Điểm mới của BLTTHS 2015 nhằm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội - Pdf 35

Điểm mới của BLTTHS 2015 nhằm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội

A. LỜI MỞ ĐẦU
Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả tước đoạt, nó hiện hữu
trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vực tố tụng hình sự. trong
khuôn khổ của tố tụng hình sự, quyền này không phổ biến, không rộng lớn,
không diễn ra hàng ngày hàng giờ như các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi
trường,… nhưng có thể nói đây là quyền dễ bị xâm phạm và bị tổn thương nhất
và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được
sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân. Bởi mức độ ảnh
hưởng của vấn đề này là rất lớn nên đặt ra một yêu cầu cấp thiết trong quá trình
xây dựng bộ luật tố tụng hình sự phải xem xét thật kĩ lưỡng và chú trọng hơn
nữa để không vi phạm vào quyền con người của các cá nhân khi tham gia vào
hoạt động tố tụng hình sự nhất là các cá nhân là người bị buộc tội, bởi một khi
có sự vi phạm về quyền con người xảy ra trong quá trình tố tụng thì đây là nhóm
đối tượng bị tác động nặng nề nhất, thậm chí họ có thể bị tước đi quyền được
sống. Thấy được sự cần thiết phải vấn đề, bộ luật tố tụng hình sự 2015 ra đời đã
có những điểm mới, sửa đổi, bổ sung tiến bộ hơn so với bộ luật tố tụng hình sự
2003 nhằm đảm bảo hơn quyền con người của các cá nhân tham gia tố tụng nhất
là các cá nhân là người bị buộc tội được chú trọng hơn rất nhiều.
Để nhìn nhận một cách chi tiết hơn những điểm mới, điểm tiến bộ trong
các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự mà BLTHS 2015 so với BLTTHS 2003,
nhóm 4 sẽ nêu một cách cụ thể nhất về sự thay đổi này thông qua đề tài “Điểm
mới của BLTTHS 2015 nhằm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội”.
Ở phần bài viết này, nhóm sử dụng phương pháp phân tích luật kết hợp với
phương pháp so sánh đối chiếu để tìm ra những điểm mới, điểm tiến bộ trong
quy định của BLTTHS 2015 so với BLTTHS 2003 nhằm giải quyết tốt nhất vấn
đề đặt ra.

1


nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Mọi công
dân có quyền có nơi ở hợp pháp, có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và việc
khám xét chỗ ở do luật định; có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có
quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định pháp luật; có
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng,
tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ
2


Điểm mới của BLTTHS 2015 nhằm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội

quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố
cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục
hồi danh dự theo quy định của pháp luật. Người bị buộc tội phải được Tòa án
xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai và được coi là
không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án
kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam,
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người
khác bào chữa cho mình.
Quyền sở hữu tư nhân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu
sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ
chức kinh tế khác và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ. Trường hợp thật cần
thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp,
phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài
sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước
giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được
chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của
luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ. Mọi người có quyền tự do kinh

dân” thành từ “cá nhân”, điều này giúp cho những cá nhân không phải là công
dân cũng được hưởng đầy đủ những quyền này. Sự đổi mới về quyền con người
được thể hiện ngay trong nguyên tắc cơ bản của BLTTHS, khẳng định sự cần
thiết phải chú trọng nhằm bảo đảm quyền con người được thực thi hiệu quả.
Có thể khái quát những điểm mới ấy thông qua các nhóm quyền cụ thể sau:
1. Quyền được đối xử bình đẳng:
Quyền này được quy định cụ thể tại Hiến pháp 2013 như sau:
-

Điều 16 quy định: 1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; 2. không ai bị
phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội
Khoản 1, Điều 26 quy định: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước
có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.
Dựa trên những quy định này, BLTTHS 2015 ra đời đã khắc phục những
thiếu sót của BLTTHS 2003 để hợp hiến, điều đó thể hiện:
a. Bình đẳng trước pháp luật.
Theo điều 5 BLTTHS 2003 thì “Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc
mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ,
tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm
tội đều bị xử lý theo pháp luật.”, theo đó tất cả công dân đều bình đẳng và như
nhau khi đứng trước pháp luật. Song, nếu theo như quy định này thì ta cần làm
rõ ở đây hai vấn đề:

-

Thứ nhất: công dân ở đây là gồm những ai? Là công dân Việt Nam hay bao gồm
cả công dân Việt Nam và công dân nước ngoài?
Thứ hai: nếu theo như quy định trên thì trường hợp người không quốc tịch họ có
được bình đẳng trước pháp luật như những “công dân” hay không? Nếu có, thì
tại sao pháp luật lại không liệt kê họ và nếu không có thì họ sẽ được hưởng

