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến nay”
cho đối tượng HSG lớp 9" đã được tôi triển khai thực hiện tại đơn vị nhà trường

Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là: tất cả các nội dung về Quan hệ
quốc tế nằm trong chương trình SGK lớp 9, trong các tài liệu, phương tiện tham
khảo khác (có thể sử dụng) và các phương pháp dạy học phù hợp với các nội dung
đã được tổng hợp lựa chọn dạy cho đối tượng HSG.
GV dạy lịch sử và HSG đội tuyển lịch sử của huyện Vĩnh Tường.
4.2. Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy và học môn lịch sử cho đối tượng HSG lớp 9 của trường
THCS Vĩnh Tường và huyện Vĩnh Tường.
5. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi được tiến hành là bao gồm tất cả các nội dung, phương pháp tạo
nên hiệu quả cho bài học của chương IV: Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến nay,
được sử dụng để giảng dạy cho đối tượng HSG lớp 9.
Nghiên cứu được tiến hành trong 2 năm, bắt đầu từ tháng 11 năm 2013 đến
tháng 11 năm 2015.
6. Phương pháp nghiên cứu:
- Đọc, nghiên cứu tài liệu.
- Quan sát, điều tra thực tiễn.
- Dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp.
- Thực nghiệm khoa học.
- Phân tích, tổng hợp và tổng kết kinh nghiệm.
- Khảo sát, đối chiếu số liệu trước và sau khi áp dụng chuyên đề.
7. Ý nghĩa của chuyên đề:
Giúp cho GV ý thức được tầm quan trọng của việc dạy học và bồi dưỡng đội
tuyển HSG môn lịch sử. Từ đó quan tâm hơn nữa tới việc bồi dưỡng HSG bộ môn
góp phần nâng cao chất lượng môn học lịch sử.
Học sinh có hứng thú, say mê học tập, phát huy được tính tích cực, chủ động
sáng tạo của các em khi tham gia đội tuyển HSG lịch sử.
Chuyên đề đã cụ thể hóa được các nội dung và phương pháp dạy học
chương IV: "Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến nay" cho đối tượng HSG môn lịch
sử lớp 9, có thể sử dụng hoặc làm tài liệu tham khảo cho các GV trong giảng dạy

dục.
Vậy lịch sử là gì? Học lịch sử là học cái gì? Câu trả lời là: Lịch sử là toàn
bộ những gì đã xảy ra trong quá khứ của con người và xã hội loài người. Đó là
kiến thức - nội dung mà GV cần truyền thụ cho HS.
Theo quan niệm về hiểu biết của người thầy là: thầy biết mười dạy một, nên
về một kiến thức lịch sử nào đó người thầy phải nắm rõ, tường tận để truyền thụ
cho các đối tượng HS khác nhau.
Có nhiều nội dung dạy học khác nhau, rất ít nội dung có sự giống nhau. Vì
vậy phải xác định một cách rõ ràng kiến thức cơ bản truyền thụ cho HS, giúp cho
HS hiểu đúng quá trình phát triển của xã hội loài người và dân tộc.
2. Quan niệm về phương pháp dạy học.
Cho đến nay vẫn chưa có được một định nghĩa thống nhất. Có quan niệm
cho rằng “Phương pháp dạy học là những cách thức làm việc giữa thầy giáo và HS,
nhờ đó mà HS nắm vững được kiến thức, KN, kĩ xảo (KX), hình thành được thế
giới quan và năng lực”. Cũng có quan niệm cho rằng “ Phương pháp dạy-học là
những hình thức kết hợp hoạt động của giáo viên và HS hướng vào việc đạt một
mục đích nào đó ”. Nhìn chung, cách hiểu thứ nhất được nhiều người tán thành
nhưng cách hiểu về hai chữ “cách thức” lại rất khác nhau nên kết quả cũng có
nhiều hệ thống phương pháp khác nhau.
Khái niệm phương pháp với tư cách là một môn học thường được hiểu là bộ
môn chuyên nghiên cứu quá trình dạy – học một môn học nào đó, bao gồm việc
nghiên cứu đối tượng, nhiệm vụ, mục tiêu của môn học, các cơ sở khoa học, các
nguyên tắc của việc xây dựng chương trình môn học, những cách thức thiết kế và
tổ chức quá trình dạy học các đơn vị kiến thức của môn học (chẳng hạn phương
pháp dạy học văn học, phương pháp dạy học lịch sử)...
Khái niệm hình thức dạy - học được hiểu là những cách thức hiện thực hoá,
hành động hoá các phương pháp và thủ pháp dạy-học (Chẳng hạn hình thức diễn
giảng, đàm thoại, đọc giáo khoa,....
Giáo dục học nghiên cứu hệ thống phương pháp dạy học nói chung còn mỗi
môn học lại có một hệ thống phương pháp dạy học bộ môn riêng của mình được

HS như thi GV dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh môn lịch sử; thi HSG cấp huyện , tỉnh
đối với lớp 9 và thi giao lưu HSG lớp 8; thi vào lớp 10 phổ thông trung học
(PTTH) chuyên.
Ban giám hiệu các nhà trường luôn quan tâm tới việc bồi dưỡng HSG bộ
môn lịch sử.
Đa số GV được đào tạo đúng ban, nhiều GV có kinh nghiệm và phương
pháp giảng dạy tốt.
Một số HS thực sự yêu thích và say mê học môn lịch sử.
1.2.Khó khăn.
Hàng chục năm trước đây, GV vẫn dạy lịch sử theo phương pháp thuyết
trình và kết hợp đàm thoại, chủ yếu vẫn là thầy giảng trò nghe, ghi chép và học
9


thuộc, trong giờ học, thầy vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc truyền thụ kiến thức
còn HS tiếp thu bài một cách thụ động, chứ chưa biết phương pháp tự học, tự suy
nghĩ. Vì vậy nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ IV đã chỉ rõ: “Phải xác định lại
mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch nội dung, phương pháp giáo dục và
đào tạo...” và Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (2/1997) đã
nhấn mạnh “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD & ĐT, khắc phục lối truyền thụ
một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học ... đảm bảo thời gian
tự học, tự nghiên cứu cho HS”.
Trong nhiều năm qua do những điều kiện khách quan và chủ quan mà chất
lượng giảng dạy và học tập bộ môn lịch sử có biểu hiện giảm sút, thực tế nhiều HS
không ham học môn lịch sử, nắm và hiểu lịch sử một cách rất mơ hồ, kiến thức rời
rạc, không biết rút ra mối liên hệ, tính quy luật phát triển của lịch sử, thậm chí
những em học lớp 9, chỉ năm nào thi tốt nghiệp hoặc em nào tham gia dự thi HSG
bộ môn lịch sử ở cấp THCS hay em nào thi khối C ở cấp PTTH các em mới học
lịch sử. Tình trạng “mù lịch sử” hiện nay ở không ít HS phổ thông là hiện tượng
phổ biến.

là ít so với số lớp của trường THCS Vĩnh Tường là 24 lớp. GV vừa dạy đội tuyển
Sử vừa phải dạy 18 - 19 tiết chính khoá.
Vì số lượng HS trường THCS Vĩnh Tường tham gia đội tuyển môn Lịch sử
ít, nên đội tuyển chủ yếu là HS từ các trường THCS trong huyện gửi lên trường
THCS Vĩnh Tường do phòng GD&ĐT triệu tập. Thế nhưng, các HS được gọi lên
học cũng không lên hết, một số HS lên học thường hay nghỉ học, lười học bài,
được ít buổi học rồi bỏ... nên sĩ số HS đội tuyển cũng không đảm bảo.
Như vậy, việc bồi dưỡng đội tuyển HSG môn lịch sử ở trường THCS Vĩnh
Tường nói riêng và của huyện Vĩnh Tường nói chung thuận lợi là cơ bản nhưng
khó khăn cũng rất lớn.
2. Khảo sát thực trạng.
Trước khi thực hiện chuyên đề này tôi đã yêu cầu HS làm một bài khảo sát.
Kết quả thu được như sau:
Năm học