Ngoài ra, việc quy định sự bình đẳng không phân biệt giới tính thể hiện cái nhìn
rất mới trong tư tưởng của các nhà làm luật, phù hợp với xu thế hiện nay. Đồng
thời, nó cũng có tác động mạnh mẽ đến những người có giới tính thứ ba, hay
những người chuyển giới củng cố niềm tin vào nền pháp luật Việt Nam.
b. Bình đẳng trong tranh tụng trong xét xử
Đây là một điểm mới của BLTTHS 2015 mà ở trong BLTTHS 2003 chưa
có quy định. Theo đó, quyền này được quy định như sau: “Trong quá trình khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, người bị buộc tội có quyền bình đẳng trong việc đưa
ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan
của vụ án.”
Nếu theo luật cũ thì việc đưa ra và đánh giá chứng cứ chỉ thuộc thẩm quyền
của người bào chữa và các cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng bây giờ quyền này
còn được trao cho người bị buộc tội. Đây là một quyền quan trong dành cho
người bị buộc tội. Nó đảm bảo cho người bị buộc tôi được đưa ra những chứng
cứ nhằm bảo vệ cho bản thân đồng thời nói lên ý kiến đánh giá của mình về các
chứng cứ khác tại phiên tòa. Và tất cả những chứng cứ và đánh giá của người bị
buộc tội cũng được coi là một trong những căn cứ để Tòa án có thể đưa ra phán
quyết cuối cùng. Quy định này thể hiện được sự khách quan trong quá trình
5


Điểm mới của BLTTHS 2015 nhằm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội

tranh tụng, đảm bảo sự công bằng cho người bị buộc tội, giúp họ có thể được
giảm nhẹ tội danh hay chứng minh sự trong sạch của mình. Đồng thời, việc để
người bị buộc tội đưa ra đánh giá về các chứng cứ có thể hạn chế được trường
hợp có người ngụy tạo chứng cứ để nhằm buộc tội người bị buộc tội.
2. Quyền được sống của người bị buộc tội.
Quyền được sống của cá nhân được quy định tại Điều 19, Hiến pháp
2013: Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ.

trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định.
6


Điểm mới của BLTTHS 2015 nhằm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội
-

-

Khoản 1, Điều 21, Hiến pháp 2013: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về
đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự,
uy tín của mình.
Khoản 2, khoản 3, Điều 22, Hiến pháp 2013: Mọi người có quyền bất khả xâm
phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được
người đó đồng ý (khoản 2); Việc khám xét chỗ ở do luật định (khoản 3).
a. Bất khả xâm phạm về thân thể.
Đây là quyền thiêng liêng của con người không có bất cứ một ai có quyền
xâm phạm .Theo quy định tại điều 6 BLTTHS 2003, pháp luật nghiêm cấm mọi
hình thức truy bức, nhục hình.Và đến khi BLTTHS 2015 ra đời, nó đã kế thừa
và phát triển điều luật này.Đồng thời nó đề cao tầm quan trọng của quyền này
bằng việc khẳng định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể” điều 10, BLTTHS 2015.
Ngoài ra, tại điều 10 BLTTHS 2015 còn quy định: “Nghiêm cấm tra tấn,
bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân
thể, tính mạng, sức khỏe của con người.”. Việc quy định này thể hiện sự tôn
trọng của pháp luật đối với quyền thiêng liêng này của con người. Không chỉ có
bức cung, nhục hình mới bị nghiêm cấm mà bất kỳ hình thức đối xử nào mà nó
xâm phạm đến tính mạng sức khỏe của con người đều bị pháp luật cấm và trừng
trị nghiêm minh.Đảm bảo cho người bị buộc tội sẽ không bị bất cứ sự đe dọa
nào trong quá trình tham gia tố tụng gây ảnh hưởng đến sự chính xác, minh bạch
trong lời khai của mình.

hợp bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứ xác định việc
điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết.”
Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của bị can thông qua việc tham gia, kiểm
sát của Viện kiểm sát trong quá trình hỏi cung.
Khoản 6, Điều 183, BLTTHS 2015: “Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam
giữ hoặc tại trụ sở cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm
thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng.”
Những quy định này được thêm vào BLTTHS 2015 nhằm để tạo sự công
khai, khách quan và minh bạch hơn trong quá trình hỏi cung người bị buộc tội.
Bảo vệ quyền và lợi ích cho họ và tránh trường hợp cơ quan điều tra dùng bức
cung và dùng nhục hình.Đồng thời bảo vệ người hỏi cung bị vu cáo.
Thực tiễn cho thấy, việc bức cung xảy ra rất nhiều đó cũng chính là nguyên
nhân của hàng loạt vụ oan sai ở Việt Nam. Điển hình làvụ án oan sai đối với ông
Nguyễn Thanh Chấn, ông đã bị ép cung bởi 6 điều tra viên. Ông bị điều tra viên
tay cầm dao, lăm lăm đe doạ, bị dùng dép đánh vào 2 mang tai… để bắt ông
phải nhận tội.
Vì quá trình lấy lời khai là khép kín, không có sự giám sát bởi cơ quan có
thẩm quyền, người được nhà nước trao quyền hay các công cụ thông tin ghi âm,
ghi hình nên đã khiến cho việc hỏi cung không được diễn ra một cách minh
8


Điểm mới của BLTTHS 2015 nhằm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội

bạch. Đẫn đến tình trạng vì một số lý do nào đó mà những người được nhà nước
giao nhiệm vụ hỏi cung đã lạm dụng quyền lực bắt người bị buộc tội phải đưa ra
những lời khai không chính xác, nhận tội về bản thân trong khi bản thân họ lại

quyền bào chữa để họ có thể tự mình hay nhờ người khác bào chữa cho mình để
minh oan, bảo vệ sự trong sạch của mình hay giúp bản thân giảm bớt khung hình
9


Điểm mới của BLTTHS 2015 nhằm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội

phạt do hành vi của mình gây ra. Dù đây là quyền lợi họ được pháp luật cho
phép nhưng họ có thể lựa chọn sử dụng quyền này hoặc là không nếu trong
trường hợp họ xét thấy là không cần thiết.
Tuy vậy, trong một số trường hợp đặc biệt dù họ không có yêu cầu nhưng
cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ định người bào chữa cho họ. Quy định này
nhằm bảo đảm quyền được bào chữa của họ, đảm bảo sự bình đẳng giữa họ và
những người tham gia tố tụng dân sự khác. Điều này được quy định tại khoản 2
Điều 57 BLTTHS 2003 và được BLTTHS 2015 kế thừa và bổ sung thêm quy
định tại Điều 76 với nội dung:
“Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc
người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
-

Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình
phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;

-

Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người
có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi”
So với BLTTHS 2003 thì ở BLTTHS 2015 đã bổ sung thêm hai trường hợp
người bị buộc tội được chỉ định người bào chữa đó là đó là trường hợp “ Bị can,

léo trong quá trình hỏi cung, xét xử vụ án để có thể vừa giải quyết được vụ án
vừa không để ảnh hưởng đến sự phát triển, tâm sinh lý sau này của những người
phạm tội dưới 18 tuổi.
b. Quy định trong vấn đề xác định tuổi
Trong thực tế, không phải lúc nào cũng có thể xác định được tuổi của
những người bị buộc tội. Có nhiều trường hợp những người bị buộc tội bị mất
giấy tờ tùy thân và họ không thể biết hay không biết được ngày tháng năm sinh
của mình. Mà trong các vụ án có người buộc tội dưới 18 tuổi thì việc xác định
tuổi là một khâu vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến phán quyết cuối
cùng của hội đồng xét xử. Tuy nhiên ở BLTTHS 2003 có đề cập tới vấn đề này
nhưng nó lại k quy định phương thức xác định tuổi của người bị buộc tội dưới
18 tuổi. Khắc phục hạn chế của BLTTHS 2003, ở BLTTHS 2015 thì việc xác
định tuổi của người bị buộc tội đã được pháp luật quy định tại Điều 417: “Việc
xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi do cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định pháp luật; Trường
hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định
tuổi”.
Ta thấy, với cách xác định tuổi này thì pháp luật luôn bảo đảm điều kiện có
lợi nhất cho người bị buộc tội dưới 18 tuổi. đảm bảo người bị buộc tội luôn được
hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và chịu mức hình phạt nhẹ nhất.
c. Quyền bào chữa của người bị buộc tội dưới 18 tuổi.
Căn cứ Khoản 1 Điều 422 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ
người khác bào chữa.

11


Điểm mới của BLTTHS 2015 nhằm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội


công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc
tuyên án phải được công khai.
Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.
Dựa trên tinh thần của HP 2013, BLTTHS 2015 đã bổ sung những quy
định mới phù hợp nhằm bảo đảm quyền con người của ngươi bị buộc tội được
thực thi một cách tối ưu nhất, hạn chế tối đa sự xâm phạm có thể xảy ra.
a. Suy đoán vô tội.
12


Điểm mới của BLTTHS 2015 nhằm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội

Tại điều 13, BLTTHS 2015: “Người bị buộc tội được coi là không có tội
cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và
có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Khi không đủ và không
thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này
quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người
bị buộc tội không có tội”. Quy định này được làm rõ hơn so với BLTTHS 2003
Thể hiện sự tiến bộ và nhận đạo đề cao hơn nữa quyền con người, khắc phục
định kiến với người bị buộc tội, tạo điều kiện cho người bị buộc tội thực hiện
quyền bào chữa , cơ sở để thực hiện đúng đắn khách quan các hành vi tố tụng,
ngăn ngừa khả năng tiên liệu trước trong tố tụng hình sự.
b. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.
Điều 14, BLTTHS 2015: “ Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối
với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật,
trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật hình
sự quy định là tội phạm”.
Đây là quy định hoàn toàn mới, đảm bảo việc thực thi quy đinh tại khoản 3
điều 31 HP 2013 “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” đảm bảo sự công
bằng về mặt pháp lý đối với người bị buộc tội, người pham tội chỉ chịu trách

thiện hơn nữa.

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status