Tổng số HS Điểm từ Điểm từ Điểm từ Điểm từ Điểm từ

2012-2013

22

0-
Tổng
giải

Ghi chú

2012-2013

22

3

5

4

10

22

Năm chưa thực
hiện chuyên đề

Kết quả khảo sát và kết quả thi HSG năm học 2012 – 2013 cho thấy Số HS
bị điểm dưới 5 còn nhiều. Số HS đạt điểm 8,9,10 ít. Tỉ lệ HS đạt giải Nhất, Nhì
chưa cao. Điêù đó chứng tỏ chất lượng đội tuyển HSG lịch sử thấp. Nguyên nhân
của thực trạng này có rất nhiều nhưng tập trung ở một số nguyên nhân cơ bản sau:
3. Nguyên nhân.
3.1.Về phía GV:
Một số GV chưa thật sự tâm huyết với nghề, chưa quan tâm tới chất lượng
giờ dạy, ít dành thời gian để nghiên cứu và dạy kiến thức nâng cao cho đối tượng

đông châu Âu (Đông Âu); vùng Tây nước Đức và Tây Âu thuộc phạm vi ảnh
hưởng của Mĩ, Anh.
- Ở châu Á: duy trì nguyên trạng Mông Cổ, trả lại cho Liên Xô phía nam đảo
Xa-kha-lin; trao trả cho Trung Quốc những đất đai bị Nhật chiếm đóng trước đây
(Đài Loan, Mãn Châu..); thành lập Chính phủ liên hiệp dân tộc gồm Quốc dân
đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc.
13


+ Triều Tiên được công nhận là một quốc gia độc lập, tạm thời quân đội
Liên Xô và Mĩ chia nhau kiểm soát và đóng quân ở Bắc và Nam vĩ tuyến 38.
+ Các vùng còn lại ở châu Á (Đông Nam Á, Nam Á...) vẫn thuộc phạm vi
ảnh hưởng của các nước phương Tây.
Minh họa:

* Hệ quả: Tất cả những thỏa thuận trên đã trở thành khuôn khổ của một trật tự thế
giới mới, mà lịch sử gọi là Trật tự 2 cực I-an-ta do Liên Xô- Mĩ đứng đầu mỗi cực.
II-SỰ THÀNH LẬP LIÊN HỢP QUỐC
* Hoàn cảnh ra đời:
- Tại Hội nghị I-an-ta (2-1945), còn có một quyết định quan trọng khác là
thành lập một tổ chức quốc tế mới là Liên hợp quốc.
Minh họa:

14


* Nhiệm vụ chính của Liên hợp quốc:
- Duy trì hoà bình, an ninh thế giới.
- Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng độc
lập chủ quyền của các dân tộc.

Minh họa:

CHẠY
ĐUA VŨ
TRANG

Bom A (bom hạt nhân). Năm 1945, Mĩ thử bom trên đất Nhật. Năm 1949,
Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử.
16


* Hậu quả:
- "Chiến tranh lạnh đã mang lại những hậu quả hết sức nặng nề.
- Thế giới luôn căng thẳng, có lúc còn đứng trước nguy cơ bùng nổ một cuộc
chiến tranh thế giới mới.
- Các cường quốc đã chi một khối lượng khổng lồ về tiền của và sức người
để sản xuất các lợi vũ khí hủy diệt, xây dựng hàng nghìn căn cứ quân sự.
IV- THẾ GIỚI SAU CHIẾN TRANH LẠNH.
* Sự chấm dứt “chiến tranh lạnh” :
- Liên Xô và Mĩ chạy đua vũ trang trong suốt 40 năm quá tốn kém.
- Do đó, tháng 12-1989, Tổng thống Mĩ Goóc-giơ Bus (cha) và Tổng Bí thư
đảng cộng sản Liên Xô Gooc-ba-chốp đã cùng nhau tuyên bố chấm dứt chiến
tranh lạnh.
Minh họa:

Tổng thống Mĩ Goóc-giơ Bus (cha) và Tổng Bí thư đảng cộng sản
Liên Xô Gooc-ba-chốp tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh (12-1989).
* Từ đó, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển và diễn ra theo các xu
hướng sau:
- Một là, xu thế hoà hoãn hoà dịu trong quan hệ quốc tế.

biên giới lãnh thổ. Ở nhiều nơi, các cuộc xung đột diễn ra nghiêm trọng, kéo dài
làm cho đất nước không ổn định, người dân khổ cực.
Minh họa:

Khủng bố ngày 11-9-2001 ở Mỹ
* Xu thế chung của thế giới ngày nay là: Hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển
kinh tế. Đây vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với các dân tộc khi bước vào thế
kỉ XXI, trong đó có Việt Nam.
Minh họa: xu thế chung của thế giới ngày nay:

2. Kiến thức mở rộng, nâng cao:
Kiến thức này có trong các tài liệu tham khảo.
2.1. Những khái niệm, thuật ngữ cơ bản trong bài:
- Hội nghị I-an-ta: Hay còn gọi là Hội nghị tam cường, gồm Liên Xô, Anh,
Mỹ họp tại I-an-ta (Liên Xô) từ ngày 4 đến 11-2-1945 nhằm phân chia thành quả
19


thắng lợi chiến tranh giữa các lực lượng tham chiến, có liên quan đến hòa bình, an
ninh và trật tự thế giới. Những thỏa thuận ở Hội nghị đã trở thành nguyên tắc hình
thành "Trật tự thế giới mới" thường gọi là "Trật tự hai cực I-an-ta". (Mỗi cực đứng
đầu là Liên Xô và Mỹ)
- "Chiến tranh lạnh": Thuật ngữ do Barút, tác giả kế hoạch nguyên tử lực của
Mỹ ở Liên Hợp Quốc đặt ra, xuất hiện lần đầu tiên trên báo Mỹ ngày 26-7-1947.
Đó là "chiến tranh không nổ súng" nhưng luôn gây ra tình trạng căng thẳng trên
thế giới từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, để thực hiện chính sách "đối đầu" của
các nước đế quốc đối với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Các nước đế quốc
đã thi hành hàng loạt các biện pháp như chạy đua vũ trang, tăng cường ngân sách
quốc phòng, lập các liên minh quân sự, bao vây để "ngăn chặn" rồi "tiêu diệt" các
nước xã hội chủ nghĩa. Cuối những năm 80 của thế kỉ XX, người đứng đầu hai

- Góp phần giải quyết các vụ tranh chấp, xung đột khu vực.
- Phát triển các mối quan hệ, giao lưu.
20


- Vận động bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa, lịch sử; cảnh báo loài
người.
* Việt Nam tham gia Liên hợp quốc vào ngày 20-9-1977, là thành viên thứ
149.
2.4. Mục III- “CHIẾN TRANH LẠNH”
* Hoàn cảnh lịch sử:
- Vào tháng 3-1947, Tổng thống Mĩ Tơruman chính thức phát động “Chiến
tranh lạnh” nhằm chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, chống phong
trào giải phóng dân tộc nhằm đi đến thực hiện "chiến lược toàn cầu" phản cách
mạng của Mĩ.
* Thời gian: Chiến tranh lạnh diễn ra từ năm 1945 đến tháng 12-1989.
* Biểu hiện (diễn biến):
- Các khối quân sự và căn cứ quân sự khắp nơi trên thế giới của Mĩ: NATO
(ở châu Âu), SEATO (Đông Nam Á), CENTO (Trung Cận Đông), ANJUS (Nam
Thái Bình Dương), khối quân sự Tây bán cầu, Liên minh Mĩ-Nhật…
- Mĩ và phương Tây còn chuẩn bị phát động “chiến tranh tổng lực” nhằm
tiêu diệt Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa: phát động hàng chục cuộc chiến
tranh lớn nhỏ dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm chống lại cách mạng thế giới,
như: chống các nước Đông Dương 1954-1975,can thiệp vũ trang vào Grênađa 1983, Panama - 1990, sử dụng Ixraen trong việc gây chiến tranh Trung Đông 1948.
- Bao vây kinh tế, cô lập về chính trị, đảo chính, lật đổ, chống các nước
XHCN.
- Cuộc “ Chiến tranh lạnh” đã dẫn tới chạy đua vũ trang, gây ra tình trạng
đối đầu giữa hai khối quân sự NATO và VACSAVA làm cho quan hệ quốc tế luôn
căng thẳng.
* Hậu quả:

- Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNDP viện trợ khoảng 270 triệu
USD; quĩ nhi đồng LHQ UNICEF giúp khoảng 300 triệu USD, quĩ dân số thế giới
UNFPA giúp 86 triệu USD, tổ chức nông lương thế giới FAO giúp 76,7 triệu
USD…
Ngoài ra một số tổ chức như WHO (tổ chức y tế thế giới), WWF (tổ chức
động vật hoang dã thế giới)… cũng hoạt động tích cực tại Việt Nam.
Minh họa:

UNICEF PHÒNG CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO TRẺ EM

UNICEF TẶNG QUÀ HỌC SINH KHÓ KHĂN

2.9. Kể tên một số tổ chức Liên hợp quốc đang có mặt tại Việt Nam:
- Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNDP.
- Quĩ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF).
- Quĩ dân số thế giới (UNFPA) .
- Tổ chức nông lương thế giới (FAO).
- Tổ chức y tế thế giới (WHO).
- Tổ chức động vật hoang dã thế giới (WWF).
- Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF).
- Ngân hàng quốc tế về tái thiết và phát triển (IBRD).
22


2.10. Bộ máy của Liên hợp quốc:
- Đại hội đồng: Gồm tất cả các thành viên, mỗi năm họp 1 lần.
- Hội đồng bảo an: Gồm 5 thành viên là Mĩ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung
Quốc. Chịu trách nhiệm duy trì hòa bình và an ninh thế giới.
- Ban thư kí: Đứng đầu là tổng thư kí (nhiệm kì 5 năm).
- Các cơ quan khác: Hội đồng kinh tế và xã hội, tòa án quốc tế, hội đồng

- Từ những lí do đó, Xô – Mĩ đã chấm dứt “chiến tranh lạnh”.
2.14. Một số sự kiện gần đây:
- Năm 1996, Việt Nam tham gia Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM), gồm 38
thành viên (13 nước châu Á và 25 nước châu Âu).
- Tháng 11/1998, Việt Nam gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái
Bình Dương (APEC). Tổ chức này thành lập năm 1989, hiện có 21 nền kinh tế
thành viên ở châu Á, châu Mĩ và châu Đại Dương.
- Ngày 07/11/2006, Việt Nam được kết nạp vào tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), và ngày 11/01/2007 trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này.
23


- Ngày 16/10/2007, tại khóa họp thứ 62 của Đại hội đồng LHQ, Việt Nam
được đại đa số các nước thành viên bầu làm ủy viên không thường trực Hội đồng
bảo an nhiệm kì 2008-2009.
- Năm 2012, Liên hợp quốc có 193 nước thành viên.
- Ngày 12/11/2013 Việt Nam được bầu vào Hội đồng nhân quyền LHQ
(2014-2016) - Cơ quan liên chính phủ quan trọng nhất trong vấn đề quyền con
người - mở ra một trang mới về uy tín và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam.
Minh họa:

Ngày 16-10-2007 Việt Nam chính thức trở thành thành
viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc.

Đoàn Việt Nam được bạn bè quốc tế chúc mừng ngay sau khi trúng cử làm
thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc hôm 12-11-2013.
3. Hệ thống các bài tập cụ thể và lời giải minh họa cho chuyên đề.
3.1. Hệ thống các dạng bài tập đặc trưng của chuyên đề.
Có hai dạng bài tập để HS làm khi học chuyên đề là:
3.1.1. Bài tập trắc nghiệm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